0 PHẦN MỞ ĐẦU
0 3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 11
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề thái độ. 11
1.1.1. Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học phương Tây. 11
1.1.2. Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô và Đông âu. 12
1.1.3. Một số nghiên cứu về vấn đề thái độ ở Việt Nam 12
1.2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu thái độ nghề nghiệp: 14
1.2.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu thái độ nghề nghiệp ở phương Tây 14
1.2.2. Vài nét về lịch sử nghiên cứu thái độ nghề nghiệp ở Liên Xô và Đông Âuu 17
1.2.3. Vài nét về lịch sử nghiên cứu thái độ nghề nghiệp ở Việt Nam 17
2. Các khái niệm cơ bản: 18
2.1. Khái niệm thái độ 18
2.1.1. Đặc điểm của thái độ. 23
2.1.2. Cấu trúc của thái độ. 25
2.1.3. Chức năng của thái độ. 27
2.1.4 Cơ chế hình thành thái độ. 28
2.1.5 Mối quan hệ giữa thái độ và các hiện tượng tâm lý khác: 29
2.2. Thái độ nghề nghiệp: 33
2.3. Nghề phòng cháy chữa cháy: 34
2.3.1.Khái niệm nghề phòng cháy chữa cháy: 34
2.4. Khái niệm sinh viên. 41
2.4.1. Khái niệm: 41
2.4.2. Đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên: 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 44
3.3.Thái độ nghề nghiệp thể hiện ở hoạt động của sinh viên Đại học Phòng cháy, chữa cháy 93
3.3.1. Thực trạng về động cơ chọn nghề của sinh viên Đại học Phòng cháy, chữa cháy 93
Lý do 94
3.3.2. Thái độ thể hiện ở hành vi lựa chọn của sinh viên đối với các lĩnh vực công tác phòng
cháy và chữa cháy. 98
3.3.3.Thái độ thể hiện ở kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên. 100
3.3.4.Thái độ biểu hiện qua hành vi hoạt động học tập của sinh viên. 103
3.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ nghề nghiệp của sinh viên Đại học Phòng cháy, chữa
cháy. 109
5
3.4.1. Đánh giá của sinh viên và giáo viên về ảnh hưởng của các yếu tố đến thái độ nghề nghiệp
tích cực của sinh viên. 110
3.4.2. Đánh giá của sinh viên và giáo viên về những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ
nghề nghiệp của sinh viên. 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 116
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 117
say phn u hc tp v rốn luyn. Cu trỳc mi ca nhõn cỏch ngi sinh viờn ch
cú th hỡnh thnh v phỏt trin vng chc khi c ba mt: tri thc, thỏi v k nng
ngh nghip cựng phỏt trin ho quyn vo nhau.
3
Thực tiễn đào tạo đại học ở nƣớc ta cho thấy, còn có một bộ phận sinh viên
chƣa có thái độ đúng đắn đối với nghề đang theo học, dẫn đến tình trạng không tích
cực, thiếu chí tiến thủ, có thái độ “trung bình chủ nghĩa” trong học tập và rèn luyện
nhân cách nghề nghiệp. Việc nghiên cứu thực trạng nguyên nhân, điều kiện hình
thành thái độ nghề nghiệp của sinh viên chƣa đƣợc tiến hành thƣờng xuyên và đầy
đủ, do vậy, công tác giáo dục nhận thức, tình cảm nghề nghiệp cho sinh viên còn
hạn chế.
Ở nƣớc ta, sau những năm đổi mới, nền kinh tế có sự tăng trƣởng nhanh,
hình thành nhiều khu công nghiệp hiện đại, nhiều khu đô thị mới mà ở đó tập trung
một khối lƣợng lớn hàng hoá, vật tƣ, nguyên, nhiên vật liệu tiềm ẩn nhiều nguy cơ
cháy nổ và thực tế, tình hình này có chiều hƣớng gia tăng, trong đó đã có nhiều vụ
cháy lớn gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Từ thực tế đó và đứng trƣớc yêu cầu
đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy, một trong những nhiệm vụ hàng đầu cần
phải thực hiện là nâng cao chất lƣợng đào tạo đội ngũ sỹ quan nghiệp vụ phòng
cháy, chữa cháy.
