ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN TIẾN
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƢỚC VÀ THỰC HIỆN Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học Hà Nội - 2012 2
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
CNXH Chủ Nghĩa Xã Hội.
HĐND Hội đồng nhân dân.
MTTQ Mặt trận Tổ Quốc.
TU Tỉnh ủy.
UBND Ủy ban nhân dân.
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦ U 3
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂ M , CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƢỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1. Cơ sở lý luận 9
1.1.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo 9
1.1.2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. 15
1.1.3. Những thành tựu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn đương đại. 19
1.2. Cơ sở thực tiễn. 22
1.2.1. Căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 22
1.2.2. Những kinh nghiệm thực tiễn giải quyết vấn đề tôn giáo trong lịch sử. . 27
1.2.3.Tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay. 31
1.3. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về tôn giáo từ Nghị quyết
24- NQ/TW đến nay (1990 đến nay). 36
1.3.1. Đổi mới vấn đề tôn giáo là tất yếu khách quan. 36
1.3.2. Những nội dung quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và
Nhà nước giai đoạn hiện nay 39
đạ o đứ c, văn hó a, lố i số ng, phong tụ c tập quán, an ninh quố c phò ng, vì thế đi hi
nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau.
Việt Nam là một quốc gia đa tí n ngưỡ ng , đa tôn giáo , đa dân tộ c bên cạnh
các tôn giáo lớn có tổ chức với số lượng tín đồ đông đảo cn có các sinh hoạt tín
ngưỡng dân gian truyền thống. Tôn giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân , các hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển
mạnh mẽ, số ngưi theo tí n ngưỡ ng , tôn giáo ngày càng tăng. Bên cạnh xu hướng
đồng hành cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, Pháp luật, cn xuất
hiện các hoạt động tôn giáo không bình thưng, một số chức sắc tôn giáo hoạt động
chống đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như: Lợi dụng việc đi lại
đất đai, cơ sở th tự để có những hoạt động chống đối chính quyền, gây khiếu kiện
rất phức tạp.
Trướ c nhữ ng diễ n biế n phứ c tạ p củ a tín ngưỡng , tôn giá o hiện nay đò i hỏ i
Đả ng và Nhà nướ c phả i tăng cườ ng công tá c tôn giá o , trong đó xây dự ng và hoà n
thiệ n chí nh sá ch tôn giá o l à nội dung cơ bản . Qua quá trình nghiên cứ u nội dung
quan điểm, chính sách tôn giáo và quá trì nh thự c hiệ n tại các đị a phương ; Những
kế t quả đã đạ t đượ c cũng như nhữ ng hạ n chế nhằ m tì m ra phương hướ ng và giải
pháp để thực hiện hiệ u quả chính sách tôn giáo ở địa phương , đồ ng thờ i cũ ng là m
cơ sở cho việ c hoạ ch đị nh chí nh sá ch tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thi
gian tới.
4
Tỉnh Phú Thọ thực hiện công tác tôn giáo đã được Tỉnh ủy , UBND,
MTTQ và cá c tổ chứ c chí nh trị xã hộ i quan tâm chỉ đạ o thự c hiệ n đã đạ t đượ c
nhữ ng thà nh tự u nhấ t đị nh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách tôn giá o
không thể tránh khỏi những hạ n chế cầ n đượ c khắ c phụ c chẳ ng hạ n như : Quản l
Nhà nước đối với tôn giáo , cán bộ làm công tác tôn giáo ở các cấp cơ sở va thiếu ,
vừ a thừ a, vừ a yế u về chuyên môn, sự phối hợp của các cấp, các ngành cn thiếu tập
trung chưa đồ ng bộ , các tổ chức đoàn thể ở các cấ p hoạ t độ ng ké m hiệ u quả , công
tác xây dựng lực lượng cốt cán, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo cn
2. Tình hình nghiên cứu
Tín ngưỡng, tôn giá o liên quan đế n nhiề u lĩ nh vự c củ a đờ i số ng xã hộ i , với
