Quan niệm đạo đức cơ bản trong tân ước (qua khảo cứu các sách Phúc âm Mathêu, Máccô và Lucca - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÙNG THỊ THU TRANG
QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN
TRONG TÂN ƯỚC (QUA KHẢO CỨU CÁC SÁCH
PHÚC ÂM MATHÊU, MÁCCÔ VÀ LUCA) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học Hà Nội – 2013
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1.2. Sách Phúc Âm – Vài nét về lịch sử, nội dung và ý nghĩa 28
CHƢƠNG 2. QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN TRONG CÁC SÁCH
PHÚC ÂM 37
2.1. Quan niệm về lẽ sống và hạnh phúc 37
2.2. Quan niệm về nghĩa vụ và lƣơng tâm 55
2.3. Quan niệm về tình yêu thƣơng và trách nhiệm 66
2.4. Ý nghĩa của các quan niệm đạo đức trong Phúc Âm đối với đời sống
tín hữu Công giáo Việt Nam hiện nay 78
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
3

Gl:
Thư gửi tín hữu Galát
Is:
Sách Isaia
Lc:
Phúc Âm theo Thánh Luca
Lv:
Sách Lêvi
Mc:
Phúc Âm theo Thánh Máccô
Mt:
Phúc Âm theo Thánh Mathêu
Pl:
Thư gửi tín hữu Philípphê
1Pr:
Thư thứ nhất của Thánh Phêrô
Rm:
Thư gửi tín hữu Rôma

Thánh, đặc biệt là Tân Ước, luôn là nguồn chính yếu cho đức tin và đời sống
của họ. Đời sống luân lý của người Công giáo là đời sống trong Đức Giêsu
Kitô, dựa theo lời dạy và gương sáng của Ngài. Trong Tân Ước các sách Phúc
Âm chiếm vị trí quan trọng nhất. Thông qua các sách Phúc Âm mà con người
biết đến Thiên Chúa, ơn gọi và gương sáng của Ngài. Người Công giáo quan
niệm phải liệu sống sao cho xứng đáng với ơn gọi của mình, chứ không được
ngả theo những đòi hỏi của tội lỗi. Nói khác đi, việc tin theo Đức Kitô đòi hỏi
một cuộc sống noi theo gương của Ngài, đặc biệt qua việc thực hành giới răn
yêu thương.
5

Những quan niệm đạo đức trong Tân Ước đã góp phần tạo ra giá trị chân
– thiện – mỹ của đạo đức Công giáo. Do đó trong nhận thức cần xác định
được vai trò, ảnh hưởng của đạo đức Công giáo tới đời sống người Công giáo
nói riêng và tới quá trình xây dựng đời sống xã hội Việt Nam nói chung, để từ
đó có thái độ ứng xử phù hợp với tôn giáo này là điều cấp thiết. Song muốn
làm được điều đó, cần rất nhiều công trình lý luận nghiên cứu chuyên biệt về
đạo đức Công giáo được thể hiện qua kinh điển, giáo lý của họ. Đồng thời,
chúng ta phải có những khảo sát thực tiễn về ảnh hưởng của những quan niệm
đạo đức đó đến đời sống cộng đồng, xã hội ra sao và đề ra những biện pháp
phù hợp để phát huy điểm tích cực của đạo đức Công giáo.
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà
nước Việt Nam đã nhận định tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân,
trong tôn giáo có những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa. Việc nghiên cứu
để tìm ra và khẳng định những giá trị đạo đức tốt đẹp của Công giáo là nhiệm
vụ của cả hệ thống chính trị nói chung và những người làm công tác nghiên
cứu về tôn giáo nói riêng. Xuất phát từ tinh thần đó, từ đặc điểm tình hình tôn
giáo Việt Nam, và từ yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới trong giai đoạn
cách mạng hiện nay, tác giả luận văn chọn vấn đề nghiên cứu: “Quan niệm
đạo đức cơ bản trong Tân Ước (Qua khảo cứu các sách Phúc Âm Mathêu,

phẩm, ý thức về con người Công giáo Công giáo như các triết lí về: hiền hậu
khiêm nhường, độc ác và kiêu căng, cảm thức về tội, các quan niệm đúng sai
về thánh thiện, nhân sinh. ;
Ngoài các công trình chuyên khảo, còn có các bài viết trên tạp chí; có thể
kể tên những bài viết cung cấp những tri thức về mặt lý luận chung về đạo
đức tôn giáo như: Bài viết Về vấn đề đánh giá vai trò của tôn giáo, Tạp chí
Triết học số 3 năm 1993; Tôn giáo và đạo đức – nhìn từ mặt triết học, Tạp chí
7

