Chính sách tôn giáo của đảng cộng sản việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang tiến lên quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Có được sự phát triển đó là nhờ công cuộc đổi mới mà đảng ta khởi
xướng và tiến hành hơn 20 năm qua kể từ sau đại hội VI. Tuy nhiên trong những
năm qua đất nước ta đã trải qua rất nhiều khó khăn, một loạt những vấn đè kinh
tế, chính trị, xã hội cần được giải quyết. Một trong những vấn đề đó chính là tôn
giáo.
Nước ta, có nhiều tôn giáo với hàng chục triệu đồng bào theo tín ngưỡng
khác nhau. Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
Đảng và nhà nước ta thực hiện chủ trương nhất quán chính sách tôn giáo trong
tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín nguưỡng tôn giáo của nhân dân trong
những năm qua. Tuy nhiên trong những năm trước đây việc thực hiện chính sách
tôn giáo của Đảng và Nhà nước còn gặp nhiều khuyết điểm, nóng vội chủ quan,
muốn giải quyết vấn đề tôn giáo một cách nhanh chóng. Vì lẽ đó, có nơi có lúc
chúng ta chưa giải quyết tốt vấn đè tôn giáo, vi phạm chính sách tự do tín
ngưỡng tôn giáo, đã phần nào làm giảm tự do tín ngưỡng của nhân dân có tín
ngưỡng đối với Đảng, Nhà nước, đôi khi họ còn nghi ngờ con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng ta.
Trong điều kiện chính trị xã hội hội hiện nay vẫn còn điều kiện cho tôn
giáo tồn tại và phát triển, tôn giáo vẫn ngự trị trong cuộc sống tinh thần của một
bộ phận nhân dân lao động, sinh hoạt tôn giáo và niềm tin tôn giáo là một nhu
cầu không thể thiếu được. Chính vì vậy mà Đảng nhà nước ta phải có những
chính sách phù hợp đối với tôn giáo.
Tuy nhiên, trong hoạt động tôn giáo của một số tín đồ chức sắc ở một số
nơi còn hoạt động chưa theo đúng pháp luật, một số người còn lợi dụng tôn giáo
để hành nghề mê tín. Vẫn còn tình trạng truyền đạo trái phép và lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo tiến hành các hoạt động gây hại đến lợi ích quốc gia dân tộc
1


2


5. Kết cấu của đề tài.
Tiểu luận bao gồm: phần mở đầu; kết luận, danh mục ghi tài liệu tham
khảo; phần phụ lục và phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về tôn giáo.
Chương II: Thực trạng chính sách tôn giáo của Đảng ta hiện nay.
Chương III: Một số quan điểm và giải pháp của Đảng nhằn thực hiện tốt
chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay.

3


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Nguồn gốc, tính chất, chức năng của tôn giáo.
1.1.1. Nguồn gốc:
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó ra đời từ rất sớm trong lịch sử nhân
loại và tồn tại phổ biến gần hết trong các cộng đồng người từ trong lịch sử hàng
ngàn năm qua. Nói đến tôn giáo, nói đến hình thái phát triển đầy đủ của nó, bao
giờ cũng bao gồm: ý thức tôn giáo (thể hiện quan điểm về các đấng thiêng liêng
cùng theo đó là các tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng
với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng riêng của nó.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tôn giáo còn tồn tại và có
những biến cố nhất định. Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài
người, tôn giáo ra đời dựa trên các nguồn gốc sau:
Thứ nhất là nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo: Trong xã hội nguyên
thủy do trình độ của lực lượng sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối
và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gán cho tự nhiên

