1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 1950, sau khi Chlorpromazine loại thuốc đầu tiên được tổng hợp
đến nay, ngành dược lý tâm thần đã có những bước tiến rõ rệt và có nhiều loại
thuốc mới ra đời đem lại nhiều hy vọng cho người bệnh, gia đình cũng như xã
hội, làm thay đổi kiến trúc bệnh viện, phương pháp quản lý cũng như điều trị
bệnh nhân tâm thần nói chung và bệnh nhân TTPL nói riêng.
Thuốc ATK là một loại thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh TTPL,
bệnh lý loạn thần nặng, mãn tính. Trước những năm 1990, trong thực hành
lâm sàng thuốc ATK được sử dụng là ATK điển hình (ATK cổ điển) gồm
những loại thuốc như Haloperidol, Levomepromazin, Aminazin…Những loại
thuốc này có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt là gây nhiều triệu chứng ngoại tháp
và khi gặp phải thường gây lo lắng, sợ hãi cho người bệnh và người nhà BN.
Việc xử lý tác dụng phụ này đôi khi rất khó, đặc biệt là loạn động muộn do
thuốc ATK thì đến nay hầu như chưa có cách điều trị một cách hiệu quả.
Thậm chí tác dụng phụ bồn chồn bất an (BCBA) có thể làm cho người bệnh
khó chịu dẫn đến tự sát [1]. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, có tới 45% loạn
trương lực cơ cấp do dùng thuốc loại Butyrophenon [2],[3],[4].
Các thuốc ATK thế hệ mới: Olanzapin, Risperdal…được đưa vào sử
dụng từ thập niên 90 và đã thể hiện được nhiều ưu việt trong điều trị, có tác
dụng trên cả nhóm triệu chứng âm tính và dương tính, đồng thời ít TDKMM.
Chính điều này đáp ứng được nhu cầu điều trị các bệnh lý tâm thần và cũng
cải thiện hình ảnh lâm sàng của BN tâm thần tại các bệnh viện tâm thần. Chất
lượng cuộc sống của người bệnh tâm thần được nâng cao nhờ thuốc ít tác
dụng phụ ngoại tháp, không tạo ra cảm giác khó chịu như bồn chồn bất
an…, người bệnh vẫn có thể dùng thuốc và làm việc được, tuân thủ chế độ
điều trị tốt hơn. Tuy thuốc ATK không điển hình không có những tác dụng
2
ph nh thuc ATK in hỡnh nhng nhng thuc ny li cú nhng tỏc
dng ph khỏc v l nguy c ca nhiu bnh lý nh hng n sc kho
nh cao huyt ỏp, ri lon chc nng tỡnh dc, ri lon ni tit [5]. Theo
Theo T chc Y t Th gii, t l ngi mc bnh TTPL l 0,3-1,5% dõn s,
Vit Nam t l ny l 0,47%. T l mi mc hng nm trong cng ng dõn
c khong 0,015% v t l mc bnh gia nam gii v n gii tng ng
nhau, nhng n gii cú xu hng khi phỏt mun hn [8],[9],[10]. Cỏc tỏc
gi u nhn thy rng: triu chng ca bnh TTPL gn ging nhau tt c
cỏc im nghiờn cu trong mi quc gia trờn ton th gii [11].
Trong thc hnh lõm sng tõm thn, ngi ta nhn thy bnh TTPL
chim v trớ hng u. Theo Andreasen N.C. v cs (1997).
n th k XVIII bnh TTPL mới đợc mô tả trong y văn trên cơ sở duy
vật biện chứng chứ không phải do ma quỷ. Công lao đó thuộc v nh Tâm
4
thần học ngời Đức-Griesinger W. (1818-1868), cho rằng bệnh tâm thần là do
rối loạn hoạt động của não bộ và là ngời đầu tiên gọi bệnh TTPL là bệnh "Sự
mất trí tiên phát" (Primary dementia). Sau đó nhiều tác giả khác cũng mô tả
các thể bệnh khác nhau.
Năm 1898, Kraepelin E. đã mô tả bệnh mất trí sớm "dementia precox".
