ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************
MAI THỊ THU HẰNG
HỨNG THÚ NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG CỦA SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 603180
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ MINH LOAN
HÀ NỘI - 2007 4
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1.Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Trường ĐHĐDNĐ
5
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
8
2.Đối tượng nghiên cứu
9
3.Mục đích nghiên cứu
9
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
5.Phạm vi nghiên cứu
10
6. Khách thể nghiên cứu
10
7. Giả thuyết khoa học
10
8.Phương pháp nghiên cứu
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
12
1.1.Nghiên cứu vấn đề ở các nước trên thế giới
12
1.2.Nghiên cứu về hứng thú ở Việt Nam
13
2. Một số kháI niệm cơ bản
2.3.3.Khái niệm hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên
42
2.3.4.Biểu hiện hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên
43
2.3.5.Những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển
hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên
44
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
1.Vài nét giới thiệu về nhà trường và khách thể nghiên cứu
47
2.Các phương pháp nghiên cứu
52
3.Tiến trình nghiên cứu
54
4.Cách thức xử lý số liệu
55
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.Kết quả khảo sát thực trạng hứng thú nghề điều dưỡng của SV
58
1.1.Hứng thú nghề điều dưỡng của SV biểu hiện qua nhận thức
58
1.1.1.Nhận thức của SV về giá trị của nghề điều dưỡng
59
1.1.2.Nhận thức của SV về bản chất nghề điều dưỡng
62
1.1.3.Nhận thức của SV về tầm quan trọng của các phẩm chất
tâm lý
66
1.1.4.Nhận thức của SV về tầm quan trọng của các môn học
70
108
2.2.1.Nguyên nhân chủ quan
108
2.2.2.Nguyên nhân khách quan
113
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
118
TÀI LIỆU THAM KHẢO
121
PHỤ LỤC 8
MỞ ĐẦU
thú đối với nghề mà do nhiều lý do khác. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới
thái độ của sinh viên trong quá trình học tập mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới
quá trình công tác sau này. Hiện nay sinh viên trường ĐH Điều dưỡng yêu
nghề ở mức độ nào, biểu hiện ra sao, những nguyên nhân nào chi phối biểu
hiện đó và có thể tác động như thế nào để bồi dưỡng hứng thú nghề nghiệp
cho sinh viên? Với lý do về lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa chọn
đề tài “Hứng thú nghề điều dƣỡng của sinh viên Trƣờng Đại học điều
dƣỡng Nam Định” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp.
2. Đối tƣợng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
3. Mục đích nghiên cứu.
Làm rõ thực trạng hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên Trường ĐH
Điều dưỡng Nam Định, phân tích các nguyên nhân của thực trạng và trên cơ
sở đó đề xuất những kiến nghị sư phạm nhằm nâng cao hứng thú nghề nghiệp
cho sinh viên Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1.Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
4.2. Điều tra thực trạng hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên
Trường ĐH Điều Dưỡng Nam Định qua đó đưa ra mức độ hứng thú nghề điều
dưỡng của họ. Hứng thú nghề điều dưỡng của sinh viên thể hiện trên các chỉ
số sau:
- Nhận thức của sinh viên về giá trị, bản chất của nghề điều dưỡng;
nhận thức về tầm quan trọng của các phẩm chất tâm lý cần thiết và một số
môn học cơ bản trong chương trình đào tạo.
10
- Cảm xúc của sinh viên với nghề điều dưỡng và một số môn học cơ
bản trong chương trình đào tạo.
- Hành động tích cực của sinh viên trong hoạt động học tập tại trường
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng hệ thống các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp thống kê toán học.
(Cách thức triển khai sẽ được trình bày cụ thể trong chương II, phần
nội dung nghiên cứu)
12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trong thực tiễn cuộc sống cũng như trong khoa học giáo dục, hứng thú
là một vấn đề phong phú, hấp dẫn và khá phức tạp vì “đối với việc nghiên
cứu, hầu như không có vấn đề tâm lý học nào rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu
hứng thú thực sự của một con người”
khác nhau. Ông cho rằng: "hứng thú không phải là thiên hướng, không phải là
nét tính cách của cá nhân mà đó là một cái gì khác, riêng rẽ với thiên hướng,
riêng rẽ với tính cách, riêng rẽ với cá nhân"
2
.
Năm 1964, tác giả Guilford đã nghiên cứu về hứng thú và cho rằng:
hứng thú là một trong bảy mặt cấu tạo nên nhân cách, hứng thú là những ham
muốn ổn định trong các hoạt động nhất định.
Năm 1967, Tác giả V.N.Marôcôva đã nghiên cứu vấn đề “Sự hình
thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện phát triển bình thường và không bình
thường”.
Năm 1971, tác giả G.I.Sukina đã có công trình nghiên cứu về “Vấn đề
hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục”.