nhiên và xã hội, những tình cảm như sự biết ơn lòng kính trọng, tình yêu quan
hệ của con người với tự nhiên của con người với xã hội cũng được thể hiện qua
tín ngưỡng tôn giáo.Tín ngưỡng tôn giáo đã dáp ứng nhu cầu tinh thần cua một
bộ phận nhân dân, góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, an ủi, xoa
dịu nỗi đau lúc sa cơ lỡ vận. Vì thế tôn giáo chỉ là hạnh phúc hư ảo nhưng nhiều
người vẫn tin vẫn bám víu. C.Mác nói, tôn giáo là trái tim của thế giới khong
trái tim, cũng như nó là tinh thần của trạng thái xã hội không có tinh thần.
1.1.2. Những tính chất cơ bản của tôn giáo.
• Tính chất lịch sử:
Khi nghiên lịch sử ra đời của tôn giáo chúng ta đã thấy tôn giáo ra đời
trong điều kiện xã hội nhất định. Hay nói cách khác, lúc đầu tôn giáo chưa có
sẵn trong xã hội loài người. Trong quá trình hoạt động xã hội lao đọng sản xuất,
tôn giáo được con người tạo ra để thỏa mãn nhu cầu cấp thiết của xã hội lúc đó.
Quá trình phát triển của xã hội loài người, song song với nó là sự phát triển của
tôn giáo. Tôn giáo ra đời ở điều kiện xã hội nhận thức và tâm lí của con người
5


cho phép, đến khi điều kiện xã hội, nhận thức và tâm lí của con người không cần
đến nó thì tôn giáo cũng mất đi.
• Tính chất quần chúng:
Lúc đầu tôn giáo ra đời để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân lao động,
nó đem lại cho họ niềm hi vọng,(mặc dù là hư ảo) vào con đường giải phóng
khỏi sự đe dọa của tự nhiên, và ách áp bức bóc lột của giai cấp thống trị. Tôn
giáo đem lại cho họ niềm tin vào cuộc sống và trở thành cuộc sống tinh thần
không thể thiếu được. Vì lẽ đó, tôn giáo phát triển nhanh chóng rộng khắp, và ăn
sâu vào tình cảm của quần chúng nhân dân lao động; nó trở thành nguồn sống
nếp sống của con người. Nó góp phần hình thành nhân cách thế giới quan dụy
tâm của con người, trở thành chân lí của đạo đức xã hội và tôn giáo từng bước là
một bộ phận tác động đến việc hình thành văn hóa của dân tộc. Trên thế giới

bóc lột và đầu độc giai cấp công nhân” (1). Vì vậy việc đưa ra chính sách tôn
giáo cũng phải dựa vào tính chính trị của nó. Nếu mất cảnh giác thì sẽ bị bọn
phản động sử dụng tôn giáo để chống phá Đảng ta.
Trong giai đoạn hiện nay, muốn giải quyết tốt vấn đề tôn giáo bắt buộc
phải nghiên cứu nguồn gốc và tính chất của tôn giáo, trên cơ sở đó chúng ta sẽ
đưa ra những chính sách phù hợp.
• Tính chất độc lập với khoa học.
Tôn giáo phản ánh thế giới hiện thực vào đầu óc con người, giải thích một
cách duy tâm thần bí những thực tại xã hội mà con người đang gặp phải. Vì vậy,
tôn giáo mang tính chất duy tâm đối lập với khoa học. Trong lịch sử tôn giáo đã
nhiều lần sử dụng quyền lực của mình để đàn áp các nhà khoa học; phủ nhận
những thành tựu của khoa học để phát triển tôn giáo đồng thời vẫn tìm cách giải
thích những sai lệch của khoa học gieo vào đầu con người những định mệnh
không thể cưỡng lại …Tính chất độc lập của tôn giáo đã kìm hãm sự phát triển
của tiến bộ xã hội.1

1

Lênin : TP Mác- Angghen – Chủ nghĩa Mác, Nxb,Hà Nội, 1958, tr283.

7


1.1.3. Chức năng của tôn giáo
1.1.3.1. Chức năng đền bù hư ảo.
Xã hội loài người từ khi xuất hiện đến ngày nay lúc nào cũng mơ ước có
cuộc sống ấm no tuy nhiên có lúc họ cũng chưa biết giấc mơ đó thành hiện thực.
Trong xã hội nguyên thủy con người luôn phụ thuộc vào tự nhiên,đến khi xã hôi
phân chia giai cấp con người luôn bị giai cấp thống trị áp bức bóc lột. Và thực tế
xã hội không làm thỏa mãn nmhu cầu của họ lên con người gửi niềm tin hi vọng

tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là đấu tranh với cái thế giới
đang cần có ảo tưởng chứ không phải trực tiếp tấn công vào thần thánh và
những biểu hiện tín ngưỡng khác. Muốn đẩy lùi ước mơ về thế giới bên kia thì
con người phải từng bước xây dựng một thiên đường trên thế gian. Đó là một
quá trình lâu dài gắn liền với công cuộc cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới
nâng cao đời sống trí tuệ cho con người. Chỉ có thông qua quá trinh đó mới có
khả năng gạt bỏ dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo. Để khắc phục
những hậu quả đó phải kiên quyết chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ,
khai thác và phát huy tiềm năng của đồng bào tín đồ các tôn giáo vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hôi công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ hai: tôn trọng đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.
Bất kì ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo hoặc không theo một
tôn giáo nào. Việc vào đạo chuyển đạo đều thực hiện theo khuôn khổ của pháp
luật quy định. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận hoặc đảm bảo cho mọi công
dân có hoặc không có tín ngưỡng đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi . Các
tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật, giáo hội các
tôn giáo có nhiệm vụ động viên các tín đồ thực hiện đúng nghĩa vụ của công dân
phấn đấu sông “tốt đời, đẹp đạo” phù hợp với lợi ích của quốc gia dân tộc. Nhà
nước nghiêm cấm những kẻ lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị
đoan và những âm mưu lợi dụng tôn giáo vị những mục đích chính trị phản
động.
Thứ 3: Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
Ở mỗi thời kì khác nhau vai trò của tôn giáo lại thể hiện khác nhau: quan
điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống
9


cũng không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy khi thực hiện chính sách nhất quán
nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử cần phải có quan điểm lịch sử cụ
thể khi xem xét.

độ văn hóa khoa học kĩ thuật xây dựng nếp sống văn minh với trình độ cao. Trên
cơ sở đó, nhân dân lao động hiểu biết và giải thích được các quy luật của tự
nhiên xã hội. Đồng thời làm cho họ thấy được chính họ là người đem lại cuộc
sống ấm no hạnh phúc cho họ chứ không phải lực lượng siêu nhiên nào đó.
Trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo việc phân biệt được mặt chính trị và tư
tưởng trong tôn giáo là rất cần thiết giúp chúng ta đưa ra được những chính sách
và biện pháp thích hợp.
1.3. Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Mính về tôn giáo.
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin Hồ Chí Minh đã đưa ra
quan điểm.
Một là: Đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc.
Hồ Chí Minh đã từng nói:
“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.
Đoàn kết lương giáo và đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo
và không có tín ngưỡng tôn giáo là một bộ phận của đại đoàn kết dân tộc nói
chung. Ý nghĩa của của đoàn kết được người chỉ rõ lúc nào dân ta đoàn kết
muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Đoàn kết là phải xuất phát từ
mục tiêu độc lập dân tộc và từ lí tưởng cao cả giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội cua người cộng sản. Thực hiện được lí tưởng ấy cần phải huy động sức
mạnh của cả dân tộc trong đó có các đồng bào theo các tôn giáo.
Muốn đoàn kết những người có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng tôn
giáo cần quan tâm đến đời sống tinh thần, vật chất của đồng bào có đạo đồng
thời phải tôn trọng quyện tự do tín ngưỡng của nhân dân. Hơn nũa phải biết kế
thừa những giá trị nhân bản của tôn giáo trân trọng những người sáng lập ra các
tôn giáo.
Quan điểm đoàn kết của người là quan điểm bao trùm lên tất cả vì sự
nghiệp giải phống dân tộc vì lợi ích của nhân dân, muốn đoàn kết với đồng bào
11