Thuật ngữ này đã nhấn mạnh quá trình tiến triển mạn tính dẫn đến sa sút trí
tuệ sớm là đặc trng cho bệnh TTPL ngày nay. Đồng thời đã thống nhất các
bệnh độc lập của các tác giả khác dới tên gọi duy nhất là mất trí sớm:
"dementia precox". Năm 1911, Bleuler E., đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
chung của bệnh và đã kết luận bệnh TTPL không phải là một bệnh mà là
một nhóm bệnh kết hợp các triệu chứng , đã tìm ra đợc bản chất của nó là
sự chia cắt trong các hoạt động tâm thần và đề xuất một tên gọi mới là
TTPL "Schizophrenia". Thuật ngữ này đã nhanh chóng đợc chấp nhận và sử
dụng thống nhất cho đến ngày nay. Điểm khác nhau cơ bản của Bleuler E.
với Kraepelin E. là tiến triển dẫn đến sa sút không nhất thiết có trong bệnh
TTPL. Quan điểm của Bleuler E. đã mở rộng phạm vi chẩn đoán bệnh TTPL
[11],[9],[12],[13].
Bệnh TTPL đã đợc xem xét trong Hội nghị quốc tế về bệnh TTPL vào tháng
6 năm 1932. Ngời ta đã chú ý đến TTPL "lành tính" và phân định ranh giới giữa
đã đợc mở rộng thành 4 thể cổ điển của bệnh TTPL [16], [17].
+ Tâm thần phân liệt thể đơn thuần.
+ Tâm thần phân liệt thể thanh xuân.
+ Tâm thần phân liệt thể căng trơng lực.
+ Tâm thần phân liệt thể Paranoid.
* Theo ICD-10 nm 1992:
Bnh TTPL c xp vo mc F20, bao gm cỏc th sau [18],[19].
F20 : Bnh tõm thn phõn lit.
6
F20.0: Tâm thần phân liệt thể paranoid.
F20.1: Tâm thần phân liệt thể thanh xuân.
F20.2: Tâm thần phân liệt thể căng trương lực.
F20.3: Tâm thần phân liệt thể không biệt định.
F20.4: Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt.
F20.5: Tâm thần phân liệt thể di chứng.
F20.6: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần.
F20.8: Tâm thần phân liệt các thể khác.
F20.9: Tâm thần phân liệt thể không xác định.
1.1.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Tâm thần phân liệt theo ICD-10(1992)
+ Theo ICD-10F (1992) của TCYTTG [19]: Mặc dù không xác định
được các triệu chứng đặc trưng của bệnh một cách chặt chẽ. Nhằm mục đích
thực tiễn người ta chia các triệu chứng thành từng nhóm có tầm quan trọng
đặc biệt đối với chẩn đoán, đó là:
a. Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị
phát thanh.
b. Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ
rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ,
hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
c. Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay
thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một
* Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh động kinh và các bệnh tổn
thương thực thể não.
1.1.5. Tâm thần phân liệt thể di chứng
1.1.5.1. Nghiên cứu vÒ tû lÖ m¾c bÖnh T©m thÇn ph©n liÖt thÓ di chứng
Ở nước ta, điều tra dịch tễ một số bệnh tâm thần tại tỉnh Bình định năm 2001,
tỷ lệ mắc bệnh TTPL thể di chứng là 22,10% so với tổng số người bệnh TTPL.
Theo báo cáo phân loại người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm
thần trung ương năm 2012, tỷ lệ bệnh TTPL thể di chứng là 36,34% so với
tổng số người bệnh TTPL.
1.1.5.2. Các triệu chứng âm tính của bệnh Tâm thần phân liệt
+ Các triệu chứng âm tính là sự tiêu hao, mất tính toàn vẹn, tính thống
nhất của hoạt động tâm thần. Theo Bleuler E., triệu chứng âm tính là nền tảng
của quá trình phân liệt và biểu hiện bằng tự kỷ trong hoạt động tâm thần và
giảm sút thế năng tâm thần:
- Khi tính thiếu hòa hợp đến mức độ cao thì trở thành tính tự kỷ, nổi bật
là tính dị kỳ, khó hiểu, khó thâm nhập.
- Sự giảm sút thế năng tâm thần: là giảm tính năng động, tính nhiệt tình
trong mọi hoạt động tâm thần, thể hiện bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh,
bàng quan, vô cảm. Tư duy trở nên nghèo nàn, cứng nhắc, học tập sút kém,
suy giảm các chức năng lao động, chăm sóc vệ sinh cá nhân.
