Nghiên cứu hiệu quả điều trị của risperidone, olanzapine trên bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 25


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. ĐẠI CƯƠNG- DỊCH TỂ HỌC 3
1.2. BỆNH NGUYÊN, BỆNH SINH CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT 5
1.2.1. Vai trò yếu tố di truyền 5
1.2.2. Vai trò các nhân tố ngoại lai 5
1.2.3. Vấn đề sinh hóa trong tâm thần phân liệt 5
1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG – CHẨN ĐOÁN TÂM THẦN PHÂN LIỆT 6
1.3.1. Đặc điểm lâm sàng 6
1.3.2. Chẩn đoán tâm thần phân liệt 8
1.4. ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT 13
1.4.1. Điều trị bằng thuốc 14
1.4.2. Điều trị bằng tâm lý 14
1.4.3. Điều trị bằng phục hồi chức năng lao động và tái thích ứng xã hội 15
1.4.4. Điều trị gây co giật bằng điện 15
1.5. CÁC THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN 16
1.5.1. Vài nét lịch sử về thuốc chống loạn thần 16
1.5.2. Phân loại thuốc chống loạn thần 16
1.5.3. Chọn thuốc chống loạn thần 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
2.1.1. Xác định đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh 28
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 29
2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu 29

3.3.4. Sự thuyên giảm của hoang tưởng trên đối tượng nghiên cứu 59
3.3.5. Sự thuyên giảm của ảo giác trên đối tượng nghiên cứu 61
3.3.6. Đánh giá sự ổn định hành vi sau 4 tuần điều trị của đối tượng nghiên
cứu 62
3.3.7. Đánh giá các tác dụng phụ của đối tượng nghiên cứu 63
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 66
4.1.1. Đặc điểm giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, tiền sử gia đình,
trình độ văn hoá, nghề nghiệp 67
4.1.2. Đặc điểm phân bố tuổi theo giới của đối tượng nghiên cứu 67
4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TÂM THẦN PHÂN LIỆT 68
4.2.1. Lý do vào viện của đối tượng nghiện cứu 68
4.2.2. Đặc điểm về tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu 69
4.2.3. Số lần nhập viện tính đến thời điểm nghiên cứu 70
4.2.4. Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 70
4.2.5. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp của đối tượng nghiên cứu 71
4.2.6. Rối loạn giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu 72
4.2.7. Các loại hoang tưởng của đối tượng nghiên cứu 72
4.2.8. Các loại ảo giác của đối tượng nghiên cứu 74
4.2.9. Các triệu chứng khác của đối tượng nghiên cứu …………………… 76
4.2.10. Rối loạn hành vi của đối tượng nghiên cứu 77
4.2.11. Ý tưởng và hành vi toan tự sát 77
4.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 78
4.3.1. Đánh giá sự giảm điểm của thang CGI trước và sau điều trị 78
4.3.2. Đánh giá sự thay đổi của thang PANSS trước và sau điều trị 79
4.3.3. Sự thuyên giảm của hoang tưởng trên đối tượng nghiên cứu 81
4.3.4. Sự thuyên giảm của ảo giác trên đối tượng nghiên cứu 82
4.3.5. Sự ổn định hành vi sau 4 tuần của đối tượng nghiên cứu 83
4.3.6. Đánh giá các tác dụng phụ của đối tượng nghiên cứu .84
KẾT LUẬN 86