những diễ n biế n phứ c tạ p, do đó việ c nghiên cứ u ngà y cà ng đượ c nhiề u nhà lý luậ n,
chính trị quan tâm nhiều hơn . T khi có nghị quyết 24/NQ-TW năm 1990 đến nay,
việc đi vào nghiên cứu l luận đã có nhiều thành tựu là cơ sở cho việc hoạch định
chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các công trình như: PGS.TS Nguyễ n Đứ c Lữ “ Quá trình hoàn thiện chủ
trương chí nh sá ch về tôn giá o củ a Đả ng và Nhà nướ c ta trong 60 năm qua (1945-
2005)” Tạ p chí công tá c tôn giá o số 02 tháng 10 năm 2005, “ Quan điể m củ a Đả ng
về tôn giá o qua cá c thờ i kỳ đạ i hộ i” Tạ p chí Cộ ng sả n Đả ng số 07 năm 2006, “Quan
điể m và chí nh sá ch tôn giá o củ a Đả ng và Nhà nướ c ta trong thờ i kỳ đổ i mớ i”, Tạp
chí l luận Chí nh trị số 12 năm 2009, “ Vấ n đề tôn giá o và công tá c tôn giá o trong
văn kiệ n đạ i hộ i X củ a Đả ng” Tạ p chí công tá c tôn giá o số 09 năm 2006, “Lộ trình
đổi mi nhận thức về tôn giáo của Đảng từ sau Nghị quyết 24 /NQ-TW cho đến
nay”, tạp chí l luận chính trị số 10 năm 2010, “Về quyề n tự do tí n ngưỡ ng, tôn giá o
ở Việ t Nam”, Tạp chí công tác tôn giáo số 04 năm 2010, “Pháp lệnh tn ngưỡng tôn
giáo là cơ sở quan trọng cho việc quản lý Nhà nưc về tôn giáo”, Tạp chí Công tác
tôn giáo số 6 năm 2010. Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích những quan
điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
GS. TS Đỗ Quang Hưng (2008)“Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam
lý luận và thực tiễn” (tái bản lần 2), NXB L luận Chính trị. Qua đó nghiên cứu về
sự phát triển quan điểm và đưng lối tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam t nhận
6
thức đến thực tiễn, t cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa,
phân tích những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các tôn giáo, cùng với cơ
sở l luận khoa học để tiến tới hoàn thiện luật pháp tôn giáo.
PGS.TS Nguyễn Hồng Dương (2012)“Quan điểm Đường lối của Đảng về
tôn giáo và Những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” NXB Chính trị Quốc gia:
nghiên cứu quan điểm, đưng lối của Đảng về tôn giáo đồng thi tổng kết kinh
giáo ở Phú Thọ đạt kết quả tốt hơn.
3. Mc tiêu và nhiệm v của luận văn
* Mục tiêu:
Trên cơ sở nghiên cứ u quan điể m , chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nướ c Việ t Nam và việ c thự c hiệ n quan điể m , chính sá ch trên đị a bà n tỉ nh, luậ n văn
đưa ra cá c giả i phá p nhằ m tăng cườ ng hiệ u quả thự c hiệ n chí nh sá ch tôn giá o c ủa
Đả ng và Nhà nướ c trên địa bà n tỉ nh hiện nay.
* Nhiệ m vụ :
- Nghiên cứ u quan điể m, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta hiệ n nay.
- Nghiên cứ u tì nh hì nh tôn giá o và khả o sá t việ c thự c hiệ n quan điể m , chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất nhữ ng giả i phá p , nhằ m tăng cườ ng hiệ u quả việc thự c hiệ n quan
điể m, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta tại tỉnh Phú Thọ hiện nay.
4. Đối tƣng và phm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước và việc thực hiện ở
tỉnh Phú Thọ hiện nay.
* Phạm vị nghiên cứu
Về không gian: Đề tà i nghiên cứ u trên đị a bà n tỉ nh Phú Thọ
Về thờ i gian: Đề tà i tiế n hà nh nghiên cứ u trong giai đoạ n từ Nghị Quyế t 24-
NQ-TW của Bộ Chinh trị đến nay (1990 đến nay).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng phá p nghiên cƣ́ u
* Cơ sở lý luậ n và thự c tiễ n
8
- Luậ n văn đượ c thự c hiệ n dự a trên quan điể m củ a chủ nghĩa Má c – Lênin,
tư tưở ng Hồ Chí Minh, quan điể m, chính sách củ a Đả ng và Nhà nướ c về tôn giá o.
- Luậ n văn cũ ng xuấ t phá t từ thực tiễn của việc thực hiện chính sách tôn giá o
của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Phú Thọ.