Thực tiễn đào tạo của Trƣờng Đại học Phòng cháy, chữa cháy cho thấy, mặc
dù sinh viên của Trƣờng đƣợc tuyển chọn từ những học sinh phổ thông có lực học
khá, giỏi, đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, sức khoẻ, có ƣu thế hơn sinh viên
các trƣờng khác về điều kiện học tập, sinh hoạt và thƣờng xuyên đƣợc quản lý chặt
chẽ, song vẫn còn một bộ phận có biểu hiện ỷ lại, không tích cực học tập, rèn luyện
phẩm chất nhân cách, bản lĩnh nghề nghiệp.
Vấn đề cấp bách đặt ra trong quá trình đổi mới công tác đào tạo hiện nay của
Trƣờng Đại học Phòng cháy, chữa cháy là phải làm rõ thực trạng thái độ nghề
nghiệp của sinh viên, từ đó có những giải pháp về tổ chức hoạt động dạy học, quản
lý, về chính sách, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo, nhằm đào tạo đội ngũ sỹ
5
5.1. Khách thể nghiên cứu.
- Khách thể nghiên cứu chính là sinh viên hệ dài hạn tập trung. Mẫu nghiên
cứu là bốn nhóm sinh viên: năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba và năm thứ tƣ
(tổng số 332 sinh viên).
- Khách thể nghiên cứu phụ là cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý giáo dục
của nhà trƣờng.
5.2. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn này giới hạn ở mức độ tìm hiểu một số biểu hiện đặc trƣng của thái
độ đối với nghề đang theo học của sinh viên Đại học Phòng cháy, chữa cháy (tức là
thái độ của sinh viên Đại học Phòng cháy, chữa cháy đối với nghề nghiệp của lực
lƣợng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy).
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Thái độ của sinh viên trƣờng Đại học Phòng cháy chữa cháy đối với nghề
đang đƣợc đào tạo nhìn chung là khá tích cực nhƣng chƣa đồng đều, nguyên nhân
là có sự khác biệt về nhận thức, động cơ chọn nghề, do thời gian đào tạo của sinh
viên và do một số cơ chế chính sách cũng nhƣ công tác quản lý giáo dục đào tạo có
một số điểm chƣa phù hợp.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng đồng
bộ các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
7.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Mục đích cơ bản của phƣơng pháp này là trên cơ sở đọc và phân tích các
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, làm rõ lý luận có liên quan đến thái độ và thái độ
nghề nghiệp. Trên cơ sở kiến thức thu đƣợc từ các nguồn tài liệu, phân tích có chọn
lọc, chúng tôi tiến hành xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
6
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
ChƣơngI
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề thái độ.
1.1.1. Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học phương Tây.
Vấn đề thái độ đƣợc coi là một trong những nội dung trọng tâm của Tâm lý
học phƣơng Tây. Từ đầu thế kỷ XX thái độ đã đƣợc nghiên cứu một cách rộng rãi
trên bình diện lý luận và thực tiễn.
Nhà tâm lý học ngƣời Nga P.H. Shikhirev khi phân tích lịch sử nghiên cứu
vấn đề thái độ ở phƣơng Tây đã chia quá trình này thành ba thời kỳ:
- Thời kì đầu tiên (từ năm 1918 đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai). Những
ngƣời đầu tiên sử dụng khái niệm “thái độ” là W.I. Thomas và F. Znaniecki. Trong
thời kì này, các công trình nghiên cứu tập trung vào định nghĩa, cấu trúc, chức
năng, quan hệ giữa thái độ và hành vi.
- Thời kỳ thứ hai (từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối những năm
50). Biểu hiện cơ bản của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc
8
chi phối hành vi. Do nhiều nguyên nhân mà các công trình nghiên cứu thái độ ở
giai đoạn này bị giảm sút.
