Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi trong gia đình hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

NGUYỄN ĐOAN TRANG GI¸O DôC HµNH VI §¹O §øC CHO TRÎ
Tõ 6 §ÕN 11 TUæI TRONG GIA §×NH HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Lê Thị Thanh Hƣơng Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn tới:
Cô giáo hướng dẫn khoa học, PGS.TS.Lê Thị Thanh Hương, người đã
tận tình chỉ bảo, góp ý và cho tôi những gợi ý hết sức quý báu trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Các Thầy/Cô giáo trong và ngoài khoa Tâm lý học, Trường Đại học
KHXH&NV, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dìu dắt tôi trong suốt thời gian
vừa qua.
Cuối cùng là gia đình, bạn bè, những người đã tạo điều kiện, động viên,
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.

Nguyễn Đoan Trang
LỜI CAM ĐOAN

Hành vi đạo đức
GDHVĐĐ
Giáo dục hành vi đạo đức
XH
Xã hội
SL
Số lượng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 4
1.1. Những nghiên cứu về vấn đề giáo dục hành vi đạo đức 4
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài 10
1.2.1. Đạo đức 10
1.2.2. Hành vi đạo đức 13
1.2.3. Giáo dục hành vi đạo đức 18
1.3. Gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ 23
1.4. Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 6 – 11 tuổi 26
1.5. Biện pháp giáo dục hành vi đạo đức trong gia đình cho trẻ 6 – 11 tuổi 29
1.6. Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức thường được sử dụng
trong gia đình hiện nay 32
1.7. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho
trẻ từ 6-11 tuổi trong gia đình hiện nay 36
Chƣơng 2. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Tổ chức nghiên cứu 39
2.1.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 39
2.1.2. Các giai đoạn tổ chức nghiên cứu 39
2.1.3. Mẫu nghiên cứu 40
2.2. Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu và văn bản 41
2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 41

hành vi đạo đức cho trẻ 75
3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ
trong gia đình hiện nay. 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1. Kết luận 81
2. Kiến nghị 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1. Phân bố tuổi và giới của khách thể nghiên cứu (học sinh) 40
Bảng 2. Phân bố tuổi, giới, trình độ học thức của phụ huynh 41
Bảng 1: So sánh giữa hai yếu tố đánh giá tầm quan trọng và tự đánh giá
mức độ giáo dục hành vi đạo đức trong chính gia đình. 47
Bảng 2: Vai trò của các thành viên trong gia đình đối với việc giáo dục
HVĐĐ cho con cái 48
Bảng 3: Hành vi đạo đức của trẻ trong mối quan hệ với gia đình. 50
Bảng 4: So sánh mức độ đánh giá thực hiện những hành vi của trẻ trong
mối quan hệ trong gia đình giữa nam và nữ 51
Bảng 5: Những hành vi của trẻ trong mối quan hệ, thầy cô 52
và những người xung quanh 52
Bảng 6: So sánh mức độ đánh giá thực hiện những hành vi của trẻ trong
mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh giữa
nam và nữ 54
Bảng 7: Thực trạng về việc thực hiện hành vi đạo đức của trẻ trong học tập 55
Bảng 8: So sánh mức độ đánh giá thực hiện những hành vi của trẻ trong
học tập giữa nam và nữ 56
Bảng 9: Thực trạng về thực hiện hành vi của trẻ trong mối quan hệ với môi
trường xung quanh. 57
Bảng 10: So sánh mức độ đánh giá thực hiện những hành vi của trẻ trong

Biểu đồ 2: Thực trạng tự đánh giá kết quả giáo dục hành vi đạo đức trong
gia đình 46
Biểu đồ 3: So sánh ĐTB việc thực hiện HVĐĐ của trẻ trong các mối quan
hệ khác nhau 59
Biểu đồ 4: So sánh đánh giá của con với đánh giá của cha mẹ trong việc sử
dụng biện pháp khen thưởng 65
Biểu đồ 5: So sánh đánh giá của cha mẹ và con cái trong việc cha mẹ sử
dụng biện pháp trách phạt 68
Biểu đồ 6: So sánh điểm trung bình về mức độ nhận xét và đánh giá giữa
phụ huynh và học sinh về giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ trong
gia đình 74
Biểu đồ 7: so sánh việc cha mẹ sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi đạo
đức cho trẻ 76 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển và đi lên của xã hội, mỗi chúng ta được
sống trong môi trường văn minh, hiện đại hơn, nhưng kéo theo đó cũng có nhiều
vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống xã hội. Một trong những
vấn đề đáng lo ngại hiện nay là hành vi đạo đức của một bộ phận giới trẻ đang bị
xuống cấp, dẫn đến tình trạng bạo lực học đường, những vụ án nghiêm trọng,
những hành vi gian lận ở nhiều góc độ… xảy ra ngày càng phổ biến. Đây là
những biểu hiện lệch lạc trong hành vi, nhân cách đạo đức học sinh. Điều này
không những gây hoang mang cho dư luận xã hội mà còn gióng lên hồi chuông
cảnh báo về lối sống đạo đức, nhân cách của giới trẻ ngày nay.
Xã hội Việt Nam rất quan tâm giáo dục đạo đức cho trẻ nhằm bồi
dưỡng thế hệ kế cận vừa tài vừa đức, để các em trưởng thành và trở thành
người có ích cho xã hội. Nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục luôn là