Tác giả Kuzơzơmina trong “Tâm lý học người giáo viên” đã nghiên
cứu về hứng thú nghề nghiệp của người giáo viên trước khi vào trường sư
phạm
Trong những năm gần đây còn có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến hứng thú, đó là những tác giả X.L.Rubinstêin, L.X.Vưgôtxki,
Đ.I.Tractac, L.X.Xôlôvâytrich, A.V.Daparôgiet đã góp phần vào việc làm rõ
cơ sở lý luận của hứng thú.
1. 2. Nghiên cứu hứng thú ở Việt Nam.
2
Trích theo tài liệu tham khảo 23. tr13
14
Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua cũng đã có rất nhiều công trình khoa
học nghiên cứu về hứng thú và đã có những đóng góp rất lớn về mặt lý luận
và thực tiễn.
1.2.1 Những nghiên cứu về hứng thú môn học:
hiểu hiện trạng hứng thú học bộ môn tâm lý học của sinh viên trường cao
đẳng sư phạm Tây Ninh”. Tác giả đã đưa ra kết luận: về thực chất, hứng thú
học bộ môn tâm lý học còn dừng lại ở mức thấp, hứng thú gián tiếp đối với
môn học là chủ yếu.Thực trạng này do nhiều nguyên nhân tạo nên nhưng
nguyên nhân chính là do "sinh viên chưa biết cách học môn này" và "giảng
viên dạy khó hiểu, không sinh động". Đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra một
số kiến nghị sư phạm nhằm phát triển hứng thú học bộ môn Tâm lý học của
sinh viên.
Năm 2005, tác giả Phan Thị Thơm đã nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu
hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên Trường đại học
dân lập Đông Đô”. Theo tác giả, hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương
của khách thể được nghiên cứu còn chưa cao và chưa đồng đều ở mọi sinh
viên; thực trạng này do nhiều nguyên nhân tạo nên trong đó nguyên nhân từ
phía giáo viên đóng vai trò quan trọng. Tác giả đã tiến hành phương pháp
thực nghiệm và đi đến kết luận là có thể tác động để nâng cao hứng thú học
tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên bằng cách thay đổi phương pháp
giảng dạy của giáo viên.
1.2.2. Những nghiên cứu về hứng thú nghề
Năm 1973, Tác giả Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận án PTS
ở Liên Xô với đề tài “Một số đặc điểm hứng thú nghề nghiệp ở học sinh phổ
thông và công tác hướng nghiệp”. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hứng thú
nghề nghiệp của học sinh nữ ở ba thành phố Matxcơva, Mytsưsin và Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định hứng thú nghề nghiệp giữa nam
và nữ có sự khác biệt, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng
16
phát triển nghề nghiệp của xã hội và, công tác hướng nghiệp ở các trường phổ
thông chưa được thực hiện nên các em học sinh phải chịu nhiều thiệt thòi.
Năm 1982, tác giả Đinh Thị Chiến đã bảo vệ thành công luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo
này nhằm đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng đào tạo
đội ngũ điều dưỡng hiện nay.
2. Một số khái niệm cơ bản
2.1. Khái niệm hứng thú.
2.1.1.Những quan điểm khác nhau về hứng thú
Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tất cả những nhà nghiên cứu hứng
thú và khuynh hướng đều đã nối tiếp nhau khẳng định
3
:
- Hứng thú là một hiện tượng trí tuệ thuần tuý, nó động chạm tới trí
thông minh.
- Hứng thú là hiện tượng cảm xúc, nó liên quan tới tình cảm.
- Theo phái thứ ba, hứng thú động chạm tới nỗ lực ý chí.
- Sau này người ta lại cho rằng hứng thú vừa liên quan tới trí thông
minh, vừa liên quan tới tình cảm lẫn ý chí.
Do đứng trên những quan điểm và góc độ khác nhau mà các nhà khoa
học vẫn còn nhiều tranh luận về vấn đề này.
2.1.1.1.Quan điểm của một số nhà tâm lý học phƣơng Tây về hứng
thú
Quan điểm của S.Clapared cho rằng hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu,
bản năng và khát vọng được thoả mãn. Theo quan điểm này thì hứng thú bắt
nguồn từ bản chất sinh học của con người
3
L.X.Xôlôvaytrich.Từ hứng thú đến tài năng. NXB Phụ nữ HN. 1975.Tr86
18
Theo V.Giêmxơ thì hứng thú có nguồn gốc sinh vật: hứng thú là nhu
cầu bản năng, khát vọng đòi được thoả mãn.
Quan điểm của I.Phrebac: coi hứng thú như là thuộc tính sẵn có,
vậy mà nguyên nhân gây ra hứng thú là rất đa dạng. Và, cũng chính do đó mà
khái niệm hứng thú có rất nhiều cách giải thích khác nhau ở những nhà khoa
học khác nhau.
