1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 1950, sau khi Chlorpromazine loại thuốc đầu tiên được tổng hợp
đến nay, ngành dược lý tâm thần đã có những bước tiến rõ rệt và có nhiều loại
thuốc mới ra đời đem lại nhiều hy vọng cho người bệnh, gia đình cũng như xã
hội, làm thay đổi kiến trúc bệnh viện, phương pháp quản lý cũng như điều trị
bệnh nhân tâm thần nói chung và bệnh nhân TTPL nói riêng.
Thuốc ATK là một loại thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh TTPL,
bệnh lý loạn thần nặng, mãn tính. Trước những năm 1990, trong thực hành
lâm sàng thuốc ATK được sử dụng là ATK điển hình (ATK cổ điển) gồm
những loại thuốc như Haloperidol, Levomepromazin, Aminazin…Những loại
thuốc này có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt là gây nhiều triệu chứng ngoại tháp
và khi gặp phải thường gây lo lắng, sợ hãi cho người bệnh và người nhà BN.
Việc xử lý tác dụng phụ này đôi khi rất khó, đặc biệt là loạn động muộn do
thuốc ATK thì đến nay hầu như chưa có cách điều trị một cách hiệu quả.
Thậm chí tác dụng phụ bồn chồn bất an có thể làm cho người bệnh khó chịu
dẫn đến tự sát [1]. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, có tới 45% loạn trương lực
cơ cấp do dùng thuốc loại Butyrophenon [2],[3],[4].
Các thuốc ATK thế hệ mới: Olanzapine, Risperdal…được đưa vào sử
dụng từ thập niên 90 và đã thể hiện được nhiều ưu việt trong điều trị, có tác
dụng trên cả nhóm triệu chứng âm tính và dương tính, đồng thời ít TDKMM.
Chính điều này đáp ứng được nhu cầu điều trị các bệnh lý tâm thần và cũng
cải thiện hình ảnh lâm sàng của BN tâm thần tại các bệnh viện tâm thần. Chất
lượng cuộc sống của người bệnh tâm thần được nâng cao nhờ thuốc ít tác
dụng phụ ngoại tháp, không tạo ra cảm giác khó chịu như bồn chồn bất
an…, người bệnh vẫn có thể dùng thuốc và làm việc được, tuân thủ chế độ
điều trị tốt hơn. Tuy thuốc ATK không điển hình không có những tác dụng
phụ như thuốc ATK điển hình nhưng những thuốc này lại có những tác
2
dng ph khỏc v l nguy c ca nhiu bnh lý nh hng n sc kho
nh cao huyt ỏp, ri lon chc nng tỡnh dc, ri lon ni tit [5]. Theo
Theo T chc Y t Th gii, t l ngi mc bnh TTPL l 0,3-1,5% dõn s,
Vit Nam t l ny l 0,47%. T l mi mc hng nm trong cng ng dõn
c khong 0,015% v t l mc bnh gia nam gii v n gii tng ng
nhau, nhng n gii cú xu hng khi phỏt mun hn [8],[9],[10]. Cỏc tỏc
gi u nhn thy rng: triu chng ca bnh TTPL gn ging nhau tt c
cỏc im nghiờn cu trong mi quc gia trờn ton th gii [11].
Trong thc hnh lõm sng tõm thn, ngi ta nhn thy bnh TTPL
chim v trớ hng u. Theo Andreasen N.C. v cs (1997).
n th k XVIII bnh TTPL mới đợc mô tả trong y văn trên cơ sở duy
vật biện chứng chứ không phải do ma quỷ. Công lao đó thuộc v nh Tâm
thần học ngời Đức-Griesinger W. (1818-1868), cho rằng bệnh tâm thần là do
rối loạn hoạt động của não bộ và là ngời đầu tiên gọi bệnh TTPL là bệnh "Sự
4
mất trí tiên phát" (Primary dementia). Sau đó nhiều tác giả khác cũng mô tả
các thể bệnh khác nhau.
Năm 1898, Kraepelin E. đã mô tả bệnh mất trí sớm "dementia precox".
