ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư gan nguyờn phỏt (UTGNP) là ung thư xuất phát từ thành phần
cấu tạo gan, bao gồm ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG), ung thư biểu
mô tế bào ống mật, ung thư tổ chức liên kết, ung thư cơ trơn, ung thư trung
biểu mô, ung thư thần kinh nội tiết gan, trong đó, UTBMTBG hay gặp nhất và
chiếm đa số [2],[4],[19], [42].
Gọi là nguyờn phỏt để phân biệt với ung thư gan (UTG) thứ phát di căn
của các ung thư (UT) đường tiờu húa khác tới gan.
UTG là bệnh rất ác tính, hay gặp trên thế giới [45],[54],[67], [89]. Bệnh
nhân (BN) không điều trị thường tử vong từ 3 đến 6 tháng kể từ khi xuất hiện
triệu chứng đầu tiên [2], [30], [42], [44].
Theo thống kê của WHO năm 2000 thì UTGNP đứng hàng thứ 5 ở nam
giới và đứng hàng thứ 9 ở nữ giới [18] số lượng bệnh nhân UTGNP mới mắc
trên thế giới ước tính là 564.000 người. Trong đó, đại đa số là UTBMTBG.
Tuy nhiên tỷ lệ UTGNP khác nhau thùy theo khu vực địa lý, khu vực có tỷ
mắc bệnh cao nhất là châu Á và châu Phi chiếm 12%, trong khi đó, ở châu Âu
chỉ chiếm 9% và Bắc Mỹ chiếm 2% [77]. Riêng ở nước ta, UTG đứng hàng
thứ 4 chiếm 5-6% tổng số các UT. Tỷ lệ mắc UTG cũng có chiều hướng tăng
lên. Theo Phạm Hoàng Anh và cộng sự thì UTGNP đứng hàng thứ 3 ở nam
giới và đứng hàng thứ 6 ở nữ giới [1].
Yếu tố nguy cơ cao được công nhận gây nên xơ gan và UTG là virus
viêm gan B và gần đây là virus viêm gan C [47], [52], [59], [66], [70], [77].
Ngoài ra, nấm mốc, chất độc màu da cam, thuốc diệt côn trùng cũng có khả
năng gây UTG mạnh trên thực nghiệm.
1
Về mặt lâm sàng, giai đoạn đầu của ung thư gan là rất kín đáo, các dấu
hiệu lâm sàng đều không đặc hiệu như: mệt mỏi, chán ăn, đau tức nhẹ vùng
dưới sườn phải khiến người bệnh ít để ý. Trên thực tế người bệnh thường đi
khám khi có dấu hiệu đau nhiều, gan to, thậm chí đã tự sờ thấy u, sút cân
nhiều. Lúc này các dấu hiệu lâm sàng rõ rệt, bệnh đã muộn, khả năng cứu
chữa là rất hạn chế. Một số bệnh nhân được chẩn đoán bệnh qua việc khám
và mặt tạng.
1.1.2. Sự phân chia phõn thùy của gan.
* Dựa theo hình thể ngoài của gan.
Phân chia gan theo giải phẫu cổ điển: Gan gồm 4 phân thùy
- Thùy phải và thựy trỏi ngăn cách nhau bởi dây chằng liềm (mặt
hoành). Dây chằng liềm là dây chằng được tạo nên bởi nếp phúc mạc treo mặt
hoành của gan, mặt dưới cơ hoành vào thành bụng trước, kéo dài từ dây chằng
vành tới rốn.
- Mặt tạng: có hai rãnh đọc và một rãnh ngang chia gan thành 4 phõn thựy:
+ Rãnh dọc phải nối từ hố túi mật phía trước tới rãnh tĩnh mạch chủ
dưới ở phía sau.
+ Rãnh dọc trái nối từ khuyết dây chằng tròn (là di tích của tĩnh mạch
rốn) ở trước tới dây chằng tĩnh mạch rốn (là di tích của ống Arantius nối giữa
tĩnh mạch chủ trong thời kì bào thai) ở sau.