Bảng 3.24. Các thể tâm thần phân liệt 55
Bảng 3.25. Đánh giá sự giảm điểm của thang CGI trước và sau điều trị 55
Bảng 3.26 Sự thay đổi điểm số thang PANSS âm tính trước và sau điều trị . 57
Bảng 3.27 Sự thay đổi điểm số thang PANSS cuối 58
Bảng 3.27. Liều điều trị thuốc chống loạn thần 59
Bảng 3.28. Sử thuyên giảm của hoang tưởng 59
Bảng 3.29. Sự thuyên giảm của ảo giác 61
Bảng 3.30. Khảo sát ổn định hành vi sau 4 tuần điều trị 62
Bảng 3.31 Khảo sát các tác dụng phụ của đối tượng nghiên cứu theo giới tính 64
Bảng 3.32. Khảo sát các tác dụng phụ của nhóm thuốc nghiên cứu 64
thấp hơn và tiên lượng bệnh cũng tốt hơn ở các nước chậm phát triển và đang
phát triển so với các nước phát triển [3].
TTPL được đặc trưng bởi các triệu chứng dương tính bao gồm hoang
tưởng, ảo giác, kích động hành vi và các triệu chứng âm tính bao gồm cảm xúc
cùn mòn, tách rời xã hội, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn gây nên sự rối loạn chức
năng, đặc biệt là chức năng nhận thức.
Thuốc chống loạn thần về cơ bản chia làm hai nhóm: thuốc chống loạn
thần điển hình và thuốc chống loạn thần không điển hình. Thuốc chống loạn thần
điển hình dễ gây ra tác dụng phụ ngoại tháp [50]. Thuốc chống loạn thần không
điển hình ít gây tác dụng phụ ngoại tháp [22]và có những ưu điểm sau đây: đáp
ứng tốt tỷ lệ cao, điều trị hiệu quả những triệu chứng dương tính lẫn âm tính ở
những bệnh nhân TTPL [38], phục hồi chức năng lao động tốt và cải thiện chất
lượng của cuộc sống của bệnh nhân. Risperidone và olanzapine là hai thuốc
chống loạn thần không điển hình hiện nay được sử dụng rộng rãi trong thực hành
lâm sàng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hai thuốc này, được các bác sĩ thực
hành lâm sàng thường sử dụng để điều trị TTPL vì tính hiệu quả, ít tác dụng phụ,
rẽ tiền… người bệnh dễ tuân thủ điều trị dài hạn. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt
Nam vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu hiệu quả điều trị của olanzapine

2
và risperidone nhằm giúp cho bác sĩ có nhiều kinh nghiệm điều trị cho nhóm
bệnh nhân này.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở Lê Minh Xuân thuộc Bệnh viện tâm
thần điều trị những bệnh nhân tâm thần mạn tính với số lượng bệnh nhân khoảng
500-600 bệnh nhân nội trú, trong đó số bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm từ
60-70% tổng số bệnh nhân điều trị tại cơ sở. Để nâng cao nhận thức về đặc điểm
lâm sàng, hiệu quả điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt hiện nay, chúng tôi chọn
và tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu hiệu quả điều trị của risperidone, olanzapine trên bệnh
nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh”

- Triệu chứng âm tính là những đặc điểm ở bệnh nhân thể hiện sự sa sút qua các
mặt hoạt động tâm thần bao gồm cảm xúc thờ ơ, không muốn tiếp xúc, bàng
quan, mất ham thích, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn.
1.1.1.3. Nguyên nhân tâm thần phân liệt- tiên lượng- điều trị
- Nguyên nhân tâm thần phân liệt hiện nay vẫn còn chưa rõ.
- Tiên lượng rất thay đổi, ít ra tiên lượng cũng tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn
đoán tâm thần phân liệt.
- Điều trị kết hợp hóa liệu pháp, tâm lý liệu pháp, liệu pháp tâm lý xã hội nhưng
sự đáp ứng điều trị ở mỗi cá nhân cũng rất khác nhau[3].
1.1.2. Dịch tễ học
Do có những khó khăn trong việc thống nhất chẩn đoán tâm thần phân liệt
nên những dữ liệu về dịch tễ học về bệnh tâm thần phân liệt không được chính
xác.
1.1.2.1. Tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc
- Tỷ lệ mới mắc (incidence)

