SKKN Biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý hệ thống câu hỏi trong giảng dạy phân môn tập đọc sách Tiếng Việt 5 - Pdf 25

Sáng kiến kinh nghiệm
Dạy Tập đọc - Lớp 5
Đề tài :
“Biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý hệ thống câu hỏi trong
giảng dạy phân môn tập đọc sách Tiếng Việt 5”.
PHẦN I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1. Cơ sở lý luận :
Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã và đangđược thực hiện ở
hầu hết tất cả các trường tiểu học hiện nay. Môn Tiếng Việt là một trong những
môn học có nhiềuđổi mới cả về nội dung và phương pháp dạy học nhằm thực hiện
mục tiêuphát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh tiểu học, giúp các em
làm chủ được công cụ ngôn ngữ học tập, trong nhà trường và giao tiếp một cách
đúng đắn, mạch lạc, tư nhiên trong môi trường xã hội. Nguyên tắc giao tiếp được
chọn làm định hướng cơ bản cho đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.
Đặc biệt đối với phân môn tập đọc,thông qua hệ thống bài đọc theo các chủ điểm
với các câu hỏi và bài tập khai thác nội dung ở mỗi bài, nhiệm vụ của mỗi giáo
viên là phải giúp học sinh có những hiểu biết về tự nhiên xã hội, con người qua đó
hình thành cho các em một vốn từ vốn diễn đạt và những hiểu biết nhất định về các
tác phẩm đó góp phần vào việc rèn luyện nhân cách cho các em. Không những vậy
phân môn tập đọc còn gợi mở cho học sinh cái hay cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt
và hiểu được phần nào cuộc sống sung quanh.Qua đó bồi dưỡng cho học sinh
những tình cảm chân chính, lành mạnh như: Tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình
bạn, tình yêu quê hương đất nước, con người, đồng thời hình thành và phát triển ở
học sinh phẩm chất tốt đẹp.
Nhiệm vụ của việc dạy học tập đọc trong nhà trường Tiểu học là giúp học
sinh củng cố, phát triển kỹ năng đọc hơn, đọc thầm, dọc lướt để chọn thônh tin và
bước đầu biết đọc diễn cảm, đọc hiểu và nắm được nội dung bài, phát hiện ra
1
những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của bài. Để giải quyết được nhiệm vụ
đó trong dạy học mỗi giáo viên cần biết khai thác một cách hợp lý hệ thống câu hỏi

đọc sao cho hiểu quả nhất thì còn một số giáo viên vẫn chưa hề động não, suy nghĩ
nghiên cứu, đổi mới phương pháp trong khi dạy phân môn này mà vẫn còn quan
niệm “ Dạy tập đọc chủ yếu cứ cho học sinh đọc to, rõ, đọc đúng tiếng là được”
cho nên trong các giờ tập đọc giáo viên chỉ cho học sinh luyện đọc sau đó đến
phần tìm hiểu bài giáo viên chỉ nêu “ nguyên bản” những câu hỏi trong sách giáo
khoa cho học sinh trả lời, còn học sinh chỉ dựa vào sách giáo khoa đọc lại những ý
liên quan đến nội dung câu hỏi. Giáo viên không cần biết những câu hỏi đó có phù
hợp với đối tượng học sinh lớp mình hay không. Còn những câu hỏi nàogiáo viên
đưa ra học sinh không trả lời được giáo viên trả lời hộ luôn cho nhanh để giờ học
nhẹ nhàng nhanh chóng kết thúc cũng vừa đủ 40 phút ( ! ) .
Cũng có giáo viên chỉ lo “ luyện” cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm thỉ
đọc “ chầm chậm” là được còn ý các đoạn và nội dung bài thì học sinh không nói
đúng giáo viên tự cho ghi và yêu cầu các em ghi nhớ máy móc hoặc học thuộc. Với
cách dạy này thì làm sao học sinh có thể hiểu được thấu đáo nội dung bài mà có
cách đọc diễn cảm đúng, cũng có giáo viên trong phần tìm hiểu bài chỉ “ ưu tiên”
cho những học sinh khá trả lời hoặc những học sinh hay trả lời. Nếu làm như vậy
thì một số bộ phận học sinh trong lớp sẽ không có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình và
sẽ không làm cho các bạn tự nhiên, tự tin trong học tập.
Hoặc có giáo viên còn đưa ra những câu hỏi rườm rà, khó hiểu làm cho học
sinh lúng túng, không xác định đúng nội dung.
b/ Thực trạng của học sinh.
- Trong phần đọc hiểu, đọc thầm các em ngại suy nghĩ.
- Hiểu biết vốn từ còn ít ỏi nên nhiều khi hiểu sai nghĩa của từ dẫn đến hiểu
sai câu, đoạn và nội dung văn bản.
- Nhiều học sinh quen chỉ ỷ nại vào các bạn học khá phát biểu còn mình
không cần suy nghĩ ( bởi cô giáo cũng không gọi đến lượt mình).
3
- Nhiều học sinh chỉ đọc to, đọc trôi chảy hoặc chầm chầm đều đều hoặc
không đúng ngữ điệu, lời văn, giọng thơ không phù hợp với nội dung bài văn, bài
thơ đó cần diễn tả