- Thời kỳ thứ ba (từ cuối những năm 50 đến nay). Ở thời kỳ này các công
độ. Trong các nghiên cứu của các nhà Tâm lý học, thái độ đƣợc đề cập đến nhƣ một
nội dung của các vấn đề thuộc lý luận hay thực tiễn. Chẳng hạn nhƣ thái độ trong
nhân cách, thái độ trong tâm lý xã hội, hoặc nhƣ trong nghiên cứu về định hƣớng
giá trị của thanh niên trong điều kiện kinh tế thị trƣờng tác giả Thái Duy Tuyên đã
đề cập đến thái độ nhƣ là các mặt biểu hiện của định hƣớng giá trị trong các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, đời sống xã hội.v.v Nhìn chung quan điểm của các nhà Tâm
lý học Việt Nam về thái độ trùng với quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết.
Những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp cử nhân
tâm lý học đã đi vào nghiên cứu vấn đề thái độ. Những đề tài này đã có những đóng
góp nhất định cả về lý luận và thực tiễn.
Trong đề tài của Nguyễn Đức Hƣởng “Nghiên cứu thái độ học tập của sinh
viên Đại học An ninh”, tác giả đã đƣa ra định nghĩa thái độ học tập nhƣ sau: “Thái
độ học tập là thuộc tính phức hợp của nhân cách, thể hiện ý thức, tính cách, hứng
thú, tình cảm, ý chí của chủ thể trong hoạt động học tập thông qua các đánh giá
chủ quan về mặt nhận thức, cảm xúc và hoạt động với đối tượng có liên quan đến
việc thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Thái độ học tập được thể hiện thông qua thái
độ với các yếu tố thành phần như: Thái độ đối với mục đích học tập, thái độ đối với
điều kiện, môi trường của hoạt động học tập, thái độ đối với tổ chức hoạt động học
tập, đối với các hành động học tập, với kết quả, với quá trình học tập”{14} Trên cơ
sở định nghĩa thái độ học tập đã nêu, có thể xây dựng các chỉ báo của thái độ học
tập làm cơ sở định hƣớng cho nghiên cứu thái độ học tập.
Đề tài của Lâm Thị Sang, “Nghiên cứu thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp
vụ sƣ phạm của sinh viên trƣờng Cao đẳng sƣ phạm tỉnh Bạc Liêu”. Trong đó đã
10
đƣa ra khái niệm thái độ đối với rèn luyện nghiệp vụ sƣ phạm, phân tích vai trò của
thái độ đối với rèn luyện nghiệp vụ sƣ phạm - một hoạt động hết sức quan trọng
trong quá trình học nghề và rèn luyện nhân cách nghề nghiệp của sinh viên sƣ
phạm.
“Nghiên cứu thái độ nghề nghiệp của học sinh học nghề” của Phan Thị Ngọc
“hấp dẫn” mà các ông đã đƣa ra thì các yếu tố nhƣ: Mức tiền lƣơng, sự đánh giá
đúng mức về cá nhân, sự thừa nhận uy tín và những giá trị cá nhân ngƣời lao động
đƣợc coi là những yếu tố hấp dẫn với sự làm việc, tạo cho ngƣời lao động có thái
độ tích cực, yên tâm, thoả mãn với công việc.{Dẫn theo (1)}
R. Likert (1961) nghiên cứu mối quan hệ giữa sự thoả mãn nghề với phong
thái nghề thấy rằng sự thoả mãn nghề (thái độ nghề nghiệp tích cực) là điều kiện
hình thành phong thái nghề nghiệp tối ƣu ở những ngƣời có mức độ kĩ xảo nghề
cao{26}.
Morse và Reimer qua nghiên cứu đã kết luận rằng môi trƣờng xã hội ảnh
hƣởng tới thái độ nghề nghiệp và thúc đẩy năng suất lao động cao hơn {22}.