điểm tâm lý bên trong của con người và xem xét các tác động đó ảnh hưởng
như thế nào đến sự hình thành vi đạo đức cho trẻ nhỏ nói riêng, hình thành và
phát triển nhân cách nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng việc cha mẹ sử
dụng các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đình
hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Thực trạng việc cha mẹ sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức
cho trẻ (từ 6-11tuổi) trong gia đình hiện nay.
4. Khách thể nghiên cứu
Trẻ từ 6-11 tuổi và các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi 6-11 tuổi thuộc
khu vực thành phố Tuyên Quang.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, phần lớn các bậc cha mẹ có sự nhận thức đúng đắn đối với việc
giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ trong gia đình nhưng trên thực tế việc làm này
chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn. Việc sử dụng các biện pháp giáo

3
dục HVĐĐ cho trẻ trong nhiều gia đình chỉ đạt ở mức trung bình và chưa thực sự
biết kết hợp, phát huy hiệu quả của các biện pháp giáo dục HVĐĐ cho trẻ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những quan điểm về quá trình hình thành hành vi đạo đức cho
trẻ và giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ trong gia đình; xác định rõ mội số khái
niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho
việc nghiên cứu.
6.2. Nghiên cứu thực trạng
Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ (từ 6 - 11 tuổi)
trong gia đình hiện nay.

- 1990), J. Piaget (1896 - 1980)…
Quan điểm về đạo đức, HVĐĐ của Khổng Tử [32.130] bao gồm rất nhiều
mặt như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… nhưng trong đó quan trọng hơn là “nhân”.
Nhân một mặt là thương con người, “điều mà mình không muốn thì đừng làm cho
người khác”, trái lại “mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn
thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt”. Đồng thời đối với bản thân thì phải
“kiềm chế mình làm đúng theo lễ, không hợp với lễ thì không làm”.
L. S. Vưgotxky [36.193] cho rằng, con người khi sinh ra đã có tính xã hội.
Theo ông, giáo dục hành vi cho trẻ phải nhìn nhận và đặt trong các mối quan hệ
với cộng đồng, để cộng đồng tiếp nhận và điều chỉnh hành vi đó dưới sự quan sát
của người lớn. Qua đây ta thấy, giáo dục HVĐĐ được Vưgotxky thể hiện rõ qua
việc nghiên cứu hành vi của trẻ và sự bộc lộ hành vi đó trong môi trường văn
hóa – xã hội.
Theo J. Locker, cần phải giáo dục HVĐĐ cho con người từ rất sớm, ông
cho rằng đạo đức hay HVĐĐ được xác lập trên các ứng xử hàng ngày với cộng
đồng và cần phải cho trẻ tập dượt ngay trong gia đình. [36]
Trong các nghiên cứu những vấn đề lí luận của giáo dục đạo đức, trong đó
có giáo dục HVĐĐ cho học sinh được thể hiện qua các tài liệu, giáo trình, T. A.
Ilina, N.S. Savin đã chỉ ra việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giáo dục
lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể dục… Những hành vi tích cực sau quá
trình giáo dục này đều hướng vào cộng đồng, xây dựng đất nước. Các tác giả cho
rằng GDĐĐ là một hoạt động chuyên biệt, có mục đích của người giáo dục nhằm