+ Rãnh ngang: là cửa gan, có động mạch gan, tĩnh mạch cửa và ống mật
đi qua.
3
Cỏc rãnh này chia gan thành 4 thùy:
+ Thùy phải: nằm bên phải rãnh dọc phải.
+ Thựy trái: nằm bên trái rãnh dọc trái.
+ Thựy vuông: nằm giữa hai rãnh dọc và trước rãnh ngang.
+ Thựy đuôi: nằm giữa hai rãnh dọc và sau rãnh ngang.
* Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng [39]
Phương pháp phân chia thựy, phõn thùy gan theo Tôn Thất Tùng (1964)
là cơ sở để chẩn đoán vị trí tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh và cũng là cơ
sở để phẫu thuật gan, mật. Cơ sở của sự phân chia này là sự phân chia theo
mạch máu, tĩnh mạch cửa và đường mật. Sự phân chia gan theo Tôn Thất
Tùng như sau:
- Nửa gan phải được phân chia thành hai thùy là phõn thựy trước và
phõn thựy sau.
- Nhỏnh trái cho cỏc nhỏnh là động mạch thựy đuụi, động mạch phõn
thựy giữa, động mạch phõn thựy bờn.
- Động mạch gan riờng tỏch một nhỏnh bờn cho dạ dày là động mạch vị
phải.
- Đó là sự phân bố thường gặp nhất.
- Động mạch túi mật là một nhánh của động mạch gan, lúc ngắn thỡ
tỏch ở ngành phải của động mạch gan, ngay trong khu rốn gan. Dài thỡ tỏch ở
động mạch gan riêng chạy ở phía trước hoặc phía sau của ống gan.
* Tĩnh mạch cửa.
Tĩnh mạch cửa bình thường chiếm khoảng 75% lượng máu đến nuôi gan.
5
- Nguyên ủy: Tĩnh mạch cửa được tạo thành do hợp lưu của tĩnh mạch
mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách. Tĩnh mạch lách trên đường đi của nó
còn nhận thêm một tĩnh mạch lớn là tĩnh mạch mạc treo tràng dưới. Ngoài ra,
tĩnh mạch cửa còn nhận thờm cỏc nhỏnh tĩnh mạch túi mật. Tĩnh mạch cạnh
rốn, tĩnh mạch vị phải, tĩnh mạch vị trái và tĩnh mạch trước môn vị.
- Đường đi: Tĩnh mạch cửa từ nguyên ủy chạy chếch sang phải, ra
trước, trong mạc nối nhỏ cùng động mạch gan riêng và ống mật chủ. Ba thành
phần này tạo nên cuống gan. Tại cuống gan, tĩnh mạch cửa chạy phía sau
động mạch gan riêng và ống mật chủ. Đến cửa gan, tĩnh mạch cửa tách thành
hai nhánh là nhanh phải và nhỏnh trỏi chạy vào hai nửa gan phải và gai trái.
- Nhánh phải của tĩnh mạch cửa chia thành cỏc nhỏnh đi vào phõn thùy
trước và phõn thựy sau, sau đó chia tiếp thành cỏc nhỏnh đi vào các hạ phõn
thựy V, VIII, VI, VII.
- Nhỏnh trái của tĩnh mạch cửa tách ra cỏc nhỏnh cho các hạ phõn thựy
II, III, IV. Riờng phõn thựy I hay thựy đuụi không có nhánh của tĩnh mạch
cửa. Nhỏnh trỏi của tĩnh mạch cửa còn nhận thêm hai tĩnh mạch là tĩnh mạch
rốn (đã tạo thành dây chằng tròn) và ống tĩnh mạch. (Ống Arantius hay là dây
chằng tĩnh mạch).