Thuật ngữ này đã nhấn mạnh quá trình tiến triển mạn tính dẫn đến sa sút trí
tuệ sớm là đặc trng cho bệnh TTPL ngày nay. Đồng thời đã thống nhất các
bệnh độc lập của các tác giả khác dới tên gọi duy nhất là mất trí sớm:
"dementia precox". Năm 1911, Bleuler E., đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
chung của bệnh và đã kết luận bệnh TTPL không phải là một bệnh mà là một
nhóm bệnh kết hợp các triệu chứng , đã tìm ra đợc bản chất của nó là sự chia
cắt trong các hoạt động tâm thần và đề xuất một tên gọi mới là TTPL
"Schizophrenia". Thuật ngữ này đã nhanh chóng đợc chấp nhận và sử dụng
thống nhất cho đến ngày nay. Điểm khác nhau cơ bản của Bleuler E. với
Kraepelin E. là tiến triển dẫn đến sa sút không nhất thiết có trong bệnh TTPL.
Quan điểm của Bleuler E. đã mở rộng phạm vi chẩn đoán bệnh TTPL [9],[13],
[14],[15].
Bệnh TTPL đã đợc xem xét trong Hội nghị quốc tế về bệnh TTPL vào tháng
6 năm 1932. Ngời ta đã chú ý đến TTPL "lành tính" và phân định ranh giới giữa
đã đợc mở rộng thành 4 thể cổ điển của bệnh TTPL [19], [20]:
+ Tâm thần phân liệt thể đơn thuần.
+ Tâm thần phân liệt thể thanh xuân.
+ Tâm thần phân liệt thể căng trơng lực.
+ Tâm thần phân liệt thể Paranoid.
* Theo ICD-10 nm 1992:
Bnh TTPL c xp vo mc F20, bao gm cỏc th sau [13],[22].
F20 : Bnh tõm thn phõn lit.
F20.0: Tõm thn phõn lit th paranoid.
F20.1: Tõm thn phõn lit th thanh xuõn.
F20.2: Tõm thn phõn lit th cng trng lc.
F20.3: Tõm thn phõn lit th khụng bit nh.
F20.4: Tõm thn phõn lit th trm cm sau phõn lit.
F20.5: Tõm thn phõn lit th di chng.
F20.6: Tõm thn phõn lit th n thun.
6
F20.8: Tâm thần phân liệt các thể khác.
F20.9: Tâm thần phân liệt thể không xác định.
1.1.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Tâm thần phân liệt theo ICD-10(1992)
+ Theo ICD-10F (1992) của TCYTTG [22]: Mặc dù không xác định
được các triệu chứng đặc trưng của bệnh một cách chặt chẽ. Nhằm mục đích
thực tiễn người ta chia các triệu chứng thành từng nhóm có tầm quan trọng
đặc biệt đối với chẩn đoán, đó là:
a. Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị
phát thanh.
b. Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ
rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ,
hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
c. Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay
thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một
thương thực thể não.
1.1.5. Tâm thần phân liệt thể di chứng
1.1.5.1. Nghiên cứu vÒ tû lÖ m¾c bÖnh T©m thÇn ph©n liÖt thÓ di chứng.
Ở nước ta, điều tra dịch tễ một số bệnh tâm thần tại tỉnh Bình định năm 2001,
tỷ lệ mắc bệnh TTPL thể di chứng là 22,10% so với tổng số người bệnh TTPL.
Theo báo cáo phân loại người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm
thần trung ương năm 2012, tỷ lệ bệnh TTPL thể di chứng là 36,34% so với
tổng số người bệnh TTPL.
1.1.5.2. Các triệu chứng âm tính của bệnh Tâm thần phân liệt.
+ Các triệu chứng âm tính là sự tiêu hao, mất tính toàn vẹn, tính thống
nhất của hoạt động tâm thần. Theo Bleuler E., triệu chứng âm tính là nền tảng
8
của quá trình phân liệt và biểu hiện bằng tự kỷ trong hoạt động tâm thần và
giảm sút thế năng tâm thần:
- Khi tính thiếu hòa hợp đến mức độ cao thì trở thành tính tự kỷ, nổi bật
là tính dị kỳ, khó hiểu, khó thâm nhập.
- Sự giảm sút thế năng tâm thần: là giảm tính năng động, tính nhiệt tình
trong mọi hoạt động tâm thần, thể hiện bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh,
bàng quan, vô cảm. Tư duy trở nên nghèo nàn, cứng nhắc, học tập sút kém,
suy giảm các chức năng lao động, chăm sóc vệ sinh cá nhân.
- Triệu chứng âm tính của TTPL: bao gồm các triệu chứng như suy giảm
trong đáp ứng cảm xúc, lời nói và ý chí.
