Nghiên cứu phương pháp Pictogram trên kết quả thực nghiệm của bệnh nhân tâm thần phân liệt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THÀNH NAM NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP PICTOGRAM TRÊN KẾT QUẢ THỰC
NGHIỆM CỦA BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Luận văn Thạc sỹ Tâm Lý học

Mã số: 5 06 02 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Sinh Phúc

Hà nội - 2004

Tổ chức nghiên cứu - 38 -
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu - 38 -
2.1.1. Địa bàn nghiên cứu - 38 -
2.1.2. Khách thể nghiên cứu - 41 -
2.2. Tiến hành thực nghiệm - 44 -
2.2.1. Các phƣơng tiện cần thiết - 44 -
2.2.2. Các bƣớc tiến hành thực nghiệm - 44 -
2.2.3. Công thức toán học đƣợc sử dụng để kiểm tra tính ý nghĩa - 45 -
2.2.4. Tiến trình thời gian tiến hành nghiên cứu - 46 -
Chương 3 - 48 -
Kết quả và bàn luận - 48 -
3.1. Cách tiến hành và phân tích phương pháp pictogram - 48 -
3.1.1. Tài liệu cần thiết - 48 -
3.1.2. Cách tiến hành - 49 -
- 2 -
3.1.3. Các yếu tố phân tích kết quả - 49 -
3.2. Các kết quả Pictogram trên nhóm bệnh nhân TTPL và nhóm chứng - 54 -
3.2.1. Yếu tố nội dung hình vẽ: (F
1
) - 55 -
3.2.2. Yếu tố nội dung giải thích: (F
2
) - 61 -
3.2.3. Yếu tố ý nghĩa cá nhân: (F
3
) - 67 -
3.2.4. Yếu tố liên tƣởng: (F
4
) - 70 -
3.2.5. Việc sử dụng từ, chữ số: (F

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tâm lý học (TLH) cũng như bất kỳ một lĩnh vực khoa học nào, các
phương pháp luôn là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà nghiên cứu. Công cụ
càng phong phú, kỹ năng sử dụng công cụ càng cao thì nhà nghiên cứu càng có
cơ hội phản ánh đối tượng khách quan và chính xác.
Những năm gần đây, TLH lâm sàng ở Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể, các nghiên cứu ứng dụng của TLH vào trong lâm sàng ngày càng
nhiều hơn. Chúng ta có cơ hội tiếp cận nhiều phương pháp, trắc nghiệm, thang
đo từ các nguồn khác nhau. Điều này đã tạo nên sự đa dạng nhất định trong
nghiên cứu thực tiễn. Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nghiên cứu
tâm lý lâm sàng gặp phải cũng chính là vấn đề phương pháp. Phần lớn các
phương pháp đang được sử dụng trong TLH lâm sàng là trắc nghiệm hoặc
phỏng vấn có cấu trúc. Mặc dù trước khi đưa vào ứng dụng trong thực tiễn, các
nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã có những bước làm thử, thăm dò, song có
thể nhận thấy rằng chúng ta chưa có các “chuẩn” riêng của mình theo đúng
những yêu cầu của test.
Trong lâm sàng tâm thần, một trong những điều mà các thầy thuốc cần ở
nhà tâm lý chính là chẩn đoán tâm lý lâm sàng. Kết quả của chẩn đoán tâm lý
lâm sàng trong nhiều trường hợp là những cứ liệu có giá trị, giúp cho bác sĩ
chẩn đoán bệnh nói chung và chẩn đoán phân biệt nói riêng.
Ở các nước trên thế giới, người ta sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
để nghiên cứu, khảo sát tâm lý người bệnh tâm thần, từ các phương pháp xuất
chiếu như Rorschach, TAT, hoặc các phương pháp khảo sát nhân cách khác như
MMPI, EPI, 16-PF của Cattell cho đến những test trí tuệ, cảm xúc v.v
- 4 -