2.1 Vài nét về tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay.
2.1.1 Phật giáo.
Phật giáo được hình thành ở Ấn Độ du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỉ I
sau công nguyên trung tâm phật giáo đầu tiên được hình thành ở Luy Lâu (Bắc
Ninh). Phật giáo vào Việt Nam đi theo hai con đường với thời gian khác nhau từ
Ấn Độ sang và từ Trung Quốc xuống. Đạo phật vào Việt Nam sớm nhất so với
Thiên chúa Giáo và Đạo Tin Lành. Nó tồn tại và phát triển cùng với sự thăng
trầm của lịch sử. Từ thế kỉ X- XV, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở thành
quốc giáo. Phật giáo cùng chính quyền nhà nước phong kiến trị vì đất nước.
Trong thời gian lâu dài đạo phật đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân.
Chính vì thế, Phật giáo đã trở thành đạo đức, triết học có ảnh hưởng sâu sắc đến
việc hình thành phong tục tập quán nếp sống của nhân dân và là một thành tố
hình thành nên văn hóa dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta đa số
tín đồ phật giáo có tinh thần dân tộc ủng hộ Đảng cộng sản Việt Nam đánh đuổi
đế quốc dành độc lập dân tộc.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, một số tổ chức Phật giáo phản
động tìm mọi cách lôi kéo tăng ni, phật tử vào những hoạt động chống phá thành
quả mà cách mạng đã đạt được. Bọn di tán nước ngoài cấu kết với chủ nghĩa đế
quốc âm mưu lơi dụng những thiếu sót sai lầm của Đảng và Nhà nước để tuyên
truyền kích động lôi kéo nhân dân có tín ngưỡng vào các hoạt động chống lại
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.Như vậy, đạo phật nói chung đều
có tinh thần dân tộc tham gia bảo vệ dân tộc chống lại ách áp bức ngoai xâm.
Hiện nay phật giáo ở Việt nam gồm : Gần 10 triệu tín đồ (những người
quy y Tam Bảo), có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó
tập trung đông nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương,

13





cần phải có những chính sách phù hợp không được lơ là mất cảnh giác bởi vì các
thế lực thù địch vẫn có âm mưu lợi dụng.
Hiên nay đạo Tin Lành ở Việt Nam khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các
tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng,
Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước... và một số tỉnh phía Bắc.
2.1.4 Đạo cao đài.
Đạo cao đài thành lập ở Việt Nam vào khoảng 1926, trung tâm là tòa
thánh Tây ninh. Đạo cao đài hình thành để phục vụ mục đích chính trị bóc lột
lúc bấy giờ. Đạo Cao đài nhằm tập hợp quần chúng nhân dân lao động chưa theo
tín ngưỡng nào thành một lực lượng giai cấp bóc lọ để áp bức sau đó phục vụ
mục đích xâm lược của thực dân pháp và đế quốc Mỹ.
Lịch sử của đại Cao Đài không dài lắm so với lịch sử của các tôn giáo
khác ở nước ta, nhưng đã có trang lịch sử đen tối bởi sự tham gia của các tổ
chức giáo phái khác và các hoạt dộng chính trị chống phá cách mạng lại Đảng
và Nhà Nước ta. Khi nghiên cứu và giải quyết vấn đề tôn giáo ở khu vực đạo
Cao Đài, chúng ta hết sức chú ý đến những nét đặc trưng và hình thành và lịch
sử hoạt động của nó để đưa ra những biện pháp và chính sách phù hợp.
Hiện nay ở Việt Nam đạo Cao Đài có : Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ
yếu ở các tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh,
Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An
Giang…
2.1.5 Đạo Hòa Hảo.
Đạo Hòa Hảo thành lập ở Việt Nam 1939 tại xã Hòa Hảo, Châu Đốc.
Người sáng lập ra là Huỳnh Phú Sồ. Đạo Hòa Hảo ra đời kế thừa từ giáo lí của
đạo phật, nhưng mang màu sắc mê tín dị đoan. Ngày đầu thành lập, đạo Hòa
Hảo có tư tưởng chống Pháp sau hòa hợp với Pháp. Trong thời kì Ngô Đình
Diệm đã đưa ra chủ trương diệt lực lượng Hòa Hảo. Sau một thời gian dài mới
được hoạt động công khai. Hiện nay ở Việt Nam đạo Hòa Hảo có khoảng : Gần

nguyện vọng của nhân dân lao động.