4
+ Nước ngoài: Theo báo cáo vào khoảng 0.03% - 0.12% hàng năm ở
những người > 15 tuổi, tỷ lệ này cao nhất ở những nước phát triển và ở những
người di cư.
+ Việt nam: tỷ lệ mới mắc theo tổng kết điều tra của ngành tỷ lệ trung
bình chung của 5 địa phương trong toàn quốc là 0,57% dân số (trong đó xã Vạn
Phúc Hà Tây 0,38%, Hòa Minh Đà Nẵng 0,65%, Định trung Vĩnh Phúc 0,77%,
Gia sàng Thái Nguyên 0,26%, Phường Đúc thành phố Huế 0,41%) [2].
- Tỷ lệ hiện mắc ( prevalence)
Tỷ lệ hiện mắc của TTPL thấp hơn và tiên lượng bệnh cũng tốt hơn ở các
nước đang phát triển so với các nước công nghiệp hóa (những bệnh nhân ở các
nước đang phát triển có khuynh hướng hồi phục với tỷ lệ cao hơn so với những
nước công nghiệp hóa)
1.1.2.2. Giới tính

Cũng có quan điểm bệnh TTPL là do sự tự nhiểm độc (Korsakov,
Kraepelin ).
1.2.3. Vấn đề sinh hóa trong tâm thần phân liệt
Có những công trình về sinh hóa cho thấy ở người bệnh tâm thần phân
liệt, một số triệu chứng có thể có liên quan tới những rối loạn sản xuất, chuyển
hóa phân hủy các chất môi giới thần kinh, các amin sinh học, các alpha
globulin…
Những giả thuyết về chuyển vận dopamine trong não bộ cho phép lý giải
nhiều sự kiện lâm sàng và nhất là các tác dụng của thuốc chống loạn thần nên có

6
thể nghĩ là các hoang tưởng, ảo giác hay gặp trong TTPL có liên quan đến chất
dopamine
Công trình nghiên cứu những biến đổi của Endorphine (một peptid não
bộ) cũng gây nên những hội chứng hay gặp ở tâm thần phân liệt (Wied 1979)[7].
1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG- CHẨN ĐOÁN TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.3.1. Đặc điểm lâm sàng tâm thần phân liệt
Theo điều tra (Herz & Melville, 1980; Birchwood và cộng sự, 1989;
Jørgensen, 1998) đã xác định rằng có những thay đổi tinh tế trong tư duy, cảm
xúc và hành vi đi trước sự phát triển của rối loạn tâm thần thật sự. Chúng được
khái niệm chính xác hơn là "dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh tâm thần phân liệt
bao gồm những triệu chứng không đặc hiệu có thể báo hiệu sự khởi phát của một
loạt các bệnh [10], [13], [14].
13.1.1. Nhóm triệu chứng dương tính
- Hoang tưởng: là những niềm tin sai lệch và bền vững mà không thể nào
giải thích và đả thông được và thường không phù hợp với nền văn hóa của bệnh
nhân.
- Ảo giác: là cảm giác tri giác như là có thật về một sự vật hoặc một hiện
tượng không có thực trong thực tế .
- Hoang tưởng, ảo giác có thể chi phối mạnh mẽ cảm xúc, hành vi của

và bệnh nhân bị mất ngủ trầm trọng có thể béo phì hơn[61].
1.3.1.5. Tái phát trong tâm thần phân liệt
Tái phát có thể xảy ra một cách nhanh chóng, trong vòng vài ngày. Nhưng
phổ biến nhất cho một tái phát là tiến triển dần dần. Biết được những nguyên
nhân và nhận thấy những dấu hiệu tái phát càng sớm càng tốt có thể giúp ngăn
ngừa sự tái phát xảy ra hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của nó. Can thiệp sớm
có thể giúp tránh nhập viện hoặc rút ngắn thời gian nằm viện và hồi phục trở về