đó đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng phương pháp này trong chẩn đoán lâm sàng
bệnh nhân TTPL.
3. ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp Pictogram trên bệnh nhân TTPL.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- 63 bệnh nhân đã được các bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán xác định là
TTPL theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD - 10, đang điều trị nội trú (tại
thời điểm nghiên cứu) ở Khoa A6 - Bệnh viện 103 và Bệnh viện Tâm thần
Trung ương - Thường Tín – Hà Tây
- Để có số liệu so sánh, phân tích đối chứng, chúng tôi cũng lựa chọn một
nhóm 85 người khoẻ mạnh, độ tuổi từ 18 đến 38 trong đó có 61 nam; 24
nữ.
4. NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về phương pháp luận, phương pháp tiếp cận và các phương
pháp nghiên cứu cụ thể trong TLH.
- Nghiên cứu lý luận về thực nghiệm Pictogram, lịch sử và các công trình nghiên
cứu liên quan đến phương pháp này. Trên cơ sở đó thống nhất quy trình tiến
hành thực nghiệm Pictogram trên nhóm bệnh nhân TTPL và nhóm người bình
thường và đề xuất bảng hướng dẫn phân tích các yếu tố trong Pictogram.
- 6 -
- Nghiên cứu lý luận về các biểu hiện đặc trưng của bệnh TTPL, các phương pháp
nghiên cứu tâm lý dùng trong lâm sàng TTPL.
- Phân tích kết quả thực nghiệm ở bệnh nhân TTPL trên cơ sở các tiêu chuẩn của
bảng hướng dẫn phân tích các yếu tố đã đề xuất, so sánh với nhóm bình thường
để rút ra những kết luận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Giới hạn về nhóm khách thể nghiên cứu:
- Nhóm bệnh nhân TTPL: Lựa chọn những bệnh nhân đã được chẩn đoán xác

6.2. Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm Pictogram:
- Phương pháp Pictogram do Luria A.R. đề xuất vào những năm 20 của thế
kỷ XX là một phương pháp nghiên cứu trí nhớ gián tiếp. Tuy nhiên nó
không chỉ được dùng để nghiên cứ trí nhớ gián tiếp mà còn dùng để phân
tích tính chất liên tưởng của bệnh nhân. Phương pháp này sử dụng cho
bệnh nhân có trình độ văn hoá từ lớp 7 trở lên. Trong thực nghiệm, chúng
tôi yêu cầu nghiệm thể lần lượt vẽ để nhớ 16 cụm từ đã được chọn: Ngày
hội vui, Lao động nặng, Phát triển, Bữa cơm ngon, Hành động dũng cảm,
Bệnh tật, Hạnh phúc, Câu hỏi độc ác, Luồng gió mát, Công bằng, Đêm
tối, Sự thật, Hy vọng, Em bé đói, Lừa dối và Đoàn kết.
- 8 -
- Thực nghiệm được tiến hành với từng người trên nhóm bệnh nhân TTPL
và nhóm người bình thường.
- Đối tượng là bệnh nhân được làm thực nghiệm tại phòng test tâm lý của
Khoa A6 Bệnh viện 103 và phòng test tâm lý của bệnh viện Tâm thần
Trung ương.
- Đối tượng là người bình thường (nhóm chứng) được tiến hành thực
nghiệm trong phòng riêng yên tĩnh.
6.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ bệnh nhân
Trước khi làm thực nghiệm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các hồ sơ bệnh
án của bệnh nhân đang điều trị tại Khoa A6 - Bệnh viện 103 và bệnh viện Tâm thần
Trung Ương. Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi hỏi thêm các bác sĩ điều trị để
nắm được đầy đủ hơn thông tin về bệnh nhân.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Kết quả được xử lý định tính kết hợp với xử lý định lượng theo chương trình
SPSS 12.0 cho hệ điều hành Windows trên máy vi tính. Các số liệu thu được được
trình bày bằng bảng biểu.
- 9 -
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

Chiến lƣợc là sự tổ chức kỹ thuật và phƣơng tiện để thực hành nhằm đạt tới
một mục tiêu. [5;240] Định nghĩa này khá gần với định nghĩa về phương pháp nêu
trên nhưng khác nhau ở thuật ngữ "thể chế hoá".
"Thể chế hoá" có nghĩa là tạo nên một một tổng thể hoàn chỉnh từ các bộ
phận với cách thức mà chúng ta có thể quy tắc hoá và chuyển giao được, để khi
ứng dụng đúng đắn sẽ sinh ra cùng một kết quả. Như thế, phương pháp là chiến
lược đã thành công, và được diễn giải dưới một hệ thống pháp điển chính xác. Và
do vậy, phương pháp là một kiến thức khách quan hoá, chuyển giao được và tồn tại
ngoài ý muốn của con người.
Một nhà sư phạm có thể mô tả dễ dàng phương pháp dạy học vấn đáp, một
nhà luyện kim cũng có thể mô tả phương pháp sản xuất thép theo công nghệ mới.
Trong mỗi nghề, phương pháp được mọi chuyên gia hiểu và cùng chia sẻ với nhau
trong khi chiến lược mang tính cá nhân.
Phương pháp cần tới kế hoạch hành động để đạt tới mục tiêu, còn kỹ thuật
chỉ cách thức tiến hành hay một tổ hợp cách thức tiến hành đặc thù.
1.1.2. Các cấp độ phương pháp nghiên cứu trong TLH