- Các mối tương quan của các triệu chứng âm tính: Chứng cứ gần đây
cho thấy suy giảm nhận thức trong TTPL phần lớn không liên quan đến các
triệu chứng dương tính, đặc biệt là hoang tưởng và ảo giác. Suy giảm nhận
thức liên quan đến các triệu chứng âm tính biểu hiện bằng suy giảm về năng
lực trí tuệ chung và năng lực ra quyết định [61].
+ Tỉ lệ: Trong các mẫu lâm sàng, BN TTPL có các triệu chứng âm tính
nguyên phát chiếm khoảng 20% - 30%, trái lại trong các mẫu cộng đồng, BN
TTPL có triệu chứng âm tính chiếm 14% - 17% số BN. Carpenter & cs (1988)
dẻo, linh hoạt, cơ động trong suy nghĩ.
+ Mất sáng kiến, mất cơ động: BN không còn khả năng sáng tạo, không
còn ganh đua, cạnh tranh với bạn bè, đồng nghiệp hiệu quả học tập và lao
động của họ kém dần.
10
+ Tự kỷ: BN sống khép kín trong thế giới riêng kỳ dị, có nhiều hành vi
và lời nói rất khó hiểu, nói một mình.
+ Tư duy chậm chạp: Biểu hiện tình trạng suy nghĩ khó khăn, dòng ý
tưởng chậm chạp. Biểu hiện này chiếm 23% số BN trong nghiên cứu của
Andreasen N.C. (1996) [33].
+ Tư duy ngắt quãng: Khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của BN
dường như bị cắt đứt làm cho BN không nói được nữa và một lúc lâu sau đó
lại tiếp tục nói sang chủ đề khác. Theo Andreansen N.C. (1996) có khoảng
15% BN có triệu chứng này [33].
Rối loạn hoạt động có ý chí.
+ Giảm hoạt động có ý chí: giảm dần các hoạt động có kế hoạch, nỗ lực
cố gắng phấn đấu
+ Giảm các động tác tự nhiên vốn có: thường thụ động trả lời các câu hỏi
của người phỏng vấn , có các động tác khi trò chuyện như vung tay, xua tay, lắc
đầu 37% BN có biểu hiện này.
+ Tha hóa trong lối sống, tác phong hàng ngày: BN mất dần các khái
niệm về nghĩa vụ, quyền lợi, đạo đức, lạm dụng chất, nghiện chất. Họ dần chỉ
còn các hoạt động bản năng.
- Thiếu ý chí: biểu hiện bằng tình trạng mất khả năng khởi đầu có ý chí,
duy trì và kiểm soát các hoạt động hướng mục đích.
- Kém chăm sóc cá nhân và hoạt động xã hội: ăn mặc lôi thôi, luôn
phải nhắc nhở, thúc giục trong việc vệ sinh cá nhân như cắt tóc [41].
- Lười lao động: Trong công việc và học tập, BN thường tỏ ra lười nhác,
thụ động và kém sáng kiến, cần phải nhắc nhở [18].
- Cách ly xã hội: tình trạng mất sự đồng cảm với mọi người, mất đi sự cởi
giải tỏa bản năng tình dục như thủ dâm, loạn dục với súc vật
12
Rối loạn nhận thức.
+ Rối loạn chú ý: Rối loạn chú ý có thể gặp ở các khía cạnh : khả năng
duy trì sự chú ý, chú ý có chọn lọc, khoảng thời gian tập trung chú ý, khả năng di
chuyển chú ý
+ Rối loạn trí nhớ: có những bằng chứng các BN TTPL mãn tính có
hiện tượng quên toàn bộ (cả thuận chiều và ngược chiều) [31].
+ Rối loạn trí tuệ: Một số nghiên cứu trước đây cho rằng sự suy giảm
trí tụê đã có ngay ở giai đoạn trước loạn thần và kéo dài suốt trong quá trình
bệnh lý với mức độ sa sút ngày càng trầm trọng (Rappaport và Webb, 1950) .
Tuy nhiên ngày nay theo quan điểm của DSM - IV và ICD - 10, trong
bệnh TTPL, năng lực trí tuệ thường được duy trì mặc dù có một số thiếu sót
về nhận thức có thể xuất hiện trong quá trình tiến triển [24], [45].
1.1.6. Chẩn đoán Tâm thần phân liệt thể di chứng theo ICD-10 (1992)
+ Các tiêu chẩn chung cho chẩn đoán Tâm thần phân liệt (mục F20 của
ICD-10) phải được thoả mãn.