Triết học số 4 năm 1993 của tác giả Nguyễn Hữu Vui; Về vai trò của đạo đức
tôn giáo trong đời sống xã hội, Tạp chí Triết học, số 1(188) năm 2007 của tác
giả Đặng Thị Lan; Suy nghĩ bước đầu về đặc trưng và vai trò của đạo đức tôn
giáo, Tạp chí Triết học số 7 năm 2007 của tác giả Nguyễn Đức Lữ; Triết học
đạo đức Công giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 năm 2009 của tác giả
Đỗ Minh Hợp…;
Bên cạnh đó, cũng có những bài viết trên tạp chí cung cấp những hiểu biết
về đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam như: Ảnh hưởng của giáo lý,
giáo luật và tổ chức giáo hội cơ sở đến hành vi sinh sản của giáo dân (Qua
nghiên cứu cộng đồng Công giáo xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam
Định) của Phạm Quyết, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 năm 2005; Trách
nhiệm xã hội của Uỷ ban Bác ái xã hội – Caritas Việt Nam trong điều kiện kinh
tế thị trường của Nguyễn Ngọc Sơn, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11 năm
2009; Phát huy truyền thống đồng hành cùng dân tộc, người Công giáo Việt
Nam tiếp tục dấn thân đưa phong trào thi đua yêu nước phát triển trong thời kỳ
đất nước hội nhập của Uỷ ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên
cứu Tôn giáo số 11 năm 2008;
Những năm gần đây, có một số luận án tiến sĩ triết học, luận văn thạc sĩ
tôn giáo học và khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành tôn giáo học nghiên cứu
về đạo đức của Công giáo như: Luận án Tiến sĩ triết học năm 1998: Ảnh
hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay

đạo đức chứa đựng trong các sách Phúc Âm.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ các quan niệm đạo đức cơ bản trong Tân Ước được thể hiện qua
ba sách Phúc Âm Mathêu, Máccô và Luca; đồng thời, bước đầu phân tích ý
9

nghĩa của đạo đức Công giáo giáo trong đời sống tín hữu Công giáo Việt Nam
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
+ Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và
đạo đức tôn giáo;
+ Bước đầu chỉ ra một số đặc trưng của đạo đức Công giáo;
+ Làm rõ nội dung, vị trí, vai trò của các sách Phúc Âm đối với người
Công giáo;
+ Hệ thống hoá những quan niệm đạo đức cơ bản trong các sách Phúc
Âm và tìm hiểu ý nghĩa của những quan niệm đó đến cộng đồng người Công
giáo Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan niệm đạo đức được thể hiện qua các sách
Phúc Âm của phần Tân Ước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tân Ước là một phần trong Kinh Thánh – tài sản chung cho các chi phái
Kitô giáo. Khi nghiên cứu Tân Ước, tác giả sử dụng bản đã được dịch qua
tiếng Việt. Mỗi chi phái Kitô giáo lại dịch không giống nhau. Vì vậy để có cái
nhìn nhất quán, luận văn phân tích các quan niệm đạo đức trong các sách
Phúc Âm do người Công giáo dịch và ý nghĩa của các quan niệm đó đối với
người Công giáo Việt Nam.
Tân Ước là một bộ sách gồm nhiều cuốn sách khác nhau, song các sách

+ Luận văn góp phần làm rõ ý nghĩa của đạo đức Công giáo đối với đời
sống của giáo dân Công giáo ở Việt Nam hiện nay. Qua đó giúp người đọc
11

hình dung và lý giải về đời sống đức tin và đời sống xã hội của cộng đồng
người Công giáo Việt Nam.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
+ Về mặt lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ tinh thần nghị quyết 24 của Bộ Chính trị
ban hành ngày 16.10.1990 về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình
mới, xem đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã
hội mới.
+ Về mặt thực tiễn:
– Trên cơ sở phân tích các phạm trù đạo đức Công giáo trong Tân Ước,
luận văn góp phần cụ thể hoá tinh thần của nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) về chính sách văn hóa đối
với tôn giáo: Khai thác những giá trị văn hoá, đạo đức Công giáo phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng xã hội Việt Nam hiện nay;
– Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu cho việc tham khảo, nghiên
cứu và học tập bộ môn tôn giáo học, đạo đức học, triết học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh
mục các chữ viết tắt và mục lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết:
Chương 1: Tổng quan đạo đức Công giáo và sách Phúc Âm
Chương 2: Quan niệm đạo đức cơ bản trong Phúc Âm
12