TLH cũng như mọi ngành khoa học khác, đều giải quyết các nhiệm vụ của
mình dựa vào những phương pháp nhất định. Tuy nhiên, phương pháp là một phạm
trù phức tạp với nội hàm không thuần nhất. Khi bàn về phương pháp của Tâm lý
học, nhiều tác giả chia thành 3 cấp độ:
- 11 -
- Cấp độ phương pháp luận.
- Cấp độ cách tiếp cận hoặc những nguyên tắc mang tính phương pháp luận.
- Cấp độ các phương pháp cụ thể [7].
Cấp độ phương pháp luận, về thực chất, là những quan điểm triết học của
nhà nghiên cứu. Có thể nhận thấy trong bất kì một tài liệu tâm lý học Mác xít nào
khi bàn đến các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học đều nhấn mạnh đến cơ sở
triết học, trước hết là những nguyên lý, các quy luật vận động của sự vật hiện tượng
khách quan và các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

triển của chúng.
- Ba quy luật vận động của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách
quan.
+ Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập của sự vật hiện
tượng. Những mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng chính là động lực thúc đẩy sự
phát triển.
+ Quy luật chuyển hoá từ biến đổi về lƣợng thành biến đổi về chất. Quy luật
này cho thấy quá trình phát triển của mọi sự vật hiện tượng không diễn ra theo con
đường thẳng, không chỉ là sự thay đổi về lượng. Quá trình phát triển của sự vật hiện
tượng trải qua các giai đoạn, sự chuyển biến từ giai đoạn này sang giai đoạn khác
chính là những bước nhảy vọt, sự thay đổi về chất.
+ Quy luật phủ định của phủ định. Quy luật này chỉ ra rằng trong quá trình
phát triển, mọi sự vật đều luôn biến đổi và chuyển hoá cho nhau để luôn tạo ra cái
mới chưa hề có. Cái mới chỉ có thể nảy sinh bằng cách phủ định cái trước đó để rồi
tự hình thành và hoàn thiện bản thân mình theo quy lụât của chính mình.
- Các cặp phạm trù:
- 13 -
Trong triết học Mác - Lê nin có rất nhiều cặp phạm trù. Đáng chú ý nhất có
những cặp:
+ Nội dung và hình thức
+ Cái chung và cái riêng
+ Nguyên nhân và kết quả
+ Tất nhiên và ngẫu nhiên
Những cặp phạm trù này giúp cho nhà nghiên cứu xem xét và phân tích các
sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
Những vấn đề chủ yếu trên của phép biện chứng duy vật là cơ sở triết học
cho các nghiên cứu tâm lý học. Chính vì vậy, việc xây dựng và phát triển bất kỳ
một phương pháp nghiên cứu nào cũng cần phải tuân thủ những nguyên tắc, quan
điểm triết học Mác - Lê nin.
1.1.2.2. Cấp độ phương pháp tiếp cận