Hai tác giả A.N. Turner và Lawrence (1965) nghiên cứu những yếu tố cá
nhân ảnh hƣởng đến chất lƣợng công việc nhƣ: Tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ,
nghiên cứu khả năng đáp ứng yêu cầu của các nghề và đƣa ra chỉ số về những yêu
cầu của nghề nghiệp RTA (Required Task Attribution). Chỉ số này rất thấp đối với
các nghề đơn giản, còn các nghề phức tạp, đòi hỏi tri thức, kĩ xảo cao hơn thì chỉ
số RTA cao hơn. RTA tỉ lệ thuận với thoả mãn nghề nghiệp và tỉ lệ nghịch với sự
vắng mặt trong công việc.
Turner - Lawrence và Blood - Hulin đã kết luận rằng: Thái độ đối với nghề
nghiệp phụ thuộc và thay đổi tuỳ theo đặc điểm từng cá nhân, sự khác nhau về vị trí
và ý nghĩa giá trị công việc. Kết quả thực nghiệm của các tác giả này cho thấy thái
độ nghề nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách và hoàn cảnh từng ngƣời, điều
12
kiện kinh tế của họ (thu nhập tiền lƣơng), uy tín và tính phong phú của công việc.
Theo các ông có bốn biến số cơ bản ảnh hƣởng tới thái độ nghề nghiệp, tới công
việc là:
- Những yếu tố trực tiếp do công việc đem lại nhƣ: thu nhập tiền lƣơng, tiền
thƣởng, trợ cấp; tập thể, cộng đồng nơi làm việc; vị trí của ngƣời lao động trong tổ
chức; đóng góp của họ với tổ chức làm việc.
- Sự hứng thú hoặc chán ghét ở mức bền vững, sâu sắc đối với công việc.
thái độ nghề nghiệp của học sinh học nghề thông qua nghiên cứu động cơ chọn
nghề, thái độ học tập, định hƣớng giá trị, sự thoả mãn nghề đƣợc chọn.
Đã có những nghiên cứu hợp tác của các nhà tâm lý giáo dục của các nƣớc
Xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trƣớc đây về định hƣớng cuộc sống của
thanh niên lao động, trong đó có điều tra về vấn đề thái độ nghề nghiệp của học
sinh trƣờng nghề đã cho kết quả: Các yếu tố đƣợc thanh niên đánh giá cao trong
các yêu cầu đối với công việc là: Công việc hấp dẫn đối với bản thân, công việc
phù hợp năng lực sở trƣờng, công việc cần cho xã hội, công việc có thu nhập cao,
có khả năng nâng cao tri thức nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, học
sinh trƣờng nghề đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến thái độ học tập nhƣ sau:
+ Các yếu tố chủ quan, đó là: Ý nghĩa xã hội của học vấn nghề nghiệp, sự
thoả mãn bởi hoạt động học tập…
+ Các yếu tố khách quan, đó là: Nội dung học tập, mối liên quan giữa
chƣơng trình học với thực tập, thái độ của giáo viên, ảnh hƣởng của tập thể .v.v.
Còn thái độ tiêu cực đối với học tập là do: Quan hệ xấu giữa giáo viên và học
sinh, chất lƣợng giảng dạy kém, thiếu hứng thú với môn học, không thỏa mãn trong
học tập…
1.2.3. Vài nét về lịch sử nghiên cứu thái độ nghề nghiệp ở Việt Nam
14
Ở Việt Nam, để phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc, những
vấn đề về ngƣời lao động nói chung đƣợc quan tâm nghiên cứu, trong đó có một số
nghiên cứu về thái độ nghề nghiệp.
Năm 1985 đề tài “Hình thành tác phong công nghiệp” (Viện nghiên cứu phát
triển giáo dục Hà Nội) đƣợc nghiên cứu đã có tác dụng hình thành tƣ duy kĩ thuật,
tác phong công nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất cho học sinh cắt may.
Đề tài “Bước đầu tìm hiểu thái độ nghề nghiêp của giáo viên tâm lý giáo
dục ở một số trường sư phạm ở Hà Nội” của Lê Thị Thu Hƣơng (1985) đã xác định
thực trạng thái độ nghề nghiệp và đề xuất một số giải pháp xây dựng thái độ nghề
nghiệp tích cực của giáo viên tâm lý giáo dục.