8
với cuộc sống của mình. Không thể dự đoán chính xác những gì các dấu hiệu
sớm của sự tái phát ở mỗi người sẽ có được. Nhưng theo thời gian, nó có thể có
thể nhận thấy một mô hình của các dấu hiệu cảnh báo sớm tương tự. Một số dấu
hiệu sớm phổ biến của sự tái phát bao gồm:
- Ngủ không yên hoặc bất ổn
- Cảm giác căng thẳng
- Có một thời gian khó tập trung
- Không muốn dành nhiều thời gian với những người khác, thích cô lập.
- Cảm thấy dễ bị kích thích hoặc nóng tính
- Cảm thấy thiếu năng lượng
- Cảm thấy buồn hay chán nản
- Cảm thấy bối rối
- Một sự thay đổi trong cảm giác ngon miệng[67].
1.3.2. Chẩn đoán tâm thần phân liệt
1.3.2.1. Chẩn đoán tâm thần phân liệt theo mô tả của ICD-10
Chẩn đoán tâm thần phân liệt theo ICD-10 gồm các tiêu chuẩn sau:
a. Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, tư duy bị đánh cắp và tư duy bị phát
thanh.
b. Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối có liên quan đến vận động của cơ thể
hay liên đến các ý nghĩ, hành vi, hoặc cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
c. Các ảo thanh lời nói liên tục bình phẩm về hành vi của bệnh nhân, hoặc bàn tán

1.3.2.2. Chẩn đoán các thể tâm thần phân liệt theo ICD-10
- Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0)
Các tiêu chuẩn chung chẩn đoán tâm thần phân liệt phải được thỏa mãn.
Ngoài ra các ảo giác và/hoặc hoang tưởng phả nổi bật và các rối loạn cảm xúc , ý
chí và lời nói và các triệu chứng căng trương lực tương đối kín đáo. Thông

10
thường các ảo giác thuộc loại mô tả ở (b) và (c) ở trên. Hoang tưởng hầu hết có
thể thuộc bất cứ loại nào tuy nhiên các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay
bị động và hoang tưởng bị truy hại các loại là đặc trưng nhất.
- Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1)
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Các tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán tâm thần phân liệt cần phải được thỏa mãn.
Thông thường thể thanh xuân được chẩn đoán đầu tiên đối với thanh thiếu
niên hay người thanh niên trẻ. Nhân cách tiền bệnh lý có đặc tính đặc trưng là
tính hơi nhút nhát và cô độc, nhưng không nhất thiết phải có như vậy. Để cho
chẩn đoán thể thanh xuân đáng tin cậy cần phải có một thời gian hai hay ba
tháng theo dõi lien tục để đảm bảo là các tác phong đặc trưng mô tả trên vẫn còn
duy trì.
Bao gồm: Tâm thần phân liệt hỗn hợp, Hebephrenia
- Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2)
Các nguyên tăc chỉ đạo chẩn đoán
Các tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán tâm thần phân liệt cần phải được thỏa
mãn.
Các triệu chứng căng trương lực riêng lẽ có thể xuất hiện nhất thời trong bối
cảnh của bất cứ thể lâm sàng nào khác của tâm thần phân liệt. Nhưng muốn chắc
chắn là tâm thần phân liệt thể căng trương lực thì một hay nhiều tác phong sau
đây phải chiếm ưu thế trong bệnh cảnh:
a. Trạng thái sửng sờ (giảm rõ rệt tính phản ứng đối với môi trường, giảm
các vận động và hoạt động tự phát) hoặc trạng thái không nói;

chứng hay thể trầm cảm sau phân liệt.
- Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4)
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

12
Chẩn đoán chỉ được làm nếu:
a. Bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán tâm thần phân liệt
trong vòng 12 tháng qua.
b. Một số triệu chứng tâm thần phân liệt còn tồn tại
c. Các triệu chứng trầm cảm nổi bật lên làm cho bệnh nhân rất khó chịu,
đáp ứng ít nhất các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm (F32-) và
tồn tại ít nhất hai tuần. Nếu bệnh nhân không còn triệu chứng phân liệt
nữa thì phải chẩn đoán là một giai đoạn trầm cảm (F32-). Nếu các triệu
chứng phân liệt còn phong phú và nổi bật thì phải duy trì chẩn đoán
theo một thể tâm thần phân liệt thích ứng (F20.0, F20.1, F20.2 hay
F20.3).
- Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5)
Muốn có một chẩn đoán tin cậy, những yêu cầu sau đây phải được đáp ứng:
a. Những triệu chứng phân liệt “âm tính” nổi bật lên, tức là: sự chậm chạp
tâm lý vận động, hoạt động kém, cảm xúc cùn mòn, tính bị động và
thiếu sang kiến, ngôn ngữ nghèo nàn về lượng hay về nội dung, nghèo
nàn trong giao tiếp không dung lời như biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng
mát, âm điệu lời nói và tư thế, kém chăm sóc cá nhân và kém hoạt
động xã hội;
b. Trong quá khứ chắc chắn có ít nhất một giai đoạn lọa thần rõ rệt, đáp
ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt;
c. Một thời kỳ ít nhất một năm trong đó cường độ và tần số các triệu
chứng phong phú như hoang tưởng và ảo giác chỉ còn tối thiểu hoặc
giảm nhẹ về cơ bản và hội chứng “âm tính” của tâm thần phân liệt vẫn
tồn tại.