5
xây dựng cho học sinh những nét tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em
những tiêu chuẩn và những quy tắc quy định thái độ, hành vi của các em đối với
nhau, đối với gia đình, với người khác, với nhà nước và Tổ quốc [37]. Ông chỉ ra,
HVĐĐ của con người dựa trên động cơ kích thích bên trong. Các tác giả khẳng
định “thường một người chưa có động cơ kích thích bên trong cần thiết để thực
hiện những hành vi, cử chỉ xấu vì sợ dư luận, bạn bè chê trách”. Như vậy, cần giáo

cũng là một giai đoạn rất khó khăn cho con cái. Giai đoạn thứ 5, là giai đoạn
thường được mệnh danh là giai đoạn "Nổi loạn" của tuổi dậy thì. Giai đoạn thứ
sáu. Đây là giai đoạn sau cùng của sự trưởng thành trong nhân cách. Người
thanh niên đạt đến giai đoạn này, đã gây dựng được một hệ thống tư tưởng và
hành động vững mạnh trên một nền móng đạo đức bền bỉ và chính xác. Giáo sư
Kohlberg nói rằng, cái khó nhất của cha mẹ trong sự giúp đỡ con cái vượt qua
những giai đoạn phát triển tính hạnh, là sự làm gương. Người làm cha mẹ, không
thể nào bắt buộc con cái phải đạt đến một trình độ đạo đức cao, trong khi chính
bản thân mình vẫn cứ đứng lại ở các nấc thang dưới thấp [25].
Trẻ con không trải qua tất cả các giai đoạn một cách tự động. Đối với trẻ
em ở độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, có trẻ dừng lại ở giai đoạn 2 cho đến hết cuộc đời.
Có trẻ từ giai đoạn 4 trở lại giai đoạn 3 và dừng lại luôn ở đó. Thời gian trải qua
những giai đoạn, mau hay chậm cũng tùy thuộc vào cá nhân mỗi em [25].
Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng các giá trị gia
đình và văn hóa truyền thống, nhiều nước trên thế giới quan niệm rằng nội dung
giáo dục đạo đức cần tập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách
như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác trong khi Triết lý
giáo dục đạo đức của Nhật Bản được nêu trong chương trình khung quốc gia
nhằm đào luyện: - Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quý cuộc sống -
Nhiệt tâm kế thừa và phát triển văn hóa truyền thống - Nhiệt tâm phát triển một
đất nước và xã hội dân chủ - Ý thức đóng góp cho sự phát triển của một xã hội
quốc tế thanh bình - khả năng tự quyết định - Ý thức đạo đức. Đặc trưng giáo dục
đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba điểm: lòng tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá
nhân và cộng đồng. Đó được xem là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền
vững về kinh tế, xã hội của quốc gia Nhật Bản. Trật tự này bắt nguồn từ Khổng
giáo và ở đơn vị gia đình, các thành viên thuộc nhiều thế hệ gắn kết với nhau bởi

7
tình cảm tự nhiên hơn là bởi khả năng và quyền lực. Trong ý nghĩa này, Nhật Bản
được xem như một xã hội có diện mạo gia đình (a pseudo-family society). Các tác

bảo cho việc giáo dục hành vi giao có văn hóa.
Về nội dung giáo dục HVĐĐ trong gia đình, tác giả Phạm Khắc Chương
và tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng trong tác phẩm “Giáo dục gia đình” đã khái
quát một số nội dung cơ bản của giáo dục trong gia đình như:
+ Giáo dục hành vi đạo đức: Hình thành những quy tắc, chuẩn mực đạo đức.
+ Giáo dục thái độ, kỹ năng lao động.
+ Giáo dục thể chất thẩm mỹ.
GDGĐ được tiến hành với các phương pháp: Tổ chức cho trẻ hoạt động,
noi gương cha mẹ. Phương thức cơ bản trong giáo dục gia đình là: khuyên bảo,
thuyết phục, rèn thói quen và khen thưởng.
Tác giả Nguyễn Lân, trong tác phẩm “Con người văn minh sống như thế
nào” đã nêu rõ: Con người văn minh trước hết phải coi trọng giá trị của con
người nói chung, luôn có ý thức vươn đến cái đẹp trong cuộc sống, cái đẹp thể
hiện trong mọi mặt từ lời nói, dáng điệu, cử chỉ, hành vi, cách ăn mặc, cách trang
trí nơi ở… Thực hiện nếp sống văn minh trong gia đình, với xóm làng, trên
đường phố. Với cách đánh giá và những giá trị của con người sống trong xã hội
hiện đại cần phải làm, chúng ta có thể qua đây sử dụng một số mẫu chuẩn hành
vi đạo đức cần giáo dục trẻ trong gia đình.
Hơn 150 nhà nghiên cứu, nhà tâm lý và nhà giáo đã có cơ hội bày tỏ quan
điểm tại hội thảo về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học mang tên “Học nhân
ái, biết sẻ chia” do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 24/11/2008 tại Hà Nội.
Là nhà nghiên cứu về tâm lý, ông Đinh Phương Duy, Chủ tịch Hội Tâm lý
giáo dục TP.HCM đã bày tỏ những lo ngại khi quan sát thấy những biểu hiện
tâm lý bất thường ở không ít trẻ em hiện nay. Theo ông, hiện trẻ em có 4 dấu
hiệu đáng lo ngại đó là: sống khép kín, thiếu cởi mở và tiếp xúc với mọi người
xung quanh; một số trẻ sống ích kỷ, không quan tâm tới người khác; một số trẻ ỷ
lại và luôn mong muốn được thỏa mãn nhu cầu của mình một cách vô lý; một số
trẻ giải quyết các vấn đề bằng bạo lực.
Theo ông Duy, những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do một bộ
phận không nhỏ trẻ em hiện nay có điều kiện sống quá đầy đủ, được cha mẹ