- Triệu chứng âm tính của TTPL: bao gồm các triệu chứng như suy giảm
trong đáp ứng cảm xúc, lời nói và ý chí.
- Các mối tương quan của các triệu chứng âm tính: Chứng cứ gần đây
cho thấy suy giảm nhận thức trong TTPL phần lớn không liên quan đến các
triệu chứng dương tính, đặc biệt là hoang tưởng và ảo giác. Suy giảm nhận
9
thức liên quan đến các triệu chứng âm tính biểu hiện bằng suy giảm về năng
lực trí tuệ chung và năng lực ra quyết định.
+ Tỉ lệ: Trong các mẫu lâm sàng, BN TTPL có các triệu chứng âm tính
nguyên phát chiếm khoảng 20% - 30%, trái lại trong các mẫu cộng đồng, BN
+ Tư duy cứng nhắc, mất tính hài hước: BN không có khả năng mềm
dẻo, linh hoạt, cơ động trong suy nghĩ.
+ Mất sáng kiến, mất cơ động: BN không còn khả năng sáng tạo, không
còn ganh đua, cạnh tranh với bạn bè, đồng nghiệp hiệu quả học tập và lao
động của họ kém dần.
+ Tự kỷ: BN sống khép kín trong thế giới riêng kỳ dị, có nhiều hành vi
và lời nói rất khó hiểu, nói một mình.
+ Tư duy chậm chạp: Biểu hiện tình trạng suy nghĩ khó khăn, dòng ý
tưởng chậm chạp. Biểu hiện này chiếm 23% số BN trong nghiên cứu của
Andreasen N.C. (1996) [21].
+ Tư duy ngắt quãng: Khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của BN
dường như bị cắt đứt làm cho BN không nói được nữa và một lúc lâu sau đó
lại tiếp tục nói sang chủ đề khác. Theo Andreansen N.C. (1996) có khoảng
15% BN có triệu chứng này [21].
Rối loạn hoạt động có ý chí.
+ Giảm hoạt động có ý chí: giảm dần các hoạt động có kế hoạch, nỗ lực
cố gắng phấn đấu
11
+ Giảm các động tác tự nhiên vốn có: thường thụ động trả lời các câu hỏi
của người phỏng vấn , có các động tác khi trò chuyện như vung tay, xua tay, lắc
đầu 37% BN có biểu hiện này.
+ Tha hóa trong lối sống, tác phong hàng ngày: BN mất dần các khái
niệm về nghĩa vụ, quyền lợi, đạo đức, lạm dụng chất, nghiện chất. Họ dần chỉ
còn các hoạt động bản năng.
- Thiếu ý chí: biểu hiện bằng tình trạng mất khả năng khởi đầu có ý chí,
duy trì và kiểm soát các hoạt động hướng mục đích.
- Kém chăm sóc cá nhân và hoạt động xã hội: ăn mặc lôi thôi, luôn
phải nhắc nhở, thúc giục trong việc vệ sinh cá nhân như cắt tóc [23].
- Lười lao động: Trong công việc và học tập, BN thường tỏ ra lười nhác,
thụ động và kém sáng kiến, cần phải nhắc nhở [24].
nhiên biểu hiện này không phải là đặc hiệu. Ở giai đoạn mạn tính có thể gặp
giải tỏa bản năng tình dục như thủ dâm, loạn dục với súc vật
Rối loạn nhận thức.
+ Rối loạn chú ý: Rối loạn chú ý có thể gặp ở các khía cạnh : khả năng
duy trì sự chú ý, chú ý có chọn lọc, khoảng thời gian tập trung chú ý, khả năng di
chuyển chú ý
+ Rối loạn trí nhớ: có những bằng chứng các BN TTPL mãn tính có
hiện tượng quên toàn bộ (cả thuận chiều và ngược chiều) [30].
13
+ Ri lon trớ tu: Mt s nghiờn cu trc õy cho rng s suy gim
trớ tờ ó cú ngay giai on trc lon thn v kộo di sut trong quỏ trỡnh
bnh lý vi mc sa sỳt ngy cng trm trng (Rappaport v Webb, 1950) .