- Tĩnh mạch cửa nối với tĩnh mạch chủ qua cỏc vũng nối quanh thực
Động mạch gan
Tĩnh mạch cửa
Ống mật chủ
Túi mật
Ống túi mật
(2%), ống III chạy vào ống phõn thựy giữa đục vào ống phõn thựy trước
(1%).
Ống mật chớnh bắt đầu bằng 4 ống: ống phõn thựy trước hợp với ống II,
ống phõn thựy sau hợp với ống phõn thựy giữa chạy vào ống III (6%).
Một nghiên cứu khỏc phõn đường mật ra 4 loại :
Loại I: có một ống cho gan phải và một ống cho gan trái.
Loại II: có 2 ống mật, cho gan phải hoặc cho gan trái.
Loại III: có 3 ống mật cho gan phải hoặc cho gan trái.
Loại IV: có 2 ống mật cho gan phải và 2 ống mật cho gan trái [32].
1.2. SINH Lí GAN.
Gan là một cơ quan tuyến lớn nhất cơ thể được chia hai thùy gan (phải và
trái) bởi dây chằng liềm. Đơn vị chức năng của gan là tiểu thùy gan [70].
Các chức năng chính của gan bao gồm: biến đổi axit amin dư thừa thành
urờ cân bằng nội mô, tổng hợp một vài axit amin, biến đổi tinh bột, protein
thành chất béo, dự trữ glucoza (dưới dạng glucogen) giải phóng năng lượng,
tạo và tiết mật (kiềm) để phân hủy chất béo, lọc và khử độc, tạo prothrombin,
fibrinogen tham gia quá trình điều hòa cầm và đụng mỏu, tiờu sợi huyết
1.3. DỊCH TỄ HỌC UTGNP.
UTGNP là một bệnh lý ác tính thường gặp trên thế giới [67], [89]. Đặc
biệt thể UTBMTBG chiếm đa số và mắc nhiều ở nam giới trên 30 tuổi [55],
[70]. Các nước có nguy cơ mắc thấp hơn là ở chõu Âu và ít gặp tại Mỹ và Bắc
Mỹ [77]. Các nước châu Âu, tỷ lệ mắc UTG hàng năm chỉ vào khoảng
4/100.000 người [88]. Tại Mỹ và Bắc Mỹ khoảng dưới 10.000 người mắc
bệnh hàng năm, ước tính chiếm gần 2% các loại UT. Hàng năm tần xuất gặp
khoảng 2,9/100.000 người nam và 1,2/100.000 người nữ. Tỷ lệ thấp tương tự
biệt và chủ yếu giữa VRVG B và gần đây là VRVG C với xơ gan và UTG
9
[48]. Các nghiên cứu về nguyên nhân bệnh sinh liên quan giữa VRVG và
UTGNP đã có nhiều tiến bộ, chỉ ra một dòng tế bào u ở người có axit
desoxyribonucleic của VRVG B (DNA – VRVG B) tổng hợp trong gen tế bào
gan và được thể hiện bởi kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg). Sự tổng
hợp của DNA – VRVG B cũng được thấy ở cả hai dòng tế bào u gan và mẫu
khối u lấy được từ bệnh nhân UTG. Tỷ lệ nhiễm VRVG B ở bệnh nhân
UTGNP là 13% trong một nghiên cứu hồi cứu ở Mỹ [47]. BN nhiễm VRVG
B, hậu quả gây nên viêm mạn tính, hủy hoại tế bào gan gây xơ gan là có liên
quan mạnh mẽ tới việc phát triển một UTGNP đã được chứng minh [52].
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về yếu tố nguy cơ VRVG B cũng đã
được tiến hành từ nhiều năm trước đây. Tình hình lây nhiễm VRVG B tại các
đối tượng như đường lây truyền bệnh từ mẹ sang con, diễn biến lâm sàng trầm
trọng của bệnh nhân bị nhiễm VRVG B để lại hậu quả nhiễm dai dẳng VRVG B,
viêm gan mạn tính, xơ gan [42].