16


2.2.2 Điều kiện chính trị- xã hội.
Trong những năm trước đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã có những chính
sách sai lầm dẫn đến sự khủng hoảng làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng
và đây chính là điều kiện để cho tôn giáo phát triển và đã trở thành niềm tin để
động viên mọi người vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống.
Ở nước ta, chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động trong và ngoài nước đã
không trừ một âm mưu nào để chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng lợi dụng
việc tuyên truyền bá đạo Thiên chúa vào các vùng dân tộc thiểu số. Thông qua
các hoạt động từ thiện tôn giáo để thực hiện âm mưu phá hoại công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc ở nước ta. Chúng mưu dò kích động những người có tín
ngưỡng tôn giáo chống lại đường lối chính sách, lôi kéo người di tán làm mất
trật tự an ninh xã hội. Chúng hỗ trợ và chỉ đạo một số phần tử phản động hoặc
một số tổ chức tôn giáo trong nước để tập hợp lực lượng xây dựng tổ chức nhằm
thực hiện “diễn biến hòa bình”. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà
nước không được lơ là mất cảnh giác mà phải có chính sách phù hợp để chống
lại những âm mưu lợi dụng của các thế lực phản động.
2.3 Những chính sách cụ thể của Đảng đối với tôn giáo hiện nay.
Theo nghị định số 26/1999/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
19/4/1999 rất cụ thể của tôn giáo. Có thẻ nêu lên những chính sách cụ thể sau:
2.3.1. Đối với các tín đồ tôn giáo
Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ
trương chính sách và pháp luật của nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng,
cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo
đức, phục vụ nghi lễ tôn giáo tại cơ sở thờ tự.
Tín đồ không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái pháp luật,

giáo, việc bổ nhiệm, thuyên chuyển những chức sắc phải được sự chấp thuận
của Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tùy theo
giáo phẩm). Đối với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo được tổ chức, cá nhân ở
nước ngoài phong giáo phẩm, phong chức, bổ nhiệm phải được sự chấp thuận
của Thủ tướng chính phủ.
18


2.3.3 Đối với các tổ chức tôn giáo
Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ
chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động
thì được pháp luật bảo hộ.
Tổ chức tôn giáo hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành
đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ hoạt
động. Các cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm đó bị xử lý theo pháp
luật.
Chức sắc, nhà tu hành và tổ chứ tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định
và hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chức năng.
2.3.4 Đối với các hoạt động tôn giáo
Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở thờ tự đã đăng ký hàng năm và thực hiện
trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải xin phép. Những hoạt động tôn
giáo vượt ra khỏi khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc chưa đang ký hàng năm phải
được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Các cuộc tĩnh tâm của linh mục trong giáo phận, của các tu sĩ tập trung từ
nhiều cơ sở, dòng tu của Công giáo, các cuộc bồi linh của mục sư và truyền đạo
của đạo Tin lành, các kỳ an cư của tăng ni đạo Phật và các sinh hoạt tôn giáo
tương tự khác thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh về
tôn giáo .
Các đại hội, hội nghị cấp toàn quốc hoặc có liên quan đến nhiều tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương thì phải được phép của Thủ tướng chính phủ.

theo quy định của pháp luật.
2.3.6 Đối với hoạt động đối ngoại của tôn giáo
Hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp
luật và phù hợp với chính sách đối ngoại của của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, vì hòa bình, ổn
định, hợp tác và hữu nghị.

20


Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở
nước ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính
phủ.
Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ
chức tôn giáo nước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo hoặc có liên quan
đến các tôn giáo nước ngoài thực hiện theo quy định của Ban Tôn giáo Chính
phủ.
Tổ chức cá nhân nước ngoài, kể cả tổ chức, cá nhân tôn giáo vào Việt
Nam để hoạt động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không được tổ chức,
điều hành hoặc tham gia tổ chức điều hành các hoạt động truyền bá tôn giáo.Các
tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước muốn nhận viện trợ thuần tuý tôn giáo phải
xin phép Chính phủ.
2.4. Thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách tôn giáo
của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
2.4.1. Thành tựu đạt được.
Một là, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, da dạng.
Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung
tâm tôn giáo lớn như: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam
Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi
nổi, da dạng và phong phú; hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những

với 3 mục sư, 9 nhà truyền đạo. Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam
(miền Nam) có 558.000 tín đồ và 279 cơ sở thờ tự với 205 mục sư và 430 mục
sư nhiệm chức. Riêng Tin Lành ở các tỉnh Tây Nguyên có 263.514 tín đồ với 79
mục sư và mục sư nhiệm chức; 65 nhà truyền đạo và 380 truyền đạo tình
nguyện. Đạo Cao Đài hiện có 2.276.978 tín đồ, 1.284 thánh thất với 7.104 giáo
sỹ (Cửu trùng đài: 6.827; Hiệp thiên đài: 227). Phật giáo Hoà Hảo có 1.232.572
tín đồ, 522 cơ sở thờ tự với 534 giáo sỹ. Hồi giáo hiện có 64.991 tín đồ, 77 cơ sở
thờ tự với 699 giáo sỹ.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, các tôn giáo ở Việt Nam đã đạt được
những thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng, củng cố tổ chức, các giáo
hội ngày càng hoàn thiện, ổn định, thống nhất; tín đồ, giáo sỹ các tôn giáo không
22