Tuy nhiờn ngy nay theo quan im ca DSM - IV v ICD - 10, trong
bnh TTPL, nng lc trớ tu thng c duy trỡ mc dự cú mt s thiu sút
v nhn thc cú th xut hin trong quỏ trỡnh tin trin [19], [31].
1.1.5.4 Triệu chứng âm tính nguyờn phát và thứ phát.
Eaton W.W. và cs. (1995), cho rằng các triệu chứng âm tính trong TTPL
là biểu hiện của sự thiếu sót trong cấu trúc của hệ thần kinh gi l triu chng
õm tớnh nguyờn phỏt.
Một trong những vấn đề khó khăn nhất trong nghiên cứu triệu chứng âm
tính của TTPL là sự xác nhận các triệu chứng âm tính có thể xuất hiện nh là
hậu quả của rất nhiều yếu tố hoàn toàn không liên quan với tình trạng thiếu
sót về cấu trúc thần kinh. Các triệu chứng âm tính đó đợc gọi là triệu chứng
âm tính thứ phát.
Nguyên nhân thờng gặp nhất là [32]:
Tác dụng phụ của an thần kinh (ví dụ: akinesia).
Trầm cảm thờng gặp trong TTPL, mà đặc biệt ở giai đoạn di chứng.
Sự đáp ứng với chính các trải nghiệm loạn thần (ví dụ: sự né tránh xã
hội thứ phát do tình trạng paranoia) và đáp ứng với các khía cạnh bệnh y sinh
(ví dụ: cỡng bức nằm viện, bắt phải uống thuốc ).
+ Tõm thn phõn lit th di chng: Mt giai on món tớnh trong tin
trin bnh TTPL trong ú cú s tng tin rừ rt ca mt giai on sm (bao
gm mt hay nhiu thi k vi nhng triu chng lon thn ỏp ng cỏc tiờu
chun chung chun oỏn TTPL mụ t trờn) n mt giai on mun hn vi
nhng c trng l cú nhng triu chng õm tớnh kộo di nhng khụng nht
thit phi l khụng hi phc.
+ Cỏc nguyờn tc ch o chn oỏn.
Mun cú mt chn oỏn tin cy, nhng yờu cu sau õy phi c ỏp ng:
15
- Những triệu chứng phân liệt “âm tính” nổi bật lên, tức là: sự chậm chạp
tâm lý hoạt động vận động kém, cảm xúc cùn mòn, tính bị động và thiếu sáng
kiến, ngôn ngữ nghèo nàn về lượng hay về nội dung, nghèo nàn trong giao
tiếp không dung lời như biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng ánh mắt, âm điệu lời
nói và tư thế, kém chăm sóc cá nhân và kém hoạt động xã hội.
- Trong quá khứ chắc chắn có ít nhất một giai đoạn loạn thần, đáp ứng
các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL.
- Một thời kỳ ít nhất cũng một năm trong đó cường độ và tần số các triệu
chứng phong phú như hoang tưởng và ảo giác chỉ còn tối thiểu hoặc giảm nhẹ
về cơ bản và hội chứng “âm tính” của TTPL vẫn tồn tại.
- Không có bệnh lý thực tổn nào khác; không có trầm cảm tái diễn đủ để giải
thích các triệu chứng âm tính.
1.2. Liệu pháp hóa dược trong điều trị bệnh Tâm thần phân liệt thể di chứng
1.2.1. Thuốc an thần kinh điển hình
Thuốc đầu tiên được tìm ra là Chlorpromazine, từ những năm 1950 có
tác dụng đối vận với thụ thể D
2
, nên được gọi là nhóm thuốc đối vận thụ thể
Dopamine (DRA: Dopamine-Receptor-Antagonist). Còn gọi là thuốc ATK
thế hệ 1, thuốc ATK điển hình, thuốc ATK truyền thống, thuốc ATK cũ
Thuốc ATK điển hình cơ chế tác động cơ bản trên hệ Dopamine. Khi tác
. SDA cũng tác động chuyên biệt lên hệ Dopamine ở Mesolimbic nhiều
hơn ở thể vân.
+ Tất cả các thuốc ATK mới có cùng đặc tính sau:
1. Phong tỏa ít thụ thể D
2
hơn so với thuốc ATK cũ.