Xơ gan thể khối u đặc biệt hay gặp trên bệnh nhân UTBMTBG ở châu Á,
ngược lại thể xơ lan tỏa lại gặp nhiều ở Bắc Mỹ [89]. Xơ gan làm giảm khả
năng tổng hợp lại phần gan bình thường. Xơ gan liên quan mật thiết tới
UTGNP, là yếu tố nguy cơ gây nên UTGNP thậm chí cả ở bệnh nhân
không có bằng chứng bị nhiễm VRVG B và VRVG C [59]. Xơ gan có mặt
trong 50-89% trong bệnh nhân UTGNP ở nhiều nghiên cứu tại các khu vực
khác nhau, đặc biệt là tại châu  và châu Mỹ, nơi có tiêu thụ nhiều rượu [57],
[70], [84], thường xuất hiện ung thư ở bệnh nhân điều trị xơ gan trong một
thời gian dài.
Tại Việt Nam, xơ gan thường thấy trên một UTG khoảng từ 52,4% đến
80% [2], [20].Chất độc màu da cam mà Mỹ sử dụng trong chiến tranh đã và
đang được tiếp tục nghiên cứu hậu quả của nó dẫn tới UTG cho người dân
Việt Nam và là nguyên nhân gây UTG mạnh trên thực nghiệm [7], [40], [41].
10
nội tiết và hội chứng cận ung thư [13], [54].
Trước đây, tại Việt Nam, đa số BN UTGNP đến khám bệnh vì đau
bụng vùng dưới sườn phải, có khi cả bên trái, kèm phát hiện thấy có khối u ở
vùng gan [9], [42], [43].
1.5.2. Đặc điểm cận lâm sàng
* Một số xét nghiệm về chức năng gan như men gan (SGOT, SGPT),
điện đi Protein máu (đánh giá tỷ lệ A/G), chức năng đụng máu (Prothrombin),
Bilirubin máu là những xét nghiệm không đặc hiệu để chẩn đoán ung thư tế
bào gan [4].
* AFP (Alpha foeto Protein) [8], [14].
Là một protein trong huyết thanh, xuất hiện ở thời kỳ bào thai. Nó chỉ
tồn tại sau khi trẻ ra đời khoảng 3 đến 4 tuần. Đối với người lớn, bình thường
nồng độ của AFP trong máu thấp hoặc không có (chỉ số bình thường của nó là
từ 0 đến 20ng/ml). Khi bệnh nhân bị mắc ung thư biểu mô tế bào gan, lượng AFP
có thể tăng cao. Vì sự tăng nồng độ của loại Protein này, nó có thể giúp chẩn đoán
ung thư biểu mô tế bào gan. Tuy nhiên, sự tăng nồng độ AFP trong máu đạt đến
mức có ý nghĩa là trên 500ng/ml thường chỉ đạt 60 đến 75%. Đối với những khối
u nhỏ thì AFP tăng đến mức có ý nghĩa chỉ đạt được khoảng 25%.
Có mối tương quan giữa nồng độ AFP với số lượng, kích thước khối u
và thời gian sống của bệnh nhân: Tỷ lệ AFP dương tính mạnh (> 500ng/ml) ở
những trường hợp có từ 2 khối u trở lên là 84,00%, cao hơn những trường hợp
chỉ có một khối u. Tỉ lệ AFP dương tính mạnh ở những trường hợp khối u lớn
(đường kính > 3cm) là 83,33%, cao hơn rõ rệt so với những trường hợp có
khối u nhỏ (33,33%). Tỉ lệ AFP dương tính mạnh cũng chiếm phần đông các
bệnh nhân có thời gian sống thêm ngắn [14].
12
Khi nồng động AFP thấp hơn, nú cú độ đặc hiệu không cao vì có thể
gặp trong những u loạn sản phôi ác tính, ung thư dạ dày, trong viêm gan và có
thể gặp ở những phụ nữ có thai trên 3 tháng.