những tri thức cốt yếu này được truyền thụ bằng con đường tình cảm sau khi đã
qua “bộ lọc” của các thành viên trong gia đình.

10
Qua nghiên cứu các công trình của các tác giả trong và ngoài nước chúng
tôi nhận thấy:
- Việc giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ đã được quan tâm từ rất lâu trong
gia đình. Cốt lõi là giáo dục cho trẻ các giá trị đạo đức thông qua các mối quan
hệ giữa con người với con người trong cuộc sống, nhằm hình thành những phẩm
chất tốt đẹp ở mỗi cá nhân.
- Giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ từ 6-11 tuổi là một quá trình toàn vẹn
với hệ thống các thành tố GD: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc,
phương pháp, người được giáo dục và người giáo dục. Là quá trình tác động chủ
đạo của nhà giáo dục và người được giáo dục tự giác, tích cực chuyển hoá những
yêu cầu của các chuẩn mực hành vi đã quy định thành thói quen tương ứng.
- Nội dung và phương thức thể hiện hành vi đạo đức do thực tiễn cuộc
sống và những truyền thống đạo đức quy định, vì vậy không ngừng biến đổi
cùng với sự phát triển của xã hội hiện nay.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa cho thấy thực trạng việc sử
dụng các biện pháp để giáo dục hành vi đạo đức cho đối tượng từ 6-11 tuổi trong
gia đình hiện nay.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Đạo đức
Trong đời sống mỗi con người, quy luật xã hội tất yếu đòi hỏi họ phải ý
thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong qua khứ, hiện tại và nhu
cầu phải làm gì trong tương lai. Những hoạt động đó chịu sự chi phối của mối
tương quan giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội, cho phép tới một giới
hạn nhất định trong vòng trật tự chung của cộng đồng, của dân tộc nhằm đảm
bảo quyền lợi cho tất cả các thành viên vươn lên tích cực, tự giác, tạo thành động
lực phát triển của xã hội. Đó chính là quy tắc chuẩn mực trong hoạt động của

giác trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội,
với tự nhiên và với cả bản thân mình.
Đối với trẻ từ 6 đến 11 tuổi, quá trình phát triển đạo đức theo Piaget và
Kohnberg lại diễn ra theo các bước tăng dần từ mức thấp nhất là tuân theo,
nghe lời những người có quyền lực (cha mẹ, thầy cô) tiến triển qua nhiều

12
bước, theo lứa tuổi và mức độ phát triển nhận thức, lập luận về đạo đức cho
đến giai đoạn cao nhất là hành xử theo các nguyên tắc đạo đức, quy tắc ứng
xử đạo đức của cá nhân. Như thế phát triển đạo đức ở trẻ nhỏ bắt đàu bằng
quá trình nhập tâm hóa từ ngoài vào trong, rồi rất lâu mới được sự tự giác,
dựa trên ý thức đạo đức, động cơ đạo đức, hành vi và thói quen có ý nghĩa
đạo đức.
Từ những quan điểm, những phân tích trên về đạo đức, chúng tôi đưa ra
cách hiểu của mình về đạo đức như sau:
Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay nhóm, là hệ thống các qui
tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ con người với con người,
con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình.
Trong mối quan hệ vô cùng phong phú và phức tạp với thế giới xung
quanh, con người luôn luôn giao tiếp. Nếu thái độ, hành vi của họ phù hợp với
yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng; phù hợp với hạnh phúc và tiến bộ chung
của xã hội thì con người đó được đánh giá là có đạo đức. Ngược lại, hành vi, thái
độ của họ không phù hợp, gây tổn hại tới lợi ích người khác thì bị xã hội lên án,
chê trách và bị coi là thiếu đạo đức.
Chuẩn mực đạo đức của một thế hệ phản ánh thế giới tinh thần, trình độ
văn minh của thế hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức chính là sự kết tinh những gì tinh
tuý nhất, giá trị nhất mà con người đã tích luỹ được trong quá trình phát triển nền
văn hoá nhân loại.
Chuẩn mực đạo đức giúp con người điều chỉnh những mối quan hệ hiện
hữu giữa con người với thế giới xung quanh, những mối quan hệ đó phụ thuộc