Quan điểm của một số nhà tâm lý học Liên Xô trước đây như T.Ribô,
N.P.Đôbrưnhin cho rằng hứng thú là khuynh hướng lựa chọn, khuynh hướng
chú ý ở con người; theo B.M.Cheplôp thì hứng thú là khuynh hướng ưu tiên
chú ý vào một khách thể nào đó; theo A.V.Daparogiet: “hứng thú là khuynh
hướng của sự chú ý tới những đối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu
chúng càng tỉ mỉ càng hay”
5
.
Quan điểm của L.X.Xôlôvâytrich: "Hứng thú nảy sinh dưới ảnh hưởng
các nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài - khi các nguyên nhân
đó gặp nhau"
6
.Ông cho rằng hứng thú xuất hiện từ tính ham hiểu biết, xúc
động tình cảm và nỗ lực ý chí.
Quan điểm của X.L.Rubinstein: coi hứng thú biểu hiện như là khuynh
hướng tác động một cách có hiểu biết, có ý thức đối với khách thể mà con
người định hướng vào đó
Quan điểm của A.N.Lêônchiev: ông coi hứng thú là thái độ nhận thức
đặc biệt đối với đối tượng hoặc hiện tượng của hiện thực khách quan
Theo A.A.Liublinxkaia, “Hứng thú là thái độ nhận thức của con người
đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh
vực nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn”
7
.
Theo P.A.Rudic, “Hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân
nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng
thời biểu hiện thiên hướng tương đối cố định của con người đối với các hoạt
hứng thú, quy hứng thú vào hoạt động của giới hạn nhận thức hoặc của các
quá trình chú ý, tình cảm, có tác giả còn coi hứng thú là nhu cầu Thực chất,
hứng thú không phải là nhu cầu, không phải là thái độ nhận thức hay xu
hướng của chú ý mà hứng thú có quan hệ mật thiết với các quá trình đó. Định
nghĩa hứng thú của A.G.Côvaliôp là một định nghĩa khá tiêu biểu vì nó đã
nhấn mạnh đến ý nghĩa, giá trị của đối tượng đối với xã hội nhất là đối với
chính cá nhân - một yếu tố quan trọng của việc hình thành hứng thú.
Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú trong mối
quan hệ với toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn
trong cuốn "Tâm lý học đại cương" đã đưa ra định nghĩa tương đối hoàn
chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với
một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng
mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”
11
. Ở đây, hứng thú
thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với
nhu cầu và xúc cảm tình cảm của chủ thể hoạt động.
9
A.G.Côvaliôp. Tâm lý học cá nhân tập 1.NXBGDHN 1971.Tr 228
10
L.X.Xôlôvaytrich.Từ hứng thú đến tài năng. NXBPNHN 1975.Tr99
11
Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên). Tâm lý học đại cương.NXBGDHN1995.Tr187
21
Tác giả N.G.Marôzôva - tiến sĩ Tâm lý học đã phân tích cấu trúc của
hứng thú thành ba yếu tố đặc trưng
12
.
trạng dễ chịu, một cảm xúc tích cực, một thiện cảm đặc biệt với nó. Từ đó
hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lý
khát khao tiếp cận và đi sâu vào nó. Đối tượng gây ra nhu cầu thì đôi khi có
những trường hợp mặc dù được ý thức đầy đủ, sâu sắc nhưng đối tượng đó có
khi lại không gây cho ta một thiện cảm nào.Ví dụ như chúng ta ý thức rất rõ
tác dụng của mũ bảo hiểm khi đi đường cao tốc nhưng không phải lúc nào
cũng tạo ra cho ta khoái cảm đối với nó.
Từ những sự phân biệt trên, khi bàn về hứng thú thì các tác giả đều ít
nhiều tập trung đề cập tới các yếu tố sau:
+ Hứng thú là biểu hiện khuynh hướng thường xuyên của con người
hướng tới đối tượng.
+ Đối tượng gây ra hứng thú được chủ thể lựa chọn, nhận thức rõ ràng
về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của nó.
+ Chủ thể có một tình cảm đặc biệt đối với đối tượng gây ra hứng thú,
biểu hiện ở sự thích thú, say mê đối tượng.
+ Chủ thể có sự khát khao hoạt động vươn tới tiếp cận và chiếm lĩnh
đối tượng.
2.1.2. Khái niệm hứng thú
Xuất phát từ những cơ sở lý luận trên, chúng tôi chọn quan điểm sau
đây làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình: Hứng thú là thái độ đặc biệt
của cá nhân dành cho một đối tƣợng nào đó khi đối tƣợng đó có ý nghĩa
thiết thực trong cuộc sống của họ, tạo ra sự yêu thích và niềm say mê trong
hoạt động.