Nồng độ AFP giảm nhanh ở những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật
chẩn đoán UTG, với giá trị chẩn đoán cao, rất phù hợp với hoàn cảnh kinh tế
Việt Nam. Siờu õm còn được dùng để sàng lọc đối tượng có nguy cơ mắc
UTG. Theo Hoàng Kỷ, sử dụng siêu âm đã phát hiện được bệnh nhân UTGNP
ở giai đoạn sớm tới 4,1% [21].
Chụp cắt lớp vi tính xác định được các u gan nguyờn phỏt và ổ di căn;
mô tả sự lan rộng của khối u, lập kế hoạch điều trị UTG. Tuy nhiên, hiệu quả
chẩn đoán kém hơn so với siêu âm nội soi trong phát hiện u gan, đặc biệt đối
với các tổn thương nhỏ và chưa phát hiện hoàn toàn được u lành và u ác [58].
Chụp cộng hưởng từ có khả năng phát hiện được các tổn thương ung
thư giai đoạn sớm. Phương pháp này cho thấy mức độ của sự tương phản giữa
u lành và u ác tính [86]. Tuy nhiên khi kết hợp với chụp cắt lớp vi tính thì hiệu
quả chẩn đoán càng cao, phát hiện được cả những tổn thương UTG hiếm gặp
như UTG mảng xơ, trong việc nêu được đặc trưng của UTG mảng xơ.
Nội soi đường tiêu hóa được áp dụng để phát hiện tổn thương giãn tĩnh
mạch thực quản trong bệnh UTG có xơ gan gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa,
đồng thời tiến hành điều trị tiêm xơ tĩnh mạch thực quản trước phẫu thuật để
dự phòng suất huyết đường tiêu hóa trên sau phẫu thuật [62].
Chụp nhấp nháy phóng xạ cho hiệu quả chẩn đoán UTG rất cao hơn hẳn
các phương pháp trên. Hiện nay đang phát triển kỹ thuật sử dụng kháng thể
đơn dũng cú gắn đồng vị phóng xạ như một đầu dò để phát hiện các khối u
đặc hiệu và các ổ di căn. Nhưng ngược lại, chụp cắt lớp mô tả tổn thương của
14
bệnh và sự thâm nhiễm ngoài gan tốt hơn [58]. Chụp động mạch gan đơn
thuần sử dụng trong UTG cho biết vị trí, kích thước và số lượng u, tổn thương
vệ tinh của khối u và sơ đồ mạch máu đếm gan, rất có ý nghĩa trong việc lập
kế hoạch trong điều trị UTG bằng phương pháp nút mạch [25].
Chẩn đoán tế bào học cũng được áp dụng để chẩn đoán xác định
UTGNP với độ chính xác cao, theo Đào Văn Long thì độ chính xác của chẩn
đoán tới 99,6% [24]. Tuy nhiên cần phải có một đòi hỏi kỹ thuật để tránh chảy
máu từ mạng mạch tăng sinh của khối u hay của một u máu chưa được chẩn
- Giai đoạn I: T
1
N
0
M
0
- Giai đoạn II: T
2
N
0
M
0
- Giai đoạn III
a
: T
3
N
0
M
0
- Giai đoạn III
b
: T
31−
N
1
M
0
- Giai đoạn IV
a
1 2 3
Não – gan 0 Nhẹ Trung bình
Cổ chướng 0 Ít Nhiều
Bilirubin máu (
µ
mol/l)
< 35 35-50 > 50
Albumin máu ( g/l) > 35 30-35 < 30
Tỉ lệ Prothrombin máu ( % ) > 70 40-70 < 40
Theo Nagasue (1999), có thể tiến hành cắt được gan cho UTBMTBG
thu được kết quả tốt với BN trẻ tuổi với xơ gan ở loại Child B mà không có
biểu hiện viêm gan [73]. Như vậy xơ gan là yếu tố cần xem xét trong việc mở
rộng chỉ định cắt gan.