+ Tâm thần phân liệt thể di chứng: Một giai đoạn mãn tính trong tiến
triển bệnh TTPL trong đó có sự tăng tiến rõ rệt của một giai đoạn sớm (bao
gồm một hay nhiều thời kỳ với những triệu chứng loạn thần đáp ứng các tiêu
chuẩn chung chuẩn đoán TTPL mô tả ở trên) đến một giai đoạn muộn hơn với
những đặc trưng là có những triệu chứng “âm tính” kéo dài nhưng không nhất
thiết phải là không hồi phục.
+ Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Muốn có một chẩn đoán tin cậy, những yêu cầu sau đây phải được đáp ứng:
- Những triệu chứng phân liệt “âm tính” nổi bật lên, tức là: sự chậm chạp
tâm lý hoạt động vận động kém, cảm xúc cùn mòn, tính bị động và thiếu sáng
kiến, ngôn ngữ nghèo nàn về lượng hay về nội dung, nghèo nàn trong giao
tiếp không dung lời như biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng ánh mắt, âm điệu lời
nói và tư thế, kém chăm sóc cá nhân và kém hoạt động xã hội.
dung nạp điều trị. Đặc biệt có rất nhiều tác dụng phụ gồm: loạn trương lực cơ,
bồn chồn, Parkinson, rối loạn vận động muộn, hội chứng thần kinh ác tính,
giảm ngưỡng co giật, tụt huyết áp tư thế, vú to, tăng cân, mất kinh, giảm tình
dục
Hiện nay, nhóm thuốc ATK điển hình không là thuốc chính để điều trị
bệnh TTPL hay các bệnh lý có các triệu chứng loạn thần. Các nhóm thuốc
ATK mới thay thế nhóm thuốc ATK cũ càng nhiều. Không chỉ do các thuốc
ATK mới này ít gây các triệu chứng ngoại tháp mà còn điều trị triệu chứng
âm tính trongTTPL, suy giảm nhận thức, trầm cảm
1.2.2. Thuốc an thần kinh không điển hình
Các thuốc đối vận SDA còn được gọi là thuốc ATK mới; thuốc ATK
thế hệ 2; thuốc ATK không điển hình. Bao gồm: Risperidone, Olanzapine,
Quetiapine, Clozapine Thuốc phong tỏa thụ thể Serotonine 5-HT
2
và thụ
thể D
2
. SDA cũng tác động chuyên biệt lên hệ Dopamine ở Mesolimbic nhiều
hơn ở thể vân.
+ Tất cả các thuốc ATK mới có cùng đặc tính sau:
1. Phong tỏa ít thụ thể D
2
hơn so với thuốc ATK cũ.
2. Ít có nguy cơ mắc phải hội chứng ngoại tháp hơn so với thuốc chống ATK
cũ, nhất là rối loạn vận động muộn.
3. Có kết quả rõ rệt trong điều trị TTPL.
4. Có kết quả rõ rệt trong điều trị cơn hưng cảm.
- Mặc dù ít nhưng các thuốc ATK mới vẫn có tác dụng phụ ngoại tháp,
còn gây tăng cân đáng kể, và làm tăng nguy cơ mắc phải bệnh tiểu đường
* Cơ chế giải thích các ưu việt của ATK mới :
dng trên ngi ti M t nm 1996.
1.2.3.2. Dc lc và Dợc động học của Olanzapine [30].
+ Dc lc v cơ chế tác dụng của Olanzapine: Olanzapine l thuc
chng lon thn cú hot tớnh dc lý hc rng .
+ Dc ng hc:
- Hp thu: gn 85% Olanzapine c hp thu qua ng tiờu húa v cú
n 40% liu b bt hot khi chuyn húa u tiờn gan. Olanzapine hp thu
tt khi ung, t nng nh trong huyt tng trong vũng 5 n 8 gi.
Cu trỳc phõn t ca olanzapine
16
- Phân bố: Khoảng 93% Olanzapine gắn kết với Protein huyết tương.
- Chuyển hoá: Olanzapin chuyển hóa tại gan qua cơ chế liên hợp và oxy hóa.
- Thải trừ: thời gian bán thải trung bình ở người khỏe mạnh thay đổi phụ
thuộc vào tuổi và giới tính, thời gian bán thải trung bình là 33 giờ và độ thanh
thải huyết tương trung bình của Olanzapine là 26L/giờ.