+ Bản chất của tôn giáo.
Thuật ngữ tôn giáo (religion trong tiếng Anh), bắt nguồn t tiếng La tinh là
religio có nghĩa là sự tồn tại một quyền lực bên ngoài mà con ngưi phải tuân theo;
cảm giác mộ Đạo và tuân theo quyền lực đó. Theo tiếng Hy Lạp thì tôn giáo là
legere - ràng buộc hay mối liên hệ giữa con ngưi và thần linh.Thuật ngữ religion
lần đầu tiên được Thiên chúa giáo sử dụng ngoài nghĩa như trên cn có nghĩa là
thức về một cộng đồng được tổ chức. Các tôn giáo cụ thể có khoảng trên dưới 5
nghìn tôn giáo đã và đang tồn tại trong lịch sử, hiện nay có khoảng 250 định nghĩa
về tôn giáo. Theo thi gian thuật ngữ ngày càng được mở rộng về nội hàm và mức
độ phổ biến, tùy tng tôn giáo, cách tiếp cận và ở tng nước mà nó được hiểu theo
những nghĩa khác nhau.
Trong T điển tiếng việt: “Tôn giáo là một hình thái thức xã hội hình thành
nh vào lng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [46, tr. 239], tín ngưỡng là
“Niềm tin của con ngưi vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi giới tự
nhiên. Cn tôn giáo được hiểu là tín ngưỡng của những ngưi cùng chung một tổ
chức có hệ thống giáo l, giáo luật và lễ nghi” [58, tr. 8].Trong tác phẩm Góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hêghen phần Li nói đầu C.Mác viết: “Sự nghèo
nàn của tôn giáo va là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, va là sự phản khác
chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp
bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của
những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [7, tr. 570].
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở
thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy tối thượng, có khả năng chi phối đến mọi
hoạt động của đi sống con ngưi, con ngưi sinh ra tôn giáo, chứ không phải tôn
giáo sáng tạo ra con ngưi. Như vậy, việc phê phán tôn giáo cũng chính là phê phán
10
hiện thực là Nhà nước, là xã hội và đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực trong tôn
giáo cũng chính là thay đổi hiện thực xã hội và tự nhiên.
Trong Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo đưa ra định nghĩa:“ Cộng đồng
ra khái niệm về tôn giáo “Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào trong đầu óc của con ngưi của những lực lượng ở bên ngoài chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế
đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [10, tr. 644].
Như vậy tôn giáo sẽ mất đi khi " Không cn gì để phản ánh nữa, như Ph.
Ăngghen đã chỉ ra, thì khi ấy tôn giáo sẽ mất đi. Trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, mối quan hệ giữa con ngưi với con ngưi, giữa con ngưi
với thế giới tự nhiên cn nhiều điều chưa thể đạt đến sự hợp l, đặc biệt mặt trái của
cơ chế thị trưng như tội phạm, sự phân hóa giàu nghèo, những rủi ro, bệnh tật, môi
trưng sinh thái bị hủy hoại… Vẫn cn là cơ sở khách quan cho tôn giáo tồn tại và
phát triển trên những phạm vi nhất định. Do đó, tôn giáo vẫn cn tồn tại, khó có thể
đoán định được "tuổi thọ” của tôn giáo, song chắc chắn rằng tôn giáo vẫn là một
thực thể tồn tại trong chủ nghĩa xã hội” [60, tr. 8] tuy nhiên đây sẽ là quá trình lâu
dài của xã hội loài ngưi, mặt khác một số các yếu tố của tôn giáo có thể cn tồn tại
dưới góc độ khác.
- Tnh quần chúng.
Tính quần chúng thể hiện đông đảo số lượng tín đồ và tầm ảnh hưởng của
một tôn giáo mà cn thể hiện là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một bộ phận
quần chúng nhân dân lao động, mọi tôn giáo đều hướng thiện với khát vọng về một
xã hội tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc. Tất cả điều đó cùng với niềm tin là cơ sở
để tập hợp tín đồ, tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần của một bộ phận
không nhỏ quần chúng nhân dân lao động “ Tôn giáo do con ngưi tạo ra, bản thân
những ngưi này cảm thấy được nhu cầu cần phải có tôn giáo và họ hiểu được
những nhu cầu cần có tôn giáo quần chúng” [9, tr. 438].