vào những kiến thức này thì không thể hiểu một cách đầy đủ những đặc điểm của
quá trình nói trên [15,tr 114].
Trong các tài liệu đề cập đến tiếp cận hệ thống, các tác giả thường đưa ra một
số nguyên tắc:
- Trước hết, nghiên cứu một hiện tượng nào đó phải được xem xét ở nhiều
mặt hay nhiều bình diện.
+ Hiện tượng tâm lý được xem như một đơn vị có chất lượng, một hệ thống
có những quy luật đặc trưng của nó.
- 15 -
+ Một bộ phận của cấu trúc vĩ mô có những quy luật mà hiện tượng tâm lý
phải tuân theo (ở đây cấu trúc vĩ mô là hệ thống, trong đó có hiện tượng tâm lý
được nghiên cứu).
+ Ở phương diện hệ thống vi mô cũng có những quy luật mà hiện tượng tâm
lý phải tuân theo.
+ Ở phương diện tương tác với bên ngoài của nó, tức là cùng với điều kiện
tồn tại của nó.
- Phải tính đến tính chất tổng thể, hoàn chỉnh, trọn vẹn của đối tượng nghiên
cứu.
- Ngược lại, khi xem xét các hiện tượng tâm lý trong một hệ tọa độ nào đó,
chúng ta có thể làm cho nó trở nên trừu tượng không gắn với các phép đo khác để
nghiên cứu. Tất nhiên, với mục đích khoa học, sự trừu tượng hóa là hợp quy luật,
nhưng phải luôn luôn nhớ rằng, sự trừu tượng hóa chỉ cho phép nắm bắt được một
mặt của các hiện tượng tâm lý.
- Muốn thấy được tính chất tổng thể, hoàn chỉnh, trọn vẹn của đối tượng
nghiên cứu, phải đặt đối tượng nghiên cứu vào trong các quan hệ với các hiện
tượng khác, vào một hệ thống nào đó và xem trong hệ thống ấy, trong thời điểm
nào đó cái gì là hạt nhân.
- Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong sự vận động (nảy sinh, biến đổi,
phát triển), đồng thời cũng thấy tính ổn định (trong một thời điểm nhất định, những
điều kiện nhất định).

đích hoạt động của họ. Lẽ đương nhiên, hệ thống động cơ mục đích này đã bị biến
dạng dưới sự ảnh hưởng của yếu tố bệnh lý. Do vậy, tiếp cận hoạt động cho phép
chúng ta đánh giá được những biến đổi trong hệ thống động cơ mục đích cũng như
những thao tác mà bệnh nhân đã sử dụng.
- 17 -
Ở trên chúng tôi đã lưu ý đến quan điểm của Vưgôtxki bởi lẽ lúc đầu
pictogram được A.R.Luria thiết kế dựa trên luận điểm về tính gián tiếp của các
chức năng tâm lý do Vưgôtxki đề xuất. Những học trò sau này của ông như
X.Ia.Rubinstein, B.V.Zeygarnik đã đi sâu vào phân tích các thao tác cũng như
những phương tiện mà người bệnh TTPL nói riêng và người bệnh nói chung sử
dụng trong quá trình thực hiện bài tập.
1.1.2.3. Cấp độ các phương pháp cụ thể

TLH sử dụng nhiều phương pháp cụ thể để tiến hành nghiên cứu. Có thể kể
ra các phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu như phương pháp quan sát, phương
pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp chuyên gia,
phương pháp đàm thoại, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thực
nghiệm, phương pháp trắc nghiệm Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đi sâu
vào hai phương pháp sử dụng chủ yếu trong TLH lâm sàng: trắc nghiệm và thực
nghiệm
- Trắc nghiệm:
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng: Trắc nghiệm là một phƣơng pháp
trong chẩn đoán tâm lý có sử dụng những câu hỏi và bài tập đƣợc chuẩn hoá (các
test) theo những thang nhất định. Trắc nghiệm còn đƣợc sử dụng để chuẩn hoá
những phép đo, những đặc điểm cá nhân. [6; 286].
Về cơ bản, các trắc nghiệm tâm lý được xây dựng theo hướng đo đạc. Do
vậy, bất kỳ một trắc nghiệm tâm lý nào cũng đều phải đáp ứng được các yêu cầu:
- Chuẩn (Noms)
Kết quả trắc nghiệm của bất kì một cá nhân nào cũng đều phải được so sánh
với kết quả của nhóm chuẩn (thường được gọi là điểm chuẩn). Điểm chuẩn của trắc

nghiên cứu, đây cũng chính là nét khác biệt cơ bản giữa thực nghiệm và trắc
nghiệm. Đặc điểm khác nữa của thực nghiệm chính là phân tích định tính. Và nói
cho cùng, những con số trong phương pháp định lượng về tâm lý chỉ là những cái
mốc có tính phân loại, nghĩa là rút cục vẫn có tính định tính. Chúng ta có thể so
sánh những sự khác nhau giữa phương pháp định lượng và định tính qua bảng 1.1.
Phân loại thực nghiệm theo hình thức thực hiện có thực nghiệm tự nhiên và
thực nghiệm trong phòng thí nghiệm; phân loại theo mục đích có thực nghiệm phát
hiện/xác định và thực nghiệm hình thành.
- 20 -
Bảng 1.1. So sánh giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lƣợng
- Cung cấp hiểu biết sâu
- Cung cấp hiểu biết một cách khái quát,
tổng thể
- Trả lời câu hỏi Tại sao
- Trả lời câu hỏi Bao nhiêu
- Mang tính chủ quan
- Mang tính khách quan hơn
- Thường mang tính chất tìm kiếm,
khám phá, thăm dò
- Cung cấp những chứng cứ để chứng
minh, kiểm nghiệm và có tính chất
khẳng định
- Nghiên cứu các yếu tố tâm lý đằng
sau các phản ứng, bên trong các phản
ứng, cách ứng xử, triển vọng phát triển
- Đo những hành động của một nhóm
người