1.2.3.3. Chỉ ®ịnh ®iÒu trÞ cña Olanzapin
Olanzapine dùng điều trị tấn công và duy trì bệnhTTPL, cũng như các
bệnh loạn thần khác mà có những biểu hiện rõ rệt của các triệu chứng dương
tính ( hoang tưởng, ảo giác ), các triệu chứng âm tính (cảm xúc cùn mòn,
lãnh đạm, ngôn ngữ nghèo nàn [30].
1.2.3.4. Chèng chỉ ®Þnh khi sö dông Olanzapine
Có tiền sử mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.
1.2.3.5. Thận trọng lúc dùng
- Cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt, tắc ruột liệt [30]
- Người bệnh có tiền sử động kinh hoặc có những yếu tố làm giảm
ngưỡng động kinh.
- Loạn vận động muộn: Những triệu chứng loạn vận động muộn có thể
nặng lên theo thời gian hoặc xuất hiện sau khi ngừng điều trị.
- Hạ huyết áp tư thế ít khi xảy ra ở những người lớn tuổi.
- Lúc có thai: chỉ nên dùng thuốc ở người mang thai khi lợi ích đem lại
kết quả [31]: Tổng điểm BPRS giảm nhanh và nhiều ở nhóm người bệnh điều trị
bằng Olanzapine, sự khác biệt với p<0,01. Tác dụng phụ kháng Cholonergic như
khô miệng thường gặp ở nhóm người bệnh điều trị bằng Olanzapine 15mg/ngày.
Nghiên cứ trên 339 người bệnh được chẩn đoán TTPL và rối loạn loạn thần
khác được điều trị bằng Olanzapine hoặc Risperdal của Tollefson G.D. và cộng sự
18
(1997) [31] trong thời gian 8 tuần cho thấy 57,6% BN dùng Olanzapine biểu hiện
đáp ứng tốt với điều trị và 47,3 ở nhóm điều trị bằng Risperdal.
Năm 1997, khi tổng kết thử nghiệm mù đôi có đối chứng giữa
Olanzapine và Risperdal tại Mỹ, tác giả Hamilton S.H. có nhận xét [31]:
- Olanzapine với liều 10-20mg và Risperdal liều 4-12mg tác dụng tốt
trong điều trị các triệu chứng loạn thần, trong đó Olanzapine tác dụng tốt
trong việc cải thiện các triệu chứng âm tính.
- Các biểu hiện liên quan đến tăng tiết Prolactin, suy giảm tình dục ít
gặp trong nhóm điều trị bằng Olanzapine, nhưng các biểu hiện tăng cân lại
thường gặp.
Robert R Zipusky và các cộng sự (2005) nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi
trên 18 người bệnh rối loạn loạn thần cấp khởi phát trước tuổi 35, đánh giá
thông qua thang PANSS và thang CGI được điều trị bằng Haloperidol và
Olanzapine. Kết quả cho thấy sau 2 tuần điều trị, số điểm thang PANSS và
thang CGI giảm ở hai nhóm không có sự khác biệt [32].
Theo nhóm tác giả Beaslay CM Jr, Sang T, Tollefson G và các cộng sự
tiến hành nghiên cứu mù đôi trên BN TTPL với Olanzapine so sánh đối
chứng sau ba tuần điều trị cho kết quả [31]: trên nhóm BN được điều trị bằng
10mg Olanzapine có sự cải thiện rõ rệt trên thang PANSS, dương tính và âm
tính, thang BPRS so với nhóm điều trị bằng Placebo và nhóm điều trị bằng
1mg/ngày Olanzapine. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Đồng thời nhóm dùng Placebo và dùng 1mg/ngày Olanzapine không có sự
khác nhau trên các thang điểm lâm sàng.
Theo thống kê trên một số lượng lớn BN sau một thời gian điều trị bằng
và qui trình nghiên cứu đã đề ra.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Bệnh nhân có chống chỉ định với thuốc Olanzapine.
+ Không đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân không đáp ứng với tiêu
chẩn đoán Tâm thần phân liệt thể di chứng.
+ Không đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân có bệnh lý phối hợp như
viên gan, suy thận, tiểu đường v v
+ Loại trừ các bệnh nhân có tiền sử sử dụng ma túy và rượu.