- Tnh chnh trị.
Lịch sử nhân loại trong quá khứ cũng như hiện tại dù là quốc gia có thể chế
chính trị như thế nào cũng sử dụng tôn giáo như một công cụ quan trọng không thể
12
thiếu để thống trị. Tính chính trị của tôn giáo chỉ thể hiện trong xã hội có giai cấp,
của nhân dân “ Mỗi ngưi phải được thỏa mãn những yêu cầu của mình về tôn giáo
và thể xác mà cảnh sát không được chõ mũi vào” [9, tr. 51].
Mọi công dân có quyền lựa chọn theo hoặc không theo tín ngưỡng tôn giáo,
đồng thi mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền và lợi ích như
nhau. Cần phát huy những nhân tố tích cực của các tôn giáo đặc biệt là những giá trị
đạo đức, chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu nước, nghiêm cấm mọi hành vi xâm
phạm đến quyền tự do tín ngưỡng của ngưi dân “ Không thể nào thủ tiêu được một
tôn giáo như Thiên Chúa giáo chỉ bằng cách chế giễu và sỉ vả. Nó cũng phải được
đánh bại về mặt khoa học, tức là được làm rõ về mặt lịch sử; nhiệm vụ đó ngay cả
khi khoa học tự nhiên cũng không thể đảm đương nổi” [8, tr. 806].
Như vậy tôn giáo không biến mất khi không có những điều kiện nhất định và
trong giai đoạn hiện nay điều đó là không thể làm được, do đó việc tôn trọng và
đảm bảo tự do tín ngưỡng là phù hợp với thực tiễn hiện nay, Lênin đã khẳng định: “
Mỗi ngưi đều phải được hoàn toàn tự do không những muốn theo tôn giáo thì theo
mà cn phải có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào hoặc thay đổi tôn giáo” [51, tr.
212-213]. Các tôn giáo được Nhà nước tha nhận và đều bình đẳng trước pháp luật,
tổ chức tôn giáo có trách nhiệm động viên tín đồ của mình thực hiện bổn phận công
dân, phấn đấu sống “ Tốt đi đẹp đạo”. Hiện nay, vẫn cn những lực lượng chính trị
lợi dụng tôn giáo với mục đích can thiệp vào nội bộ các quốc gia, vì thế cần phải
chống lại những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo tự do để thực hiện các mục
tiêu ngoài tôn giáo của mình.
Thứ ba: Cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
Bởi vì ở những thi điểm lịch sử khác nhau, tác động của tng tôn giáo đối
với đi sống khác nhau. Do đó quan điểm thái độ của các tổ chức, tín đồ, chức sắc
về các lĩnh vực của đi sống xã hội luôn có sự khác biệt. Có những tôn giáo khi mới
ra đi như một phong trào bảo vệ lợi ích của ngưi nghèo, ngưi bị áp bức. Nhưng
rồi, tôn giáo ấy lại bị biến thành công cụ của giai cấp thống trị, có những tín đồ,
chức sắc suốt đi hành động theo xu hướng đồng hành cùng dân tộc nhưng cũng có
14
15
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh.
Những phương pháp giải quyết tôn giáo mang tính nguyên tắc của Chủ nghĩa
Mác – Lênin đã được Đảng và Nhà nước ta áp dụng đã mang lại những hiệu quả
trong công tác tôn giáo, đồng thi cũng làm cho tín ngưỡng, tôn giáo có những ảnh
hưởng tích cực đối với đi sống xã hội.
1.1.2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngưi đã truyền bá, vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Ngưi đã đề cập đến
những vấn đề cơ bản của cách mạng trong đó có tư tưởng về tôn giáo.
+ Tư tưởng về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tn ngưỡng của nhân dân.
Đây là tư tưởng quan trọng và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo, thể hiện nhất quán trong cả hoạt động l luận và thực tiễn của Ngưi và
trở thành nền tảng trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta t trước đến
nay. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ngày 3-9-1945, trong phiên
họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ha, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nêu 6 nhiệm vụ cấp bách trong đó Ngưi đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng
tự do và Lương Giáo đoàn kết”[29, tr. 9]. Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân được thực thi, Hồ Chí Minh cho rằng, về nguyên tắc hoạt động
của các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Với tinh
thần đó, Ngưi chỉ đạo Chính phủ xây dựng các chủ trương, giải pháp tổ chức thực
hiện có hiệu quả các quyền đó đồng thi Ngưi đã trực tiếp k, ban hành nhiều văn
bản pháp luật quy định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi ngưi
dân. Hiến pháp đầu tiên (thông qua ngày 2-3-1946) của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng ha, ghi rõ “ Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”.