hỏi : Tranh vẽ cảnh gì ? Màu sắc trong tranh như thế nào ?
- Thu thập thông tin bằng cách liệt kê : Đó là dạng câu hỏi mà trong câu trả
lời yêu cầu học sinh phải liệt kê ra những chi tiết, hình ảnh trong câu hỏi đặt ra.
Ví dụ

: Kể tên những sự vật trong bài có màu vàng và từ chỉ màu vàng
đó
( câu hỏi 1 - trong bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” ).
- Thu thập thông tin bằng cách lựa chọn : Khác biệt thu thập thông tin bằng
cách liệt kê thì thu thập thông tin bằng cách lựa chọn yêu cầu đặt ra ở đây là học
sinh phải biết lựa chọn những thông tin cần thiết đó là những hình ảnh, những chi
tiết phù hợp với nội dung câu hỏi.
Ví dụ : Dựa vào bảng thống kê số liệu trong bài em hãy cho biết : Triều đại
nào tổ chức nhiều khoa thi nhất, triều đại nào có nhiều tiến sĩ nhất ( Câu hỏi 2
trong bài “ Nghìn năm văn hiến”- tiết 1 - tuần 2 ).
b/ Câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích nghĩa cho nội dung thông tin.
Sau khi thu thập được những nội dung thông tin có trong bài, bước tiếp theo
là cần phải giúp các em biết xử lí các thông tin đó bằng cách giải thích nghĩa cho
các thông tin đó . Đó là việc làm yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi manh tính
chất so sánh, phân tích để giải thích nội dung các thông tin .
- Câu hỏi so sánh : Đó là những câu hỏi yêu cầu học sinh tìm ra sự giống,
khác nhau giữa hai hay một số đối tượng nào đó.
Ví dụ : Chiếc áo dài tân thời có gì khác so với chiếc áo dài cổ truyền?
( Câu hỏi 2 trong bài “ Tà áo dài Việt Nam” - Tiết 2 - tuần 30 ) .
- Câu hỏi phân tích : Đó là những câu hỏi tại sao ? Như thế nào ? nhằm
giải thích một số vấn đề nào đó cho nội dung thông tin.
Ví dụ : Vì sao rừng khộp được gọi là “ giang sơn vàng rợi” ? ( Bài “ Kỳ
diệu rừng xanh” - tiết 1 tuần 8) .
5
Người dân Cà Mau có tính cách như thế nào ? ( Câu hỏi 2 trong bài “ Đất

- Cần linh hoạt xủ lí các câu hỏi tùy theo từng đối tượng học sinh, có thể
biến đổi các câu hỏi bằng cách tăng hay giảm độ khó sao cho phù hợp với trình độ
học sinh để tiết học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.
- Hệ thống câu hỏi cần được đặt ra theo một trình tự đảm bảo lo-gic, câu hỏi
sau cần cần tiếp nối ý của câu hỏi trước, bổ sung hoàn thiện cho câu hỏi trước. Các
câu hỏi cần móc nối với nhau để tạo ra một ý nghĩa trọn vẹn cho nội dung bài học.
- Câu hỏi đặt ra phải vừa sức đối với học sinh, không quá dễ để học sinh có
thể trả lời ngay được mà không cần phải tư duy suy nghĩ không phát triển được trí
tuệ cho các em, cũng không qúa khó đánh đố học sinh gây sự bế tắc làm cho học
sinh chán nản không có hứng thú trong học tập. Không hỏi học sinh những câu hỏi
cụt lủn mà học sinh chỉ cần trả lời có hoặc không. Những câu hỏi có nhiều đáp án
học sinh có thể trả lời liều vẫn đúng, nội dung câu trả lời không phù hợp với nội
dung bài học, những câu hỏi mớm lời, mách nước lộ liễu cho học sinh cũng
không nên hỏi học sinh những câu hỏi lấp lửng mập mờ làm cho các em khó xác
định câu trả lời đúng, những câu hỏi có nhiều nghĩa hoặc tối nghĩa làm cho học
sinh bế tắc hoặc bối rối không tìm được câu trả lời
khi đưa ra câu hỏi cần phải có đủ thời gian cho học sinh suy nghĩ và trả lời
câu hỏi, không yêu cầu học sinh trả lời ngay khi các em chưa kịp suy nghĩ, cũng
không để thời gian quá dài để các em lợi dụng gây mất trật tự lớp học. Phải tìm ra
những ưu điểm trong các câu trả lời của học sinh, đặc biệt không nên dè bỉu hoặc
dèm pha những câu trả lời chưa đúng hoặc không sát với nội dung câu hỏi làm các
em tự ti lần sau không dám phát biểu. Không nên lợi dụng các học sinh khá giỏi
trong lớp mà thường xuyên gọi các em trả lời câu hỏi, cần gọi những học sinh học
kém hơn không hay phát biểu ý kiến trả lời trước rồi mới gọi học sinh khá giỏi bổ
sung câu trả lời như vậy mới phát hiện ra những cái sai mà học sinh gặp phải, hơn
thế nữa còn giúp cả lớp có không khí học tập sôi nổi hơn. Với những câu hỏi khó
cần cho học sinh tìm ra hết những phương án trả lời nếu không có học sinh trả lời
nữa lúc đó giáo viên mới đưa ra phương án trả lời tránh tình trạng giáo viên nêu ra
câu hỏi rồi lại trả lời ngay giúp học sinh như vậy sẽ không kích thích tư duy các
em phát triển.