có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh. Khi nhấn mạnh về
tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kihs thích cũng như phản ứng đều là
những hiện tượng có thể quan sát được. Khi nhấn mạnh định hướng mục tiêu thì
gọi là hành vi [40], [41]. Như vậy khái niệm hành vi đồng nhất giữa hành vi
người và hành vi động vật và coi đó là những phản ứng được thể hiện bằng cử
chỉ, hành động nhất định khi có kich thích từ môi trường.
L.S Vygotxky [15] cho rằng, hành vi con người được hiểu là quá trình
nắm lấy các chức năng tâm lý xã hội của bản thân, tức là hành vi được hiểu là
hoạt động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia
vào các hoạt động bên ngoài, tác động đến những đối tượng bên ngoài hoặc
những người khác. Theo ông, muốn có được hoạt động tâm lý bên trong thì

14
trước hết phải tổ chức được hình thức bên ngoài của nó và trẻ em sẽ hoạt động
trên những đối tượng bên ngoài ấy rồi chuyển vào trong thành tâm lý, ý thức.
Cấu trúc chung ấy là cơ sở quan trọng cho quá trình chuyển hóa “từ ngoài vào
trong” và “từ trong ra ngoài”. Đồng thời ông chỉ rõ hành vi người và hành vi
động vật là hoàn toàn khác nhau “ở động vật chỉ có hai loại hành vi kinh
nghiệm di truyền và kinh nghiệm di truyền kết hợp tự tạo; còn ở người, ngoài
hai loại kinh nghiệm đó còn có kinh nghiệm kép (lao động), kinh nghiệm lịch
sử, kinh nghiệm xã hội”. Hành vi của con người có công thức bao gồm kinh
nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm kép và được hiểu ngầm là
hoạt động của con người. Còn ý thức được coi là thực tại khách quan, có chức
năng điều chỉnh đối với hành vi, ý thức là một mặt của hoạt động.
Mỗi cá nhân đều sống trong một tập thể xã hội và có quan hệ với những
người xung quanh trong những mối tác động qua lại nhất định. Sự tác động qua
lại giữa người này với người khác, hay giữa con người với các sự việc, hoàn
cảnh xung quanh được thể hiện bởi một hành động đơn lẻ hay các hành động
phối hợp được gọi là hành vi. Như vậy hành vi của con người được hiểu là một
hành động hay nhiều hành động phức tạp trước một sự việc, hiện tượng mà các

Như vậy hành vi tuy là những cái biểu hiện ra bên ngoài (cử chỉ, lời nói, ánh
mắt, vẻ mặt…) nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách.
Là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội dung tâm lý bên trong. Hành vi
bên ngoài chỉ là biểu hiện của một đời sống tâm lý bên trong của nhân cách.
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả cho phép chúng ta xác định một số
vấn để đối với việc giáo dục hành vi sau đây:
- Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều
chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, của nhân cách. Cho nên, nhà
giáo dục phải đặt vấn đề giáo dục cả hình thức bên ngoài lẫn bên trong của
hành vi. Tức là, vấn đề hình thành hành vi cần được xem xét là hai mặt thống
nhất của một quá trình giáo dục.
- Hành vi con người có tính mục đích và có nghĩa, tức là cùng một lúc
tính đến cả chủ thể lẫn thực tại. Điều đó cho thấy, con người chịu tác động của
môi trường sống, nên nhà giáo dục không được coi nhẹ vấn đề hình thành khả
năng thích nghi với môi trường của đứa trẻ. Tuy vậy, yếu tố quyết định hành vi

Trích đoạn Gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ Các giai đoạn tổ chức nghiên cứu Mẫu nghiên cứu Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Xây dựng thang đánh giá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status