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN ĐẠO ĐỨC CÔNG GIÁO VÀ SÁCH PHÚC ÂM


như thiện, ác, vinh, nhục, chính nghĩa, phi nghĩa… Những chuẩn mực, giá trị,
quy tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra
cho hành vi mỗi cá nhân. Đạo đức là phương thức thiết lập mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Sự điều chỉnh đạo
đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự tự do lựa chọn của
con người.
Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định
hoặc phủ định một lợi ích chính đáng hoặc không chính đáng nào đó. Vì vậy,
đạo đức là một nội dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội. Sự hình thành, phát
triển và hoàn thiện của hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển,
hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị
đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ thì hệ thống ấy có tính tích cực,
mang tính nhân đạo. Ngược lại, hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động và
phản nhân đạo. Và vì vậy, việc nghiên cứu hệ thống giá trị đạo đức của mỗi
cộng đồng, trong đó có các cộng đồng tôn giáo, làm cho nó phù hợp với sự
phát triển, hoàn thiện của cả xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong
tiến trình phát triển của cộng đồng đó.
Để đảm bảo cho sự trao truyền, giáo hoá đạo đức diễn ra liên tục trong
đời sống cộng đồng, cần phải có những phương thức và hệ thống thiết chế
nhất định. Các thiết chế xã hội đó sẽ làm cho các giá trị, chuẩn mực, khuôn
mẫu đạo đức được vận thông trong đời sống xã hội từ cộng đồng đến cá nhân,
14

từ người này sang người khác, từ thời đại này qua thời đại khác… Hệ thống
thiết chế đó bao gồm thiết chế gia đình, nhà trường, nhà nước, đoàn thể chính
trị – xã hội, tôn giáo… Chúng được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa các
thành viên trong nhóm và các giá trị, chuẩn mực đạo đức mà nhóm đó cùng
chia sẻ, cùng hướng tới.
Mỗi tôn giáo, với hệ thống chuẩn mực, giá trị đạo đức của mình đã,
đang và sẽ có những ảnh hưởng, đóng góp không nhỏ đến hoạt động giáo dục

lẫn nhau, tạo ra sự phong phú của mỗi hình thái ý thức xã hội. Trong ý thức
tôn giáo, mà chủ yếu là trong hệ tư tưởng tôn giáo, không thể không có những
yếu tố của tư tưởng đạo đức, triết học, thẩm mỹ, văn hóa Tôn giáo không
thể tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm trong lịch sử của các dân tộc khác
nhau trên thế giới, nếu như bản chất của nó chỉ bao gồm những sai lầm, ảo
tưởng và tiêu cực. Chính vì có sự kết hợp của ý thức tôn giáo với các hình
thái ý thức khác, nhất là với đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc mà
tôn giáo đã có thêm sức sống lâu bền của mình.
Như vậy, có thể nói, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình
thái ý thức tôn giáo và hình thái ý thức đạo đức luôn có quan hệ tương tác,
đan xen và thâm nhập lẫn nhau.
Với tư cách những thành tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội, tôn
giáo và đạo đức phản ánh tồn tại xã hội theo các cách khác nhau. Tôn giáo
phản ánh một cách hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.
Còn đạo đức phản ánh các mối quan hệ hiện thực của con người với nhau và
với xã hội.
Khi xem xét tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội độc lập với các
hình thái ý thức khác, chúng ta thấy nó chứa đựng nội dung đạo đức (bao gồm
giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu, lý tưởng đạo đức ) thể hiện trong giáo lý tôn
16

giáo. Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức
nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ. Đa số các tôn giáo
đều đưa ra những giá trị tối cao mà mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn, đó
là Thượng đế, Chúa trời, hay Thần thánh Thực tế cho thấy, quan niệm đạo
đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tin tôn
giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân
loại, như khuyên răn con người phải hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, sống có
trách nhiệm, nhân ái, làm điều lành, tránh điều dữ Người theo tôn giáo
không phải sống thế nào cũng được, mà phải sống theo những khuôn phép

mặt ý thức, mà còn cả về mặt nghi lễ thờ cúng và tổ chức tôn giáo nữa. Trong
đó, “với tư cách là một tổ chức, giáo hội của mọi tôn giáo không chỉ thực hiện
chức năng tư tưởng và thờ cúng thuần túy tôn giáo, mà cả chức năng không
mang tính tôn giáo như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức…” [78, tr.
31], khiến cho tôn giáo trở thành một thực thể có những đóng góp nhất định
cho xã hội.
Với tư cách là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng, tôn giáo tất nhiên
có trong nó các hình thái ý thức xã hội khác như tư tưởng triết học, đạo đức
học, nghệ thuật… Cho nên, việc khẳng định không có đạo đức riêng của tôn
giáo là không thoả đáng.
Có thể khẳng định rằng, có một đạo đức tôn giáo và đạo đức ấy mang
tính đặc thù, đồng thời, có sự giao thoa giữa những giá trị đạo đức chung toàn
nhân loại với đạo đức tôn giáo. Tuỳ theo hoàn cảnh ra đời và những điều kiện
lịch sử cụ thể, tư tưởng đạo đức trong mỗi tôn giáo có những nét đặc thù riêng
biệt. Ngoài mặt hạn chế, đạo đức tôn giáo cũng có một số giá trị nhất định
trong đời sống xã hội, là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến
nền đạo đức xã hội. Cho nên việc thừa nhận có đạo đức tôn giáo nhưng lại
18

đem đối