dấu hiệu được nghiên cứu. Với góc độ này, trắc nghiệm là một dạng sơ đẳng của
thực nghiệm mà chúng ta phải thực hiện nó trong những điều kiện chuẩn với những
nhân viên được đào tạo.
Còn theo X.G. Ghenlecstein (1969): "Trắc nghiệm đó là một thực nghiệm
thử nghiệm, mang tính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một
hình thức nhất định của tính tích cực và việc thực hiện nó là một triệu chứng của
sự hoàn thiện các chức năng nhất định, đƣợc đánh giá về mặt định lƣợng và định
tính" [17; 38]. Như vậy, trắc nghiệm thực chất là một biến dạng của thực nghiệm.
Như đã đề cập ở trên, ƣu điểm của thực nghiệm là phân tích định tính còn
thế mạnh của trắc nghiệm là định lƣợng. Trong chẩn đoán tâm lý lâm sàng nhiều
khi rất cần định lượng, ví dụ như đánh giá mức độ giảm sút trí tuệ. Tuy nhiên, nếu
chỉ sử dụng yếu tố định lượng thì sẽ gặp khó khăn trong việc phân tích quan hệ
nhân - quả. Bên cạnh đó, cũng cần phải phân tích, xác định những đặc điểm, tính
chất của các biến đổi tâm lý, vì thế không thể xem nhẹ yếu tố định tính.
- 22 -
Những luận điểm về phương pháp luận cũng như về phương pháp tiếp cận
như đã phân tích ở trên chính là cơ sở để chúng tôi định hướng trong quá trình hoàn
thiện và phát triển pictogram.
Trên bình diện phương pháp cụ thể, Pictogram không định hướng theo trắc
nghiệm chặt chẽ, với những quy trình kĩ thuật chuẩn cũng như phải xác định các
chuẩn, độ tin cậy hoặc độ hiệu lực theo như một trắc nghiệm chuẩn cần có. Điều
này vượt quá khuôn khổ của luận văn cũng như khả năng của chúng tôi. Mặt khác,
ngay cả khi nếu như chúng ta làm được điều đó thì cũng không thể bỏ qua được
phân tích định tính bởi lẽ mục đích chính của nghiên cứu này là bước đầu xây
dựng, hoàn thiện Pictgrram để nó có thể trở thành một trong những công cụ chẩn
đoán tâm lý lâm sàng.
Từ những ý tưởng như vậy, chúng tôi định hướng Pictogram theo dạng thực
nghiệm xác định có kết hợp với định lượng.
1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN
PHÂN LIỆT [2],[21]

cảm xúc đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
c: Ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay
thảo luận với nhau về bệnh nhân hay các loại ảo thanh khác xuất phát từ một bộ
phận nào đó của cơ thể.
d: Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn
hoá và hoàn toàn không thể có được như tính thống nhất về tôn giáo hay chính trị
- 24 -
hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân (ví dụ: Có khả năng điều khiển thời
tiết hoặc có khả năng tiếp xúc với người của thế giới khác).
Nếu không có những triệu chứng trên, có thể chẩn đoán là TTPL khi có ít
nhất 2 trong số các triệu chứng dưới đây:
e: Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng
thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm
theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều
tháng.
f: Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói đưa đến tư duy không liên
quan hay lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.
g: Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng, hay
uốn sáp, phủ định, không nói hay sững sờ.
h: Các triệu chứng âm tính như: Vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn,
các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp, thường đưa đến cách ly xã hội
hay giảm sút hiệu suất lao động xã hội, phải rõ ràng là các triệu chứng âm tính nói
trên không do trầm cảm hay thuốc an thần kinh gây ra.
i: Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập
tính cá nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mải
mê suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội.[2],[4]
1.2.3. Đặc điểm rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

TTPL là một loại bệnh có những thể bệnh khác nhau. Tuy nhiên chúng đều
có hai tính chất chung của quá trình phân liệt: thứ nhất là tính thiếu hoà hợp và tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status