để học sinh hiểu được Thu thích ra ban công là được nghe ông nội rủ rỉ giảng cho
8
nghe về từng loài cây thì cần thay đổi câu hỏi đó bằng câu hỏi:Tại sao?(tại sao bé Thu
thích ra ban công?)
Đối với câu hỏi 2, đây là một câu hỏi khái quát với nội dung khá dài do đó để
giúp học sinh nắm rõ được đặc điểm của từng loài cây ở đây, giáo viên có thể chẻ nhỏ
thành các câu hỏi như:
-Lá của cây Quỳnh có đặc điểm gì? (Lá của cây Quỳnh dày, giữ được nước).
-Cây hoa Ti gôn có đặc điểm gì? thân của nó thuộc loại thân gì ? (cây hoa Ti
gôn thích leo trèo, có những cái râu thò ra ngọ nguậy như những cái vòi voi bé síu,
một cành của nó quấn chặt vào cây hoa giấy. Thân của nó thuộc loại thân leo ).
- Búp của cây đa ấn Độ có đặc điểm gì ? (Búp của cây đa ấn độ đỏ hồng nhọn
hoắt và khi đủ lớn thì xòe thành chiếc lá nâu rõ to, ở trong lại hiện ra cái búp mới ).
Nếu không chẻ nhỏ như trên thì học sinh khó có thể phân tích được đặc điểm
nổi bật của từng loại cây ở đây.
Đối với câu 3, đây là một câu hỏi tương đối khó với học sinh. Để tìm ra được
nội dung câu trả lời học sinh phải hiểu được điều Thu chưa vui là do cái Hằng ở nhà
dưới cứ bảo ban công nhà Thu không phải là vườn vì vậy khi thấy chim về đậu ở ban
công Thu phải báo ngay cho Hằng để chứng minh cho Hằng biết khu vườn nhà Thu
đúng là vườn. Theo Thu thì “ Ban công có chim về đậu tức là vườn rồi “. Việc làm đó
quả thật rất khó đối với học sinh, thay cho câu trả lời đúng chắc chắn sẽ có nhiều học
sinh đọc lại toàn bộ “Một sớm chủ nhật tức là vườn rồi!” mà bỏ quyên mất điều cần
nêu cho câu hỏi đó là “ Có điều Thu chưa vui Không phải là vườn!”.Vì vậy khi dậy
giáo viên có thể biến đổi câu hỏi đó thành các câu hỏi khác như sau:
Thu đã phát hiện ra điều gì khác tại ban công nhà mình ? (Thu đã phát hiện ra
chú chim lông xanh biếc xà xuống cành Lựu ).
Điều đó đã giúp Thu chứng minh cho Hằng biết điều gì? (điều đó đã giúp THu
chứng minh cho Hằng biết ban công nhà Thu cũng là vườn bởi vì có chim về đậu).
Theo em thì Thu nói có đúng không, tại sao? (Đối với câu hỏi này giúp các em
liên hệ thực tế, sẽ có nhiều đáp án khác nhau tùy theo cách hiểu của mỗi học sin, giáo