1.6. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UTGNP VÀ KẾT QUẢ.
Hiện nay, điều trị UTG trên thế giới chủ yếu là phẫu thuật [42],
[57]. Tuy nhiờn, tùy giai đoạn sớm hay muộn của bệnh ở từng BN mà có
phương pháp điều trị cụ thể thích hợp với mục đích kéo dài thời gian sống
thêm cho BN mắc căn bệnh ác tính này [44].
1.6.1. Điều trị bằng phẫu thuật.
Tỷ lệ phẫu thuật có tính triệt để chỉ chiếm từ 10-20%, tức là khoảng
hơn 80% UTG khi được chẩn đoán thì tiên lượng rất xấu do khụng cũn khả
năng phẫu thuật triệt để [57]. Chỉ định phẫu thuật cắt gan đối với u gan từ giai
đoạn T
1
đến T
3
, N
0
,N
1
luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú năm 1939 tại Hà Nội. Năm 1962, phương
pháp cắt gan Tôn Thất Tùng công bố ở Đức, năm 1963 ở Anh. Năm 1964 tại
Hội nghị quốc tế phẫu thuật gan ở LYON (Pháp), Tôn Thất Tùng và Nguyễn
Dương Quang đã trình bày một thống kê của bệnh viện Việt Đức trong 4 năm
gồm 311 trường hợp cắt gan có kế hoạch, 72 trường hợp bên phải và 259
trường hợp bên trái. Thống kê này đã đủ sức thuyết phục để tạo nên một vị trí
vững chắc cho kỹ thuật cắt gan Tôn Thất Tùng. Năm 1966 phương pháp này
đoợc đưa vào Bách khoa toàn thư về phẫu thuật của Pháp.
Năm 1978, Bismuth đã kết hợp hai phương pháp cắt gan có kế hoạch để
xây dựng nên phương pháp của tác giả: thành phần của cuống Glisson được
18
thắt ở rốn gan (kỹ thuật Lortat - Jakob) cũn cỏc tĩnh mạch trên gan được cắt ở
trong nhu mô gan (kỹ thuật Tôn Thất Tùng).
- Vai trò của phẫu thuật cắt gan.
Phẫu thuật cắt gan được coi là phương pháp điều trị tốt nhất kéo dài
thời gian sống có chất lượng cho bệnh nhân UTGNP [62]. Cắt gan có liên
quan đến tỷ lệ tử vong phẫu thuật và tỷ lệ tử vong do bệnh cao. Do vậy trước
kia phương pháp này không được thường xuyên sử dụng. Tuy nhiên, với sự
tiến bộ của y học hiện nay, phẫu thuật cắt gan có thể được sử dụng với việc
chấp nhận tỷ lệ tử vong phẫu thuật và tỷ lệ tử vong do bệnh.
Farid H. (1994), phân tích kết quả 100 trường hợp cắt gan ở Mỹ cho
thấy tỷ lệ máu trung bình là 900ml, thời gian phẫu thuật trung bình là 221
phút và thời gian nằm viện trung bình 6 ngày. Tỷ lệ tử vong phẫu thuật 2%; tỷ
lệ chết bệnh viện 22% [56].
Miyagawa S. (1995), cũng cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ chết
bệnh viện là: thời gian mổ kéo dài, cắt gan lớn, có bệnh tim mạch trước phẫu
thuật. Vì vậy khi thời gian mổ ngắn thì không làm tăng mất máu trong mổ và
tỷ lệ tử vong do bệnh đối với cắt gan lớn là vấn đề cần được thảo luận [72].
Để điều trị UTBMTBG, cắt gan vẫn là phương pháp đưa lại hiệu quả
cao nhất và được sử dụng khi còn chỉ định mổ.