Đến Sắc lệnh số 234/SL ngày 14-6-1955, gồm 5 chương và 16 điều quy định
chi tiết về Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của ngưi dân.
Ngưi cũng rất chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống nhất là tín ngưỡng th
cúng tổ tiên, Ngưi cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã
tôn giáo phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết. Trong bức thư gửi
17
đồng bào Phật giáo, nhân ngày lễ Phật rằm tháng bảy vào năm 1947, Ngưi viết: “
Tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta…Nước có độc
lập, thì đaọ Phật mới dễ mở mang…Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hi sinh của cải,
xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc
dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng
ta làm theo lng đại t đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống ni
ra khỏi khổ ải nô lệ” [30, tr. 197].
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân khắc phục những mặc cảm,
định kiến, chống lại âm mưu chống phá của thế lực thù địch. Đồng thi cần phân
biệt được tín ngưỡng chân chính của nhân dân với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo của thế lực thù địch. Ngưi đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đạo –
Đi Về mối quan hệ giữa đạo với đi, Hồ Chí Minh luôn chú để đáp ứng cả hai
nhu cầu ấy. Nhưng nhu cầu vật chất cần quan tâm trước hết và trên hết. Ngưi luôn
hướng tín đồ các tôn giáo, sống tốt đi đẹp đạo và nhắc nhở các cấp uỷ phải thực sự
quan tâm đến phần đi và phần đạo của bà con, làm sao cho họ “Phần xác no ấm,
phần hồn thong dong”[33, tr. 606]. Khi nhận xét về tư tưởng này PGS Nguyễn Đức
Lữ cho rằng: “ đó không cn ranh giới rõ rệt giữa đạo và đi, giữa phụng sự Tổ
quốc và phụng sự Đức Chúa. Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc được xem xét
trên giác độ của một nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng của các
dân tộc Việt Nam” [26, tr. 60].
+ Quan điểm của Hồ Ch Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo và một số lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Ngưi đã nhìn thấy mối liên hệ giữa tôn giáo với nhiều mặt của đi sống xã
hội: tôn giáo với dân tộc, với văn hóa, với đạo đức, với chính trị. Đối với một ngưi
có tôn giáo thì họ va có thể là ngưi dân yêu nước, đồng thi cũng vẫn là một tín
đồ chân chính. Hiện nay các tôn giáo ngày càng gắn bó với dân tộc, đồng hành cùng
dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Ngưi phê phán những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động Ngưi
cho rằng: “Những ngưi Công giáo Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, làm hại đồng
bào chẳng những là việt gian, mà cũng là giáo gian. Cn những đồng bào Công giáo
19
kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì những đồng bào ấy thực thà
Phụng sự Đức Chúa, Phụng sự Tổ quốc” [31, tr. 433]. Đối với những kẻ đó cần
phải nghiêm trị, tuy nhiên điều quan tâm nhất của Ngưi là làm thế nào để đoàn kết,
thu hút những ngưi có tôn giáo tham gia vào sự nghiệp cách mạng. Ngưi đã nhìn
thấy mối liên hệ giữa tôn giáo với các lĩnh vực của đi sống xã hội, t đó có cách
tiếp cận đa chiều dưới góc độ văn hóa, đạo đức, xã hội học, t đó khai thác những
giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo làm giầu thêm đi sống tinh thần của xã
hội. Đồng thi cũng kiên quyết đấu tranh, loại bỏ việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
vào những mục đích chống dân tộc, con ngưi.
1.1.3. Những thành tựu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn
đương đại.