H. C. Triandis (1917) xác định: “Thái độ là tư tưởng được hình thành từ
những cảm xúc, gây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong
những tình huống xã hội. Thái độ của con người bao gồm những điều người ta suy
nghĩ và cảm thấy về đối tượng cũng như thái độ xử sự của họ đối với nó” {Dẫn
theo (14)}.
G. W. Allport (1953) cho rằng: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh
thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh
hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thể
và tình huống mà nó quan hệ” {38 tr 789}. Nhƣ vậy, thái độ đƣợc coi nhƣ một
trạng thái tâm lý, thần kinh cho hoạt động. Sự có mặt của thái độ chuẩn bị cho cá
nhân đi tới một hành động nào đó.
Định nghĩa trên đƣợc nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì nó đã trả lời đƣợc
các vấn đề: Thái độ là gì, có nguồn gốc từ đâu, và có vai trò, chức năng nhƣ thế
nào. Tuy nhiên ở khái niệm trên G. W. Allport chƣa đề cập đến vai trò của nhu cầu
và của môi trƣờng xã hội trong quá trình hình thành thái độ.
16
T. Newcome sau này cũng đã định nghĩa: “Thái độ của cá nhân đối với một
đối tượng nào đó là thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh
ta với khách thể liên quan”. {Dẫn theo (28)}
Trong tâm lý học nhân cách, các tác giả đã coi thái độ là thuộc tính nhân
cách. J. P. Guilford (1964) đã dựa vào quan niệm xem nhân cách nhƣ một cấu trúc
độc đáo. Cấu trúc đó gồm các khía cạnh: nhu cầu, khí chất, năng lực, giải phẫu,
hình thái, thái độ. Từ đó ông cho rằng: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ
liên quan đến những hoàn cảnh xã hội”. {Dẫn theo (13)}.
Ở các định nghĩa trên, điều đáng lƣu ý là, tuy có những hình thức diễn đạt
khác nhau, có những chi tiết không thống nhất, nhƣng khi đƣa ra định nghĩa về thái
độ các tác giả đều dựa vào chức năng của nó. Thái độ có chức năng định hƣớng
hành vi ứng xử của con ngƣời, chức năng thúc đẩy, tăng cƣờng tính sẵn sàng của
những phản ứng khi con ngƣời hƣớng tới đối tƣợng. Nhƣ vậy, hƣớng xem xét, phân
sự vật này hay sự vật khác” (K. Marx và F. Engels Toàn tập, tập III) {Dẫn theo(5)}.
Mặt khác, D. N. Uznatze cũng thừa nhận thái độ mang trong mình tính tự giác, tính
năng động của một hiện tƣợng tâm lý ở cấp độ ý thức điều khiển, điều chỉnh hành
vi con ngƣời.
Qua những khái niệm trên ta thấy các tác giả đều khẳng định đến khía cạnh
tâm lý cá nhân trong thái độ. Các tác giả đều cho rằng thái độ là cái gì đó rất riêng
của cá nhân nhƣ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân. Tuy nhiên, nói đến thái độ
không chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân mà phải xem xét nó trong mối quan
hệ với các yếu tố khác nhƣ mối quan hệ với ngƣời khác và trong mối quan hệ phức
tạp và đa dạng của xã hội.
Thái độ không chỉ mang tính chất cá nhân mà còn mang tính xã hội. Thông
thƣờng, thái độ mang tính chất riêng tƣ của cá nhân vì mỗi cá nhân là một chủ thể
riêng biệt, song cá nhân lại sống trong một xã hội nhất định, tồn tại với các mối
18
quan hệ xã hội nhất định cho nên xã hội chi phối đến thái độ con ngƣời một cách rõ
rệt. Vì vậy, thái độ phải đƣợc xem xét dƣới góc độ xã hội.