2. Ít có nguy cơ mắc phải hội chứng ngoại tháp hơn so với thuốc chống
ATK cũ, nhất là rối loạn vận động muộn.
3. Có kết quả rõ rệt trong điều trị TTPL.
17
4. Cú kt qu rừ rt trong iu tr cn hng cm.
- Mc dự ớt nhng cỏc thuc ATK mi vn cú tỏc dng ph ngoi thỏp,
cũn gõy tng cõn ỏng k, v lm tng nguy c mc phi bnh tiu ng
* C ch gii thớch cỏc u vit ca ATK mi :
- Bỡnh thng Serotonin gn vo th th 5 - HT2 thỡ s c ch gii phúng
Dopamin.
- ATK mi cú ỏi lc vi 5 - HT2 lm cho Serotonin khụng gn vo c
5 - HT2 nờn khụng c ch c Dopamin, gn kt Dopamin vo D2 th võn
lm gim triu chng ngoi thỏp.
- Do tỏc dng i vn mnh vi 5 - HT2 cỏc ATK mi s hot húa
Dopamin vựng v nóo, thựy trc trỏn do vy cú tỏc dng iu tr cỏc triu
chng õm tớnh ca TTPL.
1.2.3. Thuc Olanzapin
+ Thuc c sn xut bi nh sn xut SYMEDIC LABORATORIES 106-
107, HSIDC Industrial Estate, Sector-31, Faridabad-121 003, Haryana, INDIA.
+ Đợc Bộ y tế ban hành, đã đơc đăng ký nhập khẩu về Việt Nam SĐK:
VN-8928-09.
1.2.3.1. Cu trúc và công thức hóa học:
+ Tên hóa học: 2-methyl-4-(4-methyl-
1-piperazinyl)-10- H -thieno
tớnh (hoang tng, o giỏc ), cỏc triu chng õm tớnh (cm xỳc cựn mũn,
lónh m, ngụn ng nghốo nn [37].
1.2.3.4. Chống ch định khi sử dụng Olanzapin
Cú tin s mn cm vi bt c thnh phn no ca thuc.
1.2.3.5. Thn trng lỳc dựng
- Cho bnh nhõn phỡ i tuyn tin lit, tc rut lit [37]
- Ngi bnh cú tin s ng kinh hoc cú nhng yu t lm gim
ngng ng kinh.
Cu trỳc phõn t ca Olanzapin
19
- Loạn vận động muộn: Những triệu chứng loạn vận động muộn có thể
nặng lên theo thời gian hoặc xuất hiện sau khi ngừng điều trị.
- Hạ huyết áp tư thế ít khi xảy ra ở những người lớn tuổi.
- Lúc có thai: chỉ nên dùng thuốc ở người mang thai khi lợi ích đem lại
hơn hẳn mối nguy hại cho bào thai.
- Lúc nuôi con bú: không nên cho con bú trong thời kỳ đang dùng
Olanzapin.
1.2.3.6. Tương tác thuốc[37]:
- Không có tương tác đáng kề trên lâm sàng.
1.2.3.7. T¸c dông kh«ng mong muèn cña Olanzapin.
* Các TDKMM thường gặp: buồn ngủ và tăng cân.
* Các TDKMM khác: chóng mặt, tăng cảm giác ngon miệng, phù ngoại
biên, hạ huyết áp tư thế đứng, khô miệng và táo bón.
- Ðôi khi có tăng nồng độ Prolactin huyết tương.
- Hiếm có báo cáo về trường hợp hội chứng ATK ác tính liên quan đến
Olanzapin.
1.2.4.8. LiÒu lîng và c¸ch dïng.
- Liều dùng khởi đầu của Olanzapin là 10mg, dùng một lần trong 24 giờ.
Sau này có thể điều chỉnh liều hằng ngày tùy theo tình trạng lâm sàng.
- Trẻ em: Olanzapin chưa được nghiên cứu ở người dưới 18 tuổi.
trên 18 người bệnh rối loạn loạn thần cấp khởi phát trước tuổi 35, đánh giá
thông qua thang PANSS và thang CGI được điều trị bằng Haloperidol và
21
Olanzapin. Kết quả cho thấy sau 2 tuần điều trị, số điểm thang PANSS và
thang CGI giảm ở hai nhóm không có sự khác biệt [39].