Mục tiêu quan trọng trong điều trị tâm thần phân liệt là các triệu chứng
dương tính và triệu chứng âm tính trong đó các triệu chứng âm tính là dai dẳng
kéo dài và đáp ứng điều trị kém hơn so với triệu chứng dương tính.[19],[80].
1.4.1. Điều trị bằng thuốc
Điều trị thuốc chống loạn thần thường có kết quả trong việc cải thiện đáng
kể hoặc thậm chí thuyên giảm các triệu chứng dương tính. Tuy nhiên, hầu hết
bệnh nhân vẫn bị suy giảm chức năng vì các triệu chứng âm tính, suy giảm nhận
thức và chức năng xã hội kém[75].
Các thuốc tác động tâm thần khác thường được thêm vào các loại thuốc
chống loạn thần trong giai đoạn ổn định để điều trị các bệnh đi kèm. Ví dụ, trầm
cảm chủ yếu và rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường đi kèm với bệnh nhân tâm
thần phân liệt và có thể đáp ứng với thuốc chống trầm cảm
1.4.2. Điều trị bằng tâm lý
Các biện pháp can thiệp tâm lý cho thấy có hiệu quả đối với bệnh nhân
tâm thần phân liệt để giảm tác động của các triệu chứng, tăng sự tuân thủ uống
thuốc và giúp cải thiện khả năng phát hiện và cảnh báo của bệnh nhân khi bệnh
tái phát cấp tính, bệnh nhân tăng tham gia hoạt động xã hội[31].
Các can thiệp tâm lý xã hội kết hợp với thuốc chống loạn thần không điển
hình có thể có nhiều tiềm năng để cải thiện kết quả triệu chứng âm tính hơn là
dùng liệu pháp hóa dược đơn thuần[80] và những phương pháp này đã được
được tận dụng rất nhiều trong thực hành lâm sàng[20].
Liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) thường được dùng trong điều trị rối
loạn tâm thần cấp tính (Drury và cộng sự, 1996) và có hiệu quả trong điều trị
triệu chứng dương tính và trong tâm thần phân liệt kháng trị (Wykes 2007). Hiệu
quả can thiệp của ông vẫn được sử dụng nhiều trong thực hành lâm sàng[79].
Giáo dục bệnh nhân và gia đình các vấn đề liên quan đến các bệnh tật của
bệnh nhân và nhu cầu điều trị đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc làm

15
giảm tái phát sau đó và tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa bệnh nhân, người