+ Loại trừ những bệnh nhân không có người nhà cung cấp bệnh sử, tiền
sử, không hợp tác trong quá trình nghiên cứu và làm các xét nghiệm.
2.1.3. Nhóm nghiên cứu
2.1.3.1. Theo dõi lâm sàng
Đối tượng nghiên cứu được theo dõi và đánh giá lâm sàng trước khi
bước vào nghiên cứu theo kế hoạch đã định sẵn (T
0
).
2.1.3.2. Theo dõi kết quả điều trị:
Đối tượng nghiên cứu được tiến hành điều trị và theo dõi tiến triển của
các triệu chứng âm tính trong quá trình điều trị theo từng thời điểm ứng với
thời gian đã định sẵn (T
1
, T
2
, T
3
và T
4
) là 58 ngày.
21
Tất cả các bệnh nhân trong nhóm này được đánh giá quá trình tiến triển
2.2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân
nghiên cứu bằng thuốc Olanzapine.
Công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp bằng thuốc an thần kinh
không nhóm đối chứng.
( ) ( )
( )
2
2
01
11100
2
1
11
PP
PPZPPZ
n
−
−+−
=
−
−
βα
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu.
cứu này là 36 bệnh nhân.
Trong quá trình thu thập số liệu lấy được 39 BN.
2.2.2.2. Ph¬ng ph¸p chän mÉu
Toàn bộ BN được chẩn đoán bệnh TTPL thể di chứng theo tiêu chuẩn
ICD-10, đang điều trị nội trú tại bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, sử dụng
Olanzapine, khám lâm sàng và thang đánh giá (thang PANSS, CGI) trong thời
gian từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2013. Loại trừ các BN không đáp ứng với
tiêu chuẩn nghiên cứu. Những BN đáp ứng đủ các tiêu chuẩn được đưa vào
nhóm nghiên cứu.
2.2.3. Các biến số nghiên cứu
2.2.3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
+ Tuổi phát bệnh.
+ Giới.
+ Trình độ học vấn.
+ Nghề nghiệp.
+ Tình trạng hôn nhân.
+ Tiền sử gia đình.
+ Điều kiện kinh tế.
2.2.3.2. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng âm tính
+ Nhân cách tiền bệnh lý.
23
+ Tuổi phát bệnh.
+ Không được điều trị.
+ Can thiệp chậm.
+ Không tuân thủ điều trị.
+ Điều trị bằng thuốc chống loạn thần cổ điển.
+ Nhu cầu lao động và xã hội của bệnh nhân.
+ Các vấn đề khác…
2.2.3.3. Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu
+ Thời gian khởi phát: tính từ khi người bệnh bắt đầu có các triệu chứng
+ Mất dần ham thích hứng thú
+ Giảm dần khả năng rung động cảm xúc
Trong tư duy
+ Tư duy nghèo nàn
+ Tư duy cứng nhắc, mất tính hài hước
+ Mất sáng kiến, mất cơ động, học tập, công tác giảm sút dần
+ Tự kỷ, nói một mình, lời nói khó hiểu, thế giới riêng khép kín
Trong hành vi tác phong
+ Giảm các hoạt động có ý chí
+ Lười nhác trong lao động
+ Hành vi kỳ quái trong thế giới tự kỷ.
- Các triệu chứng âm tính thứ phát
Chậm chạp, mệt mỏi, mất hứng thú
Trạng thái ức chế tâm thần, triệu chứng ngoại tháp : Do thuốc điều
trị, đặc biệt là do các ATK cổ điển.
Lo sợ, kín khép, ngại giao tiếp Do xấu hổ, do môi trường.
Tư duy, hành vi, cảm xúc kỳ dị. Do hoang tưởng ảo giác chi phối.
- Các triệu chứng cơ thể:Đau đầu,mất ngủ,mệt mỏi kéo dài
25
2.2.4. Các phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu
+ Nhóm bệnh nhân nghiên cứu bao gồm 39 BN sử dụng thuốc
Olanzapine, là nghiên cứu hiệu quả lâm sàng tác dụng trên các triệu chứng âm
tính của bệnh nhân TTPL thể di chứng, điều trị nội trú trong Bệnh viện Tâm
thần Trung ương 1.
+ Sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp mở phân tích lâm sàng
từng trường hợp theo 4 thời điểm (T
1
, T
2
, T
2
kéo
dài 7 ngày (tổng thời gian của T
1
và T
2
là khoảng 14 ngày).