Khi Chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền bá vào nước ta đã tạo ra sự chuyển
biến mạnh mẽ về thế giới quan và phương pháp luận đối với ngành khoa học xã hội
và nhân văn. Hiện nay, ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta vẫn chưa có
một công trình nghiên cứu tỉ mỉ về những thành tựu của ngành. Thực tế cho thấy,
20 năm nay giới khoa học xã hội và nhân văn đã bắt đầu có sự chuyển biến t lối
nghiên cứu vĩ mô sang lối nghiên cứu vi mô, kết hợp giữa vĩ mô với vi mô, với
phương pháp nghiên cứu liên ngành… Vì thế ngành khoa học xã hội ở nước ta đã
có những thành tựu, cung cấp những luận chứng khoa học cho đưng lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Triết học.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tư cách là thế giới quan, phương pháp luận
cho hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới với việc xem xét quá trình toàn cầu hóa,
những vấn đề của toàn cầu hóa tác động đến các mặt của đi sống xã hội và con
ngưi hiện đại. Chẳng hạn khi chỉ ra bản chất của những mâu thuẫn giữa các nền
cứu vi mô và vĩ mô.
Xã hội học tôn giáo nghiên cứu quan hệ giữa tôn giáo và xã hội, cơ cấu và quy
luật tồn tại của tôn giáo với tư cách là hiện tượng xã hội. Nghiên cứu: biểu hiện lí
luận của tôn giáo (thần thoại, tín ngưỡng, giáo lí, thần học) với nghĩa tư tưởng của
nó (lí luận của tôn giáo coi như là tự thức của xã hội biểu hiện nhu cầu, chuẩn mực,
21
mục đích, giá trị của xã hội và những thiết chế tôn sùng thức ấy); mặt thực hành của
tôn giáo (th cúng, nghi thức, lễ hội) như là công cụ để xây dựng và củng cố cộng
đồng tôn giáo; cơ cấu và sự vận hành của những tổ chức riêng biệt của tôn giáo (nhà
th, giáo hội, giáo phái ).
Xã hội học tôn giáo “Là bộ môn nghiên cứu quy luật xã hội của sự xuất hiện,
phát triển và tồn tại của tôn giáo trong suốt toàn bộ lịch sử của nhân loại, những
thành tố cấu thành và cấu trúc của nó, địa vị, vai tr và chức năng của tôn giáo trong
xã hội, sự ảnh hưởng của nó đến các thành tố khác của hệ thống xã hội, đặc điểm
của sự tác động trở lại của một xã hội cụ thể đến tôn giáo” [24, tr. 22]. Ngoài ra còn
có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này của Nguyễn Xuân Nghĩa, "Công
đồng Vatican II (1962-2012), tnh hiện đại và Giáo hội Công giáo Việt Nam - Một
vài quan sát xã hội học", Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số 211, tháng 7 - 2012,
tr. 121-144. "Lý thuyết chọn lựa hợp lý và việc giải thch hiện tượng tôn giáo", Tạp
chí Khoa học xã hội, số 2-2008, trang 69-79.
+Tâm lý học tôn giáo.
Tâm l học tôn giáo nghiên cứu các quy luật tâm l của sự xuất hiện, phát
triển và hoạt động của những hiện tượng tôn giáo trong tâm l xã hội, trong tâm l
nhóm và trong tâm lý cá nhân (nhu cầu, tình cảm, tâm trạng, truyền thống), nội
dung, cấu trúc, định hướng của những hiện tượng ấy, vị trí và vai tr của chúng
trong hệ thống tôn giáo và ảnh hưởng của chúng đến các lĩnh vực hoạt động phi tôn
giáo của xã hội, của nhóm và của cá nhân (nhu cầu, tình cảm, tâm trạng, truyền
thống) với cách tiếp cận đặc thù của mình tâm l học tôn giáo hiện nay có những l
giải rất mới mẻ về tôn giáo.
đa dạng “…Việt Nam gần như là một bảo tàng tôn giáo” [54, tr. 41]. Sự tồn tại đa
dạng của các loại hình tôn giáo song số lượng tín đồ chiếm khoảng 25% dân số và
tập trung ở các tôn giáo lớn.
Tính đến năm 2011 nước ta có 13 tôn giáo và 33 tổ chức tôn giáo được Nhà
nước công nhận: “Phật giáo trên 10 triệu, Thiên chúa giáo 6,1 triệu, Cao đài 3,2
triệu, Ha hảo 1,26 triệu, Tin lành gần 1,5 triệu, Hồi giáo 72,732 nghìn, Tịnh độ cư
sĩ phật hội 1,5 triệu, Tứ ân hiếu nghĩa 70 nghìn, Minh l đạo Tam tông miếu 1,058