Điều trị bằng tia xạ cũng kém hiệu quả đối với loại ung thư này. Chiếu
cạ từ ngoài vào: Rất ít khi được chỉ định và chỉ sử dụng đới với những khối u
còn tương đối khu trú, gây đau nhiều và kháng hóa chất. Để tránh nguy cơ
viêm gan, liều tia được giới hạn 30-35 Gy (Gray) trong 3-4 tuần. Mặc dù một
20
số bệnh nhận giảm triệu chứng sau điều trị, nhưng phần lớn bệnh nhân chết
trước 6 tháng [16].
1.6.2.5. Nút mạch và hóa chất động mạch gan [38].
Phương pháp nút động mạch gan và hóa trị liệu tại chỗ
(Chemoembolization) được A.Roche; Kato và cộng sự đã tiến hành từ những năm
1970. Việc điều trị ung thư biểu mô tế bào gan được tiến hành kết hợp giữa
việc chuyển hóa chất chống ung thư và kết hợp với nút động mạch nuôi u. Sau
đó nhiều tác giả đó dựng Lipiodol như chất chuyên chở hóa chất chống ung
thư: Lipiodol được pha trộn với hóa chất chống ung thư sau đó bơm vào động
mạch nuôi u. Từ năm 1990 đến nay, kĩ thuật thông mạch chọn lọc và siêu
chọn lọc đã phát triển mạnh giúp mở rộng hơn chỉ định của nút hóa chất động
mạch gan.
Ở Việt Nam từ tháng 9/1999 đến tháng 6/2000, nhúm cỏc bác sĩ khoa
chẩn đoán hình ảnh và khoa tiêu hóa bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành những
ca nút hóa chất động mạch gan đầu tiên trên 12 bệnh nhân, kết quả tốt về mặt
lâm sàng đã được ghi nhận. Tình trạng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện
như: giảm đau, tăng cân, vẫn làm việc bình thường.
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC.
Việt Nam nằm trong khu vực có nguy cơ nhiễm VRVG B cao và gia
tăng tỷ lệ UTGNP gây hậu quả xấu. Do vậy từ lâu đã có nhiều tác giả nghiên
cứu về vấn đề này.
Vấn đề UTG được đề cập đến tương đối sớm trong “Cắt gan”, “Một số
công trình nghiên cứu khoa học” của Tôn Thất Tùng với số liệu liệu lớn vào
bậc nhất trên thế giới [39]. Năm 1939, Tôn Thất Tựng đó báo cáo nghiên cứu
thành công cắt thùy gan trái để điều trị UTGNP và bệnh nhân này sống thêm
+ Không có UT thứ 2.
+ BN chưa được điều trị bằng phương phỏp khác trước mổ.
+ Không có chống chỉ định phẫu thuật.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
+ BN là ung thư gan nhưng không có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ
hoặc kết quả giải phẫu bệnh không phải là UTBMTBG như Sarcom, ung thư
biểu mô đường mật, di căn gan, u nguyên bào gan.
+ BN bị mất hồ sơ.
+ Có UT khác kèm theo.
+ BN đã được điều trị trước đấy.
+ BN có chống chỉ định phẫu thuật:
23
- Chống chỉ định do các bệnh khác phối hợp: bệnh tim mạch, tai biến mạch
máu não, đái đường, suy thận, lao phổi, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn…
- Chống chỉ định do bản thân bệnh UTBMTBG: Xơ gan Child - Pugh C,
huyết khối tĩnh mạch cửa, di căn xa, vàng da trên lâm sàng, rối loạn chức năng
đụng mỏu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Nghiờn cứu mô tả cắt ngang có theo
dõi dọc.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu dữ liệu lâm sàng .
* Đặc điểm bệnh nhân :
+ Tuổi.
+ Giới.
+ Nghề nghiệp:
- Nông dân.
- Công nhân, bộ đội.
- Cán bộ, công chức.
- Học sinh, sinh viên.
- Tự do.
- Số lượng u.
25