bệnh nhân này sang bệnh nhân khác và phụ thuộc vào mức độ đáp ứng lâm sàng
và tác dụng phụ trong điều trị. Như với điều trị cấp cứu bằng ECT, bằng chứng
cho thấy rằng điều trị bằng thuốc chống loạn thần nên tiếp tục trong quá trình
điều trị choáng điện duy trì.
1.5 CÁC THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN
1.5.1. Vài nét lịch sử về thuốc chống loạn thần
- Năm 1950, Charpentier đã tổng hợp được chlorpromazine trong quá trình tìm
kiếm một chất kháng Histamine mới để sử dụng phối hợp với thuốc gây mê. Sau
đó Paraire và Sigwald(1954), Delay và Deniker(1952) , Liebermann và
Hanranan (1954) đã ghi nhận tác dụng của chlorpromazine đối với các bệnh tâm
thần. Chlorpromazine nhanh chóng được các nhà tâm thần học sử dụng trong
lâm sàng và đạt được một số kết quả nhất định. Sụ ra đời của chlorpromazine
được đánh giá như là một cuộc cách mạng trong ngành tâm thần dược lý[18].
- Sau đó dẫn tới sự ra đời của các thuốc chống loạn thần điển hình khác như
haloperidol bởi Jansen 1958.
- Từ năm 1993 trở về sau các thuốc chống loạn thần không điển hình được ra đời
có hiệu quả hơn và ít tác dụng phụ hơn và được sử dụng rộng rãi trong điều trị
tâm thần phân liệt
Thuốc chống loạn thần có thể làm giảm nguy cơ tái phát trong giai đoạn
ổn định của bệnh đến dưới 30% mỗi năm. Không cần điều trị duy trì, 60-70%
bệnh nhân tái phát trong vòng 1 năm, và gần 90% tái phát trong vòng 2 năm. Các
chiến lược có thể được sử dụng để tăng khả năng bệnh nhân sẽ tuân thủ thuốc
theo quy định[9].
17
1.5.2. Phân loại thuốc chống loạn thần
1.5.2.1. Thuốc chống loạn thần điển hình
Có tác dụng đối vận với thụ thể D

- Có hiệu quả rõ rệt trong điều trị cơn hưng cảm.
Các thuốc SDA đều có cấu trúc phân tử khác nhau, có ái lực thụ thể khác
nhau. Tương tác giữa thụ thể với hiệu lực trị liệu cũng không rõ [38],[39 ].
Cơ quan kiểm duyệt thuốc và thực phẩm Hoa kỳ (FDA) đã công nhận
clozapine, risperidone và olanzapine là ba thuốc đầu tiên được là thuốc được
chọn trước tiên cho điều trị các bệnh nhân tâm thần phân liệt, cải thiện tốt các
triệu chứng âm tính ở các bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tính [15],[23 ],[64 ]
Risperidone năm 1993, olanzapine năm 1996 là những thuốc thuộc nhóm
thuốc chống loạn thần không điển hình dần dần thay thế thuốc chống loạn thần
điển hình trong chọn lựa thuốc điều trị tâm thần phân liệt và cải thiện kết quả
lâm sàng [37],[71 ],[81 ] .
Một số bằng chứng cho thấy thuốc chống loạn thần không điển hình có thể
cải thiện tốt hơn, hoặc góp phần ít làm ngày càng xấu đi các triệu chứng âm tính
và / hoặc suy giảm nhận thức[20].
Sự ra đời của risperidone, sertindole và olanzapine, và sự xuất hiện trên
thị trường của các thuốc chống loạn thần không điển hình khác như quetiapine
và ziprasidone, hứa hẹn niềm hy vọng lớn cho tương lai của điều trị tâm thần
phân liệt. Sự lạc quan này được củng cố bởi bằng chứng về hiệu quả của phương
pháp điều trị tâm lý xã hội được sử dụng ngày càng nhiều trên bệnh nhân tâm
thần phân liệt[28],[77 ].
Nghiên cứu về điều trị các thuốc chống loạn thần trong tâm thần phân liệt
mạn tính đã cho thấy tỷ lệ tái phát là 75% sau 6-24 tháng ở những bệnh nhân
được chuyển sang dùng giả dược sau một năm không có triệu chứng bệnh và tỷ
lệ tái phát là 23% ở những bệnh nhân dùng thuốc chống loạn thần liên tục
(Hegarty và cộng sự, 1994)[32],[75 ].
Có ý kiến cho rằng thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai sẽ chứng minh là
tác nhân mạnh mẽ để cải thiện các triệu chứng âm tính đã thay chỗ cho tư tưởng

Trích đoạn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các công cụ đánh giá Các bước tiến hành Các loại hoang tưởng của đối tượng nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status