Theo nhóm tác giả Beaslay CM Jr, Sang T, Tollefson G và các cộng sự
tiến hành nghiên cứu mù đôi trên BN TTPL với Olanzapin so sánh đối chứng
sau ba tuần điều trị cho kết quả [38]: trên nhóm BN được điều trị bằng 10mg
Olanzapin có sự cải thiện rõ rệt trên thang PANSS, dương tính và âm tính,
thang BPRS so với nhóm điều trị bằng Placebo và nhóm điều trị bằng
1mg/ngày Olanzapin. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Đồng
thời nhóm dùng Placebo và dùng 1mg/ngày Olanzapin không có sự khác nhau
trên các thang điểm lâm sàng.
Theo thống kê trên một số lượng lớn BN sau một thời gian điều trị bằng
Olanzapin và Haloperidol được xét nghiệm sinh hóa máu cho thấy nhóm
điều trị bằng Olanzapin lượng Albumin giảm, men gan tăng hơn so với
nhóm điều trị bằng Haloperidol sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p<0,001. Đồng thời sự thay đổi kéo dài thời gian QT ở hai nhóm là không
có sự khác biệt [39].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Đức Thịnh về TDKMM của thuốc
Haloperidol và Olanzapin trong điều trị BN TTPL cho thấy tác dụng phụ
thường gặp trên hệ vận động ở nhóm Haloperidol 95,55%, cao hơn rất nhiều
so với nhóm Olanzapin, với p<0,01. Tăng cân nhẹ xuất hiện ở nhóm
Olanzapin, các tác dụng phụ khác không có sự khác biệt với p>0,5.
Qua nghiên cứu 90 BN TTPL điều trị bằng Haloperidol và Olanzapin tác
giả đánh giá nhóm Olanzapin có tỷ lệ xuất hiện các TDKMM thấp hơn nhóm
Haloperidol. Hội chứng Parkinson, bồn chồn, loạn động cấp chỉ xuất hiện ở
nhóm Haloperidol. Tăng cân nhẹ xuất hiện ở nhóm Olanzapin.
22
Như vậy, Olanzapin được nghiên cứu và sử dụng tương đối phổ biến
Đối tượng nghiên cứu được tiến hành điều trị và theo dõi tiến triển của
các triệu chứng âm tính trong quá trình điều trị theo từng thời điểm ứng với
thời gian đã định sẵn (T
1
, T
3
và T
4
) là 58 ngày.
Tất cả các bệnh nhân trong nhóm này được đánh giá quá trình tiến triển
và thuyên giảm về lâm sàng, đồng thời cũng áp dụng thang PANSS và CGI để
đánh giá, định lượng các triệu chứng cơ bản trong quá trình điều trị với các
thời gian tương ứng nói trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
+ Thử nghiệm lâm sàng mở.
+ Đánh giá kết quả theo mô hình trước sau trên cùng nhóm nghiên cứu.
+ Sử dụng phương pháp tiến cứu và phân tích từng trường hợp về đặc điểm
các triệu chứng âm tính của TTPL di chứng tương ứng với thời điểm T
1
.
+ Tại thời điểm T
1
các bệnh nhân bắt đầu được dùng thuốc theo đúng qui
trình nghiên cứu để đảm bảo quá trình điều trị liên tục.
+ Tại mỗi thời điểm tiến hành đánh giá, phân tích các triệu chứng lâm
sàng của từng bệnh nhân nghiên cứu trong 3 thời điểm cố định tương ứng với
các giai đoạn điều trị (T
1
,T
−+−
=
−
−
βα
Trong đó:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu.
Z
1 -
α
/2:
là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy là 95% thì Z
1 -
α
/2
= 1,96.
Z
1 -
β
: là lực mẫu, nghiên cứu này chọn lực mẫu là 80% thì Z
1 -
β
= 0,84.
P
0
: là tỷ lệ ước lượng giảm triệu chứng rối loạn cảm xúc (cùn mòn,
bàng quan, vô cảm) sau điều trị bằng Olanzapin, trong nghiên cứu
này chọn P0 = 20% (0,20).