Với cách nhìn toàn diện không chỉ bao hàm tâm lý học cá nhân mà còn bao
hàm tâm lý học xã hội, khái niệm thái độ của H. Hiebsch và M. Vorwerg nhấn
mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp tác của con
ngƣời trong xã hội: “Thái độ là sự sẵn sàng bị qui định và có tính chất bắt buộc nào
đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể. Về mặt
lƣợng cũng nhƣ về mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ
thể hữu quan mà trƣớc hết là một hiện tƣợng tâm lý xã hội phụ thuộc vào khuynh
hƣớng cá nhân gắn liền với những chuẩn mực của nhóm” {16,170}.
Nhƣ vậy, dù nhìn nhận thái độ nhƣ một thuộc tính cơ bản của ý thức cá nhân
hay nhƣ một hiện tƣợng tâm lý xã hội, các nhà tâm lý học đều nghiên cứu khái
niệm này xuất phát từ quan điểm chức năng, tiếp cận nó nhƣ một khái niệm chức
năng. Điều đó có nghĩa là, về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn, có thể nhận biết và
xem xét thái độ thông qua chức năng của nó đối với hoạt động hƣớng tới đối tƣợng
cách phản ứng của cơ thể đối với hiện thực, là thuộc tính tâm lý, là quan điểm, là
cách cƣ xử, là thiên hƣớng của cá nhân đối với hiện thực, là sự đánh giá, là tâm thế
xã hội, là động cơ thúc đẩy hành động. Do các tác giả dựa vào các tiền đề lý thuyết
khác nhau hoặc xem xét thái độ với những mục đích khác nhau nên có sự khác
nhau nhƣ vậy.
Qua việc tìm hiểu, xem xét, phân tích các quan niệm về thái độ nhƣ trên,
theo chúng tôi, có thể rút ra khái niệm thái độ một cách đầy đủ và phù hợp với đề
tài, đó là: thái độ là một bộ phận cấu thành, một thuộc tính toàn vẹn của ý thức tạo
ra trạng thái tâm lý sẵn sàng phản ứng lại các tác động khách quan, sẵn sàng hành
20
động với đối tượng theo một hướng nhất định, được biểu hiện ra ở quá trình nhận
thức, cảm xúc và hành vi của chủ thể trong những tình huống, điều kiện nhất định.
2.1.1. Đặc điểm của thái độ.
Các nhà tâm lý học Cộng hoà dân chủ Đức nhƣ G. Claus, A. Kossakowski,
M. Vorwerg, H. Hiebsch cho rằng thái độ có những nét cơ bản sau:
“1. Các thái độ đƣợc hiểu nhƣ các mặt biểu hiện của cá nhân.
2. Các thái độ là những mặt biểu hiện hành vi xã hội đƣợc tiếp thu trong sự
tƣơng tác với môi trƣờng xã hội.
3. Thái độ là một xu hƣớng nhân cách phụ thuộc vào chuẩn mực xã hội”
{16}
Theo X. L. Rubinstêin có thể phân biệt ba đặc điểm của thái độ:
“1. Các thái độ nhƣ là hệ thống các điều kiện bên trong “đáp lại” những tác
động bên ngoài và qui định hành vi cụ thể trong sự tác động qua lại với các điều
kiện bên ngoài.
2. Các thái độ luôn luôn phát triển trong sự phụ thuộc vào tồn tại xã hội có
thực.
3. Các thái độ cần đƣợc coi nhƣ các hệ thống chức năng, xét về mặt sinh lý
học thần kinh” {Dẫn theo (15)}.
G. V. Allport {38, 810} xem xét 17 định nghĩa khác nhau đã nêu ra năm đặc
chỉ nhìn thấy những biểu hiện thái độ thƣờng ngày, bên ngoài, ít biết đƣợc những
thái độ sâu sắc ổn định ẩn náu ở tầng sâu của nhân cách. Chỉ khi gặp những đối
tƣợng “của nó” trong những tình huống “đúng với nó” thái độ thầm kín này mới
đƣợc bộc lộ ra.
- Phƣơng thức biểu hiện thái độ đƣợc tạo nên bởi các yếu tố: Khí chất, thói
quen, trạng thái tâm, sinh lý, những đặc điểm cá biệt của cá nhân.