ngừng lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, góp
phần xứng đáng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo,
tích cực vận động quần chúng có đạo tham gia cuộc vận động xoá đói, giảm
nghèo, đền ơn đáp nghĩa, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, các hoạt động
từ thiện …cùng toàn dân xây dựng cuộc sống mới vì lợi ích của đất nước và dân
tộc.
Ba là, Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo được mở rộng.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có ba Học viện Phật giáo tại ba miền đất
nước: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh với trên 1.000 tăng ni sinh, hàng
năm có hàng trăm tăng ni sinh tốt nghiệp; 4 lớp cao đẳng Phật học với tổng số
trên 700 tăng ni sinh theo học; 30 trường Trung cấp Phật học với hơn 3.000 tăng
ni sinh; 37 lớp sơ cấp với 2.500 tăng ni sinh và 2.500 chư tăng Khmer theo học
tại các lớp sơ cấp Phật học ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang. Hiện đang tập
trung xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội và Học
viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Thành phố Cần Thơ. Giáo hội Phật giáo
Việt Nam đã cử trên 120 tăng ni sinh đi du học tại các nước Ấn Độ, Nhật Bản,

nhân dân các nước trên thế giới vì lợi ích của đất nước và của giáo hội, góp phần
đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của các thế lực xấu
thiếu thiện chí với Việt Nam; tranh thủ được sự giúp đỡ đào tạo được đội ngũ
tăng tài, giáo sĩ có trình độ cao. Các Giáo hội tôn giáo Việt Nam đã liên kết thân
hữu với các Giáo hội tôn giáo các nước: Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mianma,
Sri Lanka, Triều Tiên, Mông Cổ, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan,
Canađa, Pháp, Đức, Bỉ… Đã đón tiếp, làm việc với hàng trăm phái đoàn tôn
giáo đến thăm hữu nghị Việt Nam để trao đổi, làm việc; tổ chức đi thăm hữu
nghị một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Tây Âu và châu Âu; đã tham dự
hàng chục hội nghị, hội thảo quốc tế về chuyên đề tôn giáo đạt kết quả tốt, góp
phần tạo uy tín cho các Giáo hội tôn giáo Việt Nam trong nước và trên thế giới.
Từ năm 1993 đến hết năm 2002, đã có 3.272 trường hợp giáo sỹ xuất cảnh
(Công giáo 1.600 trường hợp, Phật giáo 1.303 trường hợp, Hồi giáo 228 trường
hợp, Tin Lành 36 trường hợp, Cao Đài 15 trường hợp) đi học, tham dự hội nghị,
hành hương, chữa bệnh, thăm thân, du lịch. Riêng năm 2005 đã có 159 cá nhân
24


chức sắc, tu sỹ của các tôn giáo Việt Nam được đi học tập, dự hội nghị, hội thảo
và tham gia các hoạt động tôn giáo ở nước ngoài. Việt Nam đã đón ba đoàn tôn
giáo nước ngoài rất quan trọng như: đoàn do Thiền sư Thích Nhất Hạnh dẫn đầu
cùng với 200 thiền sinh từ 30 quốc tịch khác nhau về thăm Việt Nam hơn 3
tháng; đoàn Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do Đại sứ lưu động J.
Handford dẫn đầu thăm Việt Nam từ ngày 04 đến 09-3- 2005 và đoàn của Hồng
y C. Sepe - Bộ trưởng Bộ truyền giáo Vatican; đón tiếp và giúp đỡ Đoàn Viện
Can dự toàn cầu của Mỹ tìm hiểu về tình hình sinh hoạt đạo Tin Lành ở các tỉnh
Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.
Các hoạt động quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển đã góp phần
làm cho các nước hiểu rõ hơn về chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế cũng
như pháp luật của Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng, thúc đẩy Bộ Ngoại giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status