Như vậy, hứng thú tồn tại trên cơ sở của hai điều kiện sau:
+ Cái gây ra hứng thú phải được cá nhân ý thức và hiểu rõ ý nghĩa của
nó đối với đời sống riêng của mình.
23
+ Cái gây ra hứng thú phải tạo ra ở cá nhân một khoái cảm đặc biệt.
Chỉ khi nào có đầy đủ hai điều kiện cần thiết trên thì hứng thú mới tạo
• Hứng thú mỹ thuật: là hứng thú với cái hay, cái đẹp trong văn học,
phim ảnh, hội hoạ
- Căn cứ vào tính hiệu quả, hứng thú được chia thành:
+ Hứng thú thụ động: là loại hứng thú mà con người chỉ dừng lại ở sự
thích thú ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà không thể
hiện tính tích cực nhận thức sâu hơn để làm chủ đối tượng và hoạt động sáng
tạo trong lĩnh vực mình hứng thú.
+ Hứng thú chủ động: Là loại hứng thú mà con người không chỉ chiêm
ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà còn lao vào hoạt động với mục đích
làm chủ đối tượng. Đây là một trong những nguồn kích thích sự phát triển
nhân cách, hình thành kỹ năng kỹ xảo là nguồn gốc của sự sáng tạo.
- Căn cứ vào khối lượng (phạm vi khái quát của đối tượng), hứng thú
được chia thành:
+ Hứng thú rộng: là loại hứng thú bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
nhưng không sâu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp vừa có hứng thú rộng
nhưng lại nắm sâu sắc vấn đề.
+ Hứng thú hẹp: là hứng thú đối với từng mặt, từng ngành, từng lĩnh
vực cụ thể.
Hai loại hứng thú nêu trên đều rất cần thiết trong cuộc sống của mỗi
người. Nếu chỉ có hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của
con người sẽ phát triển không toàn diện. Ngược lại, nếu chỉ có hứng thú rộng
thì sự phát triển nhân cách cũng sẽ hời hợt, thiếu sâu sắc.
- Căn cứ vào tính bền vững, hứng thú được chia thành:
+ Hứng thú bền vững: hứng thú này thường gắn với năng lực cao và sự
nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình.
+ Hứng thú không bền vững: kiểu hứng thú này thường bắt nguồn từ sự
nhận thức hời hợt hứng thú và xuất hiện ở cả trẻ em lẫn người lớn.
25
- Căn cứ vào cội nguồn của sự xuất hiện hứng thú, người ta chia hứng
này nó tác động làm tăng kiến thức và kỹ năng nghề.
Xuất phát từ danh mục khác nhau, nhiều nhà tâm lý giáo dục đã nghiên
cứu về nghề trên quan điểm hướng nghiệp và do đó chúng ta thấy xuất hiện
nhiều cách phân loại nghề khác nhau.
Ví dụ nổi bật của Platonop là ông đã phân ra thành 5 nghề theo mối
quan hệ như sau:
- Nghề có quan hệ giữa người với người (nghề dạy học, nghề y)
- Nghề có quan hệ với máy móc (nghề tiện)
- Nghề có quan hệ với tự nhiên (nghề trồng rừng)
- Nghề có quan hệ với tín hiệu (nghề đánh mooc)
- Nghề có quan hệ với lĩnh vực nghệ thuật (nghề điêu khắc).
Trong điều kiện thay đổi mạnh mẽ về tiến bộ khoa học, kỹ thuật; trong
sự chuyển biến thay đổi nhanh của nền kinh tế thị trường đã dẫn tới sự thay
đổi của cách phân loại nghề theo hướng mở rộng thêm những nghề mới. Cụ,
thể, trên một số nước đã có sự bổ sung thêm các nghề như sau:
Tại Mailayxia:Trong cách phân loại nghề có bổ sung thêm nhóm nghề
liên quan đến điện tử, thông tin, dầu mỏ và công nghệ hơi đốt.
Tại Ấn độ: Trong cách phân loại đã nhấn mạnh đến những nghề có
liên quan đến kỹ thuật tin học, tự động hoá.
Một số nhà nghiên cứu ở các nước phương Tây đã nghiên cứu về nghề
gắn với công việc, việc làm - tiêu biểu là quan niệm của tổ chức lao động
Quốc tế (ILO) trong tập “Phân loại chuẩn Quốc tế các nghề” ISCO 1998 đã
coi nghề được xác định bởi một số công việc với các nhiệm vụ chính của
chúng được đặc trưng bởi mức độ giống nhau cao.
14
Ngày nay, gắn liền với tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật,
thường xuyên diễn ra sự đào thải (biến mất) của một số nghề và xuất hiện một
14
độ chuyên môn và thời gian đào tạo.
15
Nguyễn Viết Sự. "Phạm trù nghề nghiệp và sự phát triển của nó". Đề tài cấp Bộ 1994.Tr20