“Sáng mát trong,gió thổi mùa thu, hương cốm mới,” Thật là đẹp của mùa thu Hà Nội
những năm kháng chiến, nhưng “ Những ngày thu ấy” cũng thật buồn bởi đất nước
vẫn còn chiến tranh và hình ảnh “ Sáng chớm lạnh, những phố dài xao xác hơi may,
10
thềm nắng lá rơi đầy, người ra đi đầu không ngoảnh lại” sẽ giúp học sinh liên tưởng
được nét buồn sâu lắng nhưng rất đỗi tự hào của dân tộc ta những năm kháng chiến.
ở câu 2, tương tự như vậy để học sinh hiểu rõ hơn cảnh đẹp của đất nước trong
mùa thu mới giáo viên cần cho học sinh nắm được biện pháp tu từ mà tác giả đã sử
dụnh trong khổ thơ nhằm nói lên niềm vui phơi phới, rộn ràng của thiên nhiên đất
nước trong mùa thu thắng lợi. Do đó cần đưa ra câu hỏi bổ sung; tác giả đã sử dung
biện pháp tu từ gì để tả cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nước trong mùa thu mới đó?( Đó
là biện pháp tu từ nhân hóa “Rừng tre phấp phới : “ Trời thu thay áo mới “: “Trong
biếc nói cười thiết tha” )
ở câu 3, đây là một câu hỏi khá dài đối với học sinh và các em sẽ dễ đưa ra câu
trả lời bằng cách đọc lại toàn bộ cả hai khổ thơ. Để gíup học sinh hiểu một cách sâu
sắc khi dạy giáo viên cần tách thành các câu hỏi nhỏ như sau :
Trong khổ thơ thứ 3, những từ ngữ, hình ảnh nào nói lên lòng tự hào về đất
nước tự do của dân tộc ta ?
( Trời xanh đây, núi rừng đây, là của chúng ta, những cánh đồng thơm mát )
Cụm từ “ Là của chúng ta” Lặp lại nhằm mục dích gì? (nhấn mạnh niềm tự hào
và hạnh phúc của đất nước khi đã được độc lập tự do).
Lòng tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc được thể hiện qua những từ
ngữ nào trong khổ thơ cuối? ( Những người chưa bao giờ khuất, đêm đêm, rì rầm
trong tiếng đất, ngày xưa vọng nói về ).
Kết quả của việc thực hiện
Sau khi thực hiện biện pháp trên vào việc dạy phân môn tập dọc lớp 5 tôi thấy
về mặc chuyên môn tôi hiểu biết thêm nhiều và tự tin không còn lo học sinh mình
“yếu quá “ Không hiểu nội dung bài tập đọc như trước nữa. Tôi càng vui hơn khi thấy
học sinh của mình tiến bộ nhiều, nội dung kiến thức các bài văn bài thơ dã học các em
nắm rất chắc: và đọc diễn cảm tốt các bài văn bài thơ đó

thú hơn trong học tập. để làm được điều đó đòi hỏi ở mỗi giáo viên sự linh hoạt và
sáng tạo trong mõi tiết dạy.
2. Bài học kinh nghiệm :
*Đối với giáo viên .
_Muốn khai thác và sử dụng hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa hợp lý và
hiệu quả thì điều trước tiên giáo viên phải đọc và hiểu rõ nội dung bài tập đọc từ đó
lập kế hoạch cho bài gảng ( Khi soạn giáo viên cần soạn chi tiết phần tìm hiểu bài
trong giao án )
-Để giúp học sinh trả lời các câu hỏi trong bài tập đọc giáo viên nhất thiết phải
hướng dẫn các em nắm vững đặc trưng hệ thống câu hỏi trong từng loại văn bản khác
12
nhau trước khi yêu cầu các em trả lời. Nếu học sinh chưa nắm chắc được sự khác biệt
giữa các lọai bài đọc thì chất lượng trả lời sẽ không đạt yêu cầu mong muốn .
- Giáo viên cần bố trí thời gian phù hợp để các em đọc, hiểu văn bản, hiểu đầy
đủ yêu cầu của các câu hỏi. Giáo viên có thể nêu hoặc để học sinh xác định yêu cầu
cụ thể của mỗi câu hỏi học sinh mới có thể trả lời chính xác được. Giáo viên không
nhất thiết nóng vội chạy theo thời gian cho xong nội dung cần dạy. Chỉ có trên cơ sở
học sinh nắm được câu hỏi và trả lời câu hỏi thì kết quả đọc của học sinh mới đạt kết
quả.
- Giáo viên thường xuyên dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu,
sách tham khảo để trau dồi thêm kiến thức và phương pháp dạy học.
- Giáo viên luôn tạo hứng thú học tập và bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học
sinh.
*Đối với học sinh:
- Các em phải có ý thức tự học, tự rèn luyện, tự suy nghĩ và chăm chú nghe
thầy cô giảng và ý kến phát biểu của các bạn.
- Đăc biệt các em phải có lòng say mê học tập và yêu thích văn học
PHẦN IV
NHỮNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.
1/ Đề nghị với tổ chuyên môn và nhà trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status