Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và thực hiện chính sách này ở tỉnh Nam Định hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________________ 

VŨ THỊ HƢƠNG
( THÍCH ĐÀM HÂN)
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VÀ VIỆC THỰC HIỆN
Ở TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành : Tôn giáo học
Mã số : 60.22.90



Học viên : Vũ Thị Hƣơng ( Thích Đàm Hân)
Giáo viên hƣớng dẫn : PGS.TS Nguyễn Hồng Dƣơng

Hà Nội - 2010
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU: 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ đề tài 3
4. đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn 5
7. Kết cấu luận văn 5
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM 6
1.1 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam
trƣớc 1990 6
1.1.1. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Việt Nam trước năm 1975 6
1.1.2. Quan diểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1990 13
1.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam

KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là nước đa tôn giáo. Hiện nay có 12 tôn giáo và 32 tổ chức tôn
giáo được nhà nước thừa nhận tư cách pháp nhân. Tôn giáo là vấn đề hết sức
nhạy cảm. Nắm rõ vai trò và tầm quan trọng của tôn giáo nên Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định và quản lý tôn giáo.
Quan điểm xuyên suốt nhất quán trong toàn bộ hệ thống chính sách và
công tác quản lý tôn giáo của Đảng, Nhà nước là tôn trọng và đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại các âm
mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng.
Công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua đã đạt được những
thành tựu hết sức to lớn. Theo đó, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta cũng được đổi mới về căn bản, vì thế đã đáp ứng nguyện vọng sinh hoạt tôn
giáo chính đáng của nhân dân, tạo được tinh thần phấn khởi trong tín đồ các
tôn giáo. Hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, ổn định theo hướng tuân
thủ pháp luật của Nhà nước và đúng với hiến chương, điều lệ của các giáo hội
tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của nhà

cứu về vấn đề chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta như:
Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo và công tác tôn giáo: “Lý
luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của GS.Đặng Nghiêm
Vạn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội (2001); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo và công tác tôn giáo” của tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ
(đồng chủ biên), Nxb Tôn giáo 2003; Đề tài: “Việc thực hiện chính sách tôn
giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên” do tác giả Hoàng
Minh Đô chủ nhiệm năm 2005; “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam
– Lý luận và thực tiễn” của GS.TS. Đỗ Quang Hưng, Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội (2005); “Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của
GS.TS. Nguyễn Đức Lữ chủ biên năm 2008…
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

3
Ngoài ra còn một số bài tạp chí: “ Thực hiện tốt chính sách tôn giáo
trong thời kỳ mới” của tác giả Nguyễn Văn Sáu trên Tạp chí Lý luận chính
trị, số 4/2001); “Những bước tiến trong việc thể chế hóa chủ trương, chính
sách về tôn giáo của nước ta thời gian gần đây” của tác giả Bùi Đức Luận,
Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (2003); “Để có cái nhìn mới về tôn giáo và công
tác tôn giáo” của GS.Đặng Nghiêm Vạn, Tạp chí Cộng sản số 19/7/2003;
“Qúa trình hoàn thiện chủ trương chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta trong 60 năm(1945 – 2005)” của PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ trên Tạp
chí Công tác tôn giáo số 3/9 -2005; “Vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo
trong văn kiện của Đaị hội X của Đảng” của PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ, Tạp

thực hiện chính sách đối với tôn giáo của Đảng – Nhà nước ở tỉnh Nam Định
trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách của Đảng
– Nhà nước đối với tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Chính sách và việc thực hiện chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta ở tỉnh Nam Định hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chính sách và việc thực
hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trên địa bàn tỉnh Nam Định
hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và
việc thực hiện giải quyết vấn đề này. Đồng thời luận văn sẽ kế thừa kết quả
tổng hợp về tôn giáo của Trung ương và tỉnh Nam Định, kết quả của công
trình khoa học trước đó Tác giả vận dụng tổng hợp những nguyên lý phương
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

5
pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử kế thừa kết quả điều tra xã hội học bám sát thực tiễn địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn :
- Góp phần làm rõ hơn nguyên tắc vận dụng và tổ chức thực hiện sáng
tạo chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo vào điều kiện cụ thể của

nhiều diễn biến phức tạp. Vì thế, để đảm bảo cho sự ổn định chính trị của
mình, các quốc gia đã dành sự quan tâm cần thiết cho việc hoạch định cũng
như quan điểm, tổ chức thực hiện chính sách đối với tôn giáo.
Ở Việt Nam, từ khi Đảng ta khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng đã
luôn giữ vững quan điểm và thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng,
tôn giáo phù hợp với từng thời kỳ lịch sử. Nhờ đó, củng cố được sự đoàn kết
giữa những người có và không có tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết
dân tộc.
Chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng
trên quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và tình hình quốc tế, đặc điểm tín ngưỡng tôn
giáo ở Việt Nam và nhu cầu cách mạng của từng thời kỳ lịch sử.
1.1. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam
trước năm 1990.
1.1.1. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam
trước năm 1975.
Đảng cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã chú ý đến vấn đề tôn giáo và
vận động quần chúng trong các tôn giáo, đặc biệt là quần chúng theo Công
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

7
giáo tham gia cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ thị của thường vụ Trung
Ương về vấn đề thành lập Mặt trận phản đế đồng minh ngày 18/11/1930 viết:
“Bảo đảm tự do tín ngưỡng của quần chúng; đập tan luận điệu phản tuyên

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngay trong phiên họp
ngày 03/09/1945 của Hội đồng chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa,
Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó vấn đề thứ sáu là
“tín ngưỡng tự do, Lương Giáo đoàn kết”.
Ngay sau ngày giành độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10, chương II, mục B
(Quyền lợi và Nghĩa vụ) viết: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín
ngưỡng”. Quyền tự do tín ngưỡng là một trong năm quyền cơ bản của công
dân. Mọi công dân có “quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức
và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước
ngoài”. Với việc tuyên bố tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân,
Hiến pháp năm 1946 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối
với tôn giáo trong phạm vi cả nước. Tư tưởng đó là cơ sở sau này Chủ tịch Hồ
Chí Minh xây dựng Sắc lệnh 234/SL quy định những hoạt động tôn giáo trong
chế độ mới, được đồng bào theo và không theo tôn giáo nhiệt liệt hoan
nghênh và ủng hộ.
Những năm 1947, khi Công giáo xảy ra nhiều vụ việc rắc rối, đặc biệt
là khu II, III, Đảng ta đã kịp thời nhắc nhở các đoàn thể phải “hết sức tránh
mọi hoạt động phạm đến tôn giáo để bọn phản động không thể vin vào đâu
được mà tuyên truyền chia rẽ” [62;287]. Điều đó đã thể hiện tầm nhìn của
Đảng trong những hoàn cảnh, tình huống khó khăn như vậy, Đảng đã khéo
léo chỉ đạo công tác tôn giáo nhằm tránh sự lợi dụng của kẻ thù đối với vấn đề
nhạy cảm này.
Trong văn kiện Đại hội II (1951), Đảng ta còn khẳng định: “Đoàn kết
dân tộc, lập thành Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, gồm tất cả mọi lực
lượng chống đế quốc và chống bọn phản động, không phân biệt chủng tộc,
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

là: Tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo, đoàn kết những người
yêu nước và tiến bộ trong các tôn giáo để cùng nhau phục vụ sự nghiệp giải
phóng hoàn toàn đất nước và xây dựng tổ quốc. Đối với những phần tử tay sai
phản động lợi dụng tôn giáo chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân, chia rẽ
lương giáo nếu họ không nhận thức và từ bỏ những hành vi phạm pháp, tội lỗi
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

10
của họ thì Nhà nước phải trừng trị theo đúng pháp luật. Đặc biệt, trong Sắc
lệnh 234/SL, ngày 14/06/1955 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa về tôn giáo do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành đã có sự điều chỉnh
nhiều nội dung liên quan đến hoạt động tôn giáo: Trong quan hệ giữa tổ chức,
cá nhân, tôn giáo với Nhà nước, Sắc lệnh số 234/SL quy định việc đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân. Chương I, Điều 1 có viết: “Chính phủ
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai
được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do
theo hoặc không theo tôn giáo nào.
Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như
nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý,.v.v…)
Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các
tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền
nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi của người
công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.

nhân dân. Chính quyền dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và
giúp đỡ nhân dân thực hiện”.
Như vậy, các tín đồ tôn giáo và những nhà tu hành được hưởng mọi
quyền lợi của công dân và phải thực hiện mọi nghĩa vụ công dân; được bầu cử
và ứng cử theo quy định của pháp luật; các nhà tu hành được tự do giảng đạo
tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý…); các
nhà tu hành có nghĩa vụ giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ công
dân, ý thức tôn trọng chính quyền dân chủ và pháp luật của nhà nước khi
truyền bá tôn giáo.
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

12
Tổ chức tôn giáo được xuất bản và phát hành kinh bổn, sách báo có
tính chất tôn giáo; được mở trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo;
được mở các trường tư nhưng phải dạy theo chương trình của Chính phủ;
được tổ chức các cuộc hành lễ theo thường lệ tại nơi thờ cúng và không phải
xin phép; được hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội sau khi xin phép chính
quyền, được chính quyền chuẩn y chương trình, điều lệ và được coi là tổ chức
của tư nhân, được pháp luật bảo hộ. Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp
luật của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như mọi tổ chức khác của
nhân dân.
Những cơ sở tôn giáo như nhà thờ, đền, chùa, miếu, thánh đường, các
đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được Nhà nước bảo hộ.
Trong quan hệ với các nhà tu hành nước ngoài, pháp luật quy định các

giáo để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn tiếp theo.
Ngày 31/12/1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã
thông qua Hiến pháp 1959, trong đó nêu rõ: “Công dân nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào” (Điều 26, Chương III- Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân).
1.1.2. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam
từ năm 1975 đến năm 1990
Đại thắng mùa xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc
Việt Nam. Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước bước vào thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội Chủ nghĩa.
Ngày 28/02/1975, Dự thảo về đường lối, chính sách của Đảng đối với
công tác ở miền Nam đã đưa ra nhận định có tính đúc kết về vấn đề tôn giáo
trong cách mạng: “Vấn đề tôn giáo là vấn đề thuộc về sự khác nhau về tư
tưởng (duy tâm hay duy vật) trong nhân dân, đồng thời lại là công cụ đấu
tranh giai cấp tức là vấn đề thuộc về chính trị. Do đó, vấn đề vận động quần
chúng tôn giáo là một vấn đề lâu dài, gay go và phức tạp”[24;6].
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

14
Trong giai đoạn này các tôn giáo ở nước ta có những chuyển biến lớn.
Các tôn giáo lớn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm ủng hộ, công nhận về
mặt pháp lý được tăng lên và được hoạt động một cách công khai, đúng pháp
luật như Phật giáo; Công giáo; Tin Lành; Cao Đài, Hòa Hảo… Chính vì vậy,


- Các tôn giáo và mọi công dân theo đạo hoặc không theo đạo đều được
bình đẳng trước pháp luật,
- Các tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và chủ trương, chính
sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình,
- Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc lập của Tổ quốc,
chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, ngăn
cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại chính sách và pháp luật của Nhà
nước sẽ bị luật pháp nghiêm trị.”
Từ năm nguyên tắc trên, Nghị quyết 297 quy định một số chính sách cụ
thể về hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, về việc đào tạo, bổ
nhiệm, thuyên chuyển những người chuyên hoạt động tôn giáo… Đặc biệt,
Nghị quyết 297 còn nêu rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc
đảm bảo cho nhân dân thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, Nghị quyết 297 là sự tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các nội
dung về công tác tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới.
Một số nội dung mới trong quan điểm và chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta trong giai đoạn này như sau:
Thứ nhất: Quy định cụ thể, rõ ràng và bắt buộc đối với những hoạt
động tôn giáo phải xin phép và được phép của Nhà nước. Trách nhiệm của
những nhà tu hành, những người hoạt động tôn giáo đối với xã hội và việc
quản lý, sử dụng các cơ sở thờ tự.
Thứ hai: Quy định tiêu chuẩn những người được tuyển chọn để đào tạo
tại các trường, lớp của tôn giáo phải đảm bảo đúng nội dung giảng dạy theo
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

16

Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

17
- Cầu an, yếm thế, nhắm mắt trước thời cuộc, khuyên tín đồ chỉ lo việc
đạo, lo làm ăn tránh tham gia chính trị. Thái độ này đương nhiên có lợi cho
giai cấp thống trị.
- Bị đế quốc lợi dụng chia rẽ, lôi kéo đứng về phía kẻ thù dân tộc,
chống lại sự nghiệp cách mạng, chống nhân dân. Bọn phản động đội lốt tôn
giáo xuyên tạc giáo lý, mua chuộc tín đồ mất cảnh giác, có thể gây thiệt hại
cho cuộc đấu tranh, nhưng cuối cùng cũng thất bại” [37;34].
Từ sau năm 1975, Đảng ta sớm thấy đã đến lúc cần khắc phục những
nhận thức phiến diện trong một số cán bộ địa phương, hiểu tôn giáo một cách
siêu hình, đồng nhất tôn giáo với một thứ công cụ tinh thần của thế lực thù
địch với dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, trong chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước ta giai đoạn này cũng có nhiều sự thay đổi, chỉnh sửa, đổi
mới và bổ sung cho phù hợp với thời kỳ mới.
Đảng ta dần thấy rõ trong việc hoạch định, xây dựng chính sách tôn
giáo cần khắc phục một khuynh hướng trong thực tiễn có gốc rễ từ lối suy
nghĩ “ý chí luận” nói trên. Đó là việc dùng mệnh lệnh, biện pháp hành chính
để giải quyết vấn đề tôn giáo, không ít biểu hiện thô bạo, khắt khe, thậm chí
đi đến cấm đoán, tạo khe hở cho địch len lỏi chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.
Mặt khác, trong bối cảnh phức tạp và có vẻ căng thẳng trong quan hệ
Việt Nam – Vatican năm 1987-1988. Khi Tòa Thánh đồng thời quyết định
phong Thánh nhất loạt cho 117 vị Thánh Tử đạo Việt Nam, bao gồm các giáo
sĩ nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Điều này buộc Đảng và Nhà
nước ta phải có những thay đổi cấp thiết trong chính sách tôn giáo, nhằm
chống lại sự lợi dụng sơ hở trong chính sách về tôn giáo để chống phá cách

thần cách mạng, dân tộc, có tư tưởng xã hội chủ nghĩa…Tôi nghĩ rằng, các
anh em làm báo tôn giáo cần phải thấm nhuần lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Cái đó không phản bội gì mà trái lại là làm sống lại thực chất của đạo giáo,
thực chất trong sáng và tốt đẹp của đạo giáo”.[56;16].
Cũng vậy, ngày 28/01/1983, đồng chí Mai Chí Thọ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh, cũng góp vào nhận xét về cơ sở đoàn kết
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

19
dân tộc và tôn giáo: “Về phương diện lý thuyết, giữa giáo lý Công giáo và chủ
nghĩa cộng sản, chúng tôi thấy có nhiều điểm rất thống nhất vì Thiên chúa
giáo cũng muốn cứu con người, xuất phát từ việc giải phóng con người khỏi
mọi đau khổ và chủ nghĩa cộng sản cũng xuất phát từ một yêu cầu giải phóng
nhân loại khỏi ách áp bức bóc lột”[46;282]. Đường lối đổi mới về tư duy
cũng làm thay đổi những thói quen suy nghĩ về tôn giáo tưởng như đã ấn định
từ lâu. Vì vậy, trong việc hoạch định chính sách và thực thi chính sách của
Đảng về Nhà nước ta về tôn giáo cũng có nhiều bước thay đổi, tiến bộ, tích
cực.
Từ những năm 1975 đến 1990, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều thay
đổi trong chính sách tôn giáo.
Chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam được sớm khẳng định và nhất
quan. Ngày càng được thể chế hóa theo hướng của các công ước quốc tế trên
căn bản phù hợp với yêu cầu của xã hội trong giai đoạn này. Việc thực hiện
chính sách tự do tôn giáo luôn được khẳng định phải gắn liền với vấn đề đoàn

tình hình tôn giáo, các nhân vật trọng yếu của các tôn giáo.Vì thế, trong quá
trình cách mạng, bên cạnh chính sách chung về tôn giáo, Đảng và Nhà nước
ta còn có những chính sách cụ thể, sâu sát với tình hình các tôn giáo, tiêu biểu
là Nghị quyết 297/CP.
Chiếm vị trí hàng đầu trong sự quan tâm của Đảng và Nhà nước giai
đoạn 1975-1990 là vấn đề Công giáo, cộng sản và Công giáo, chủ nghĩa xã
hội và Công giáo. Kiên quyết không thành kiến, hẹp hòi dù phải chấp nhận
nhiều sự chống đối; tổn thất về sinh mạng do việc các thế lực thực dân lợi
dụng đạo này gây ra. Đảng và Nhà nước kiên trì chính sách đại nghĩa dân tộc,
đại đoàn kết lương giáo trong sáng. Từ sự tranh thủ vận động các giáo sĩ cấp
cao của Giáo hội Công giáo, lập ra Công giáo cứu quốc, thành viên Mặt trận
Việt Minh đến chủ trương lập ra Ủy ban đoàn kết Công giáo, cổ vũ và hướng
Giáo hội Công giáo Việt Nam xây dựng được Thư chung 1980 “Sống Phúc
âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”…đã làm cho “vấn
đề Công giáo” được giải quyết ngày một tốt hơn.
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
======================================================
==============================================
Vũ Thị Hương(Thích Đàm Hân)

21
Với Phật giáo, vấn đề diễn ra với những sắc thái khác. Nhưng cũng
phải nói Đảng ta đã có nhiều quyết sách đúng đắn, kịp thời. Tiêu biểu cho
thành công trong chính sách với Phật giáo của Đảng ta là việc tạo điều kiện
đúng lúc để thực hiện sự thống nhất có ý nghĩa lịch sử là thành lập được Giáo
Hội Phật giáo Việt Nam (năm 1981), tổ chức giáo hội đã thực hiện được việc
thống nhất thực sự đầu tiên của cộng đồng Phật giáo nước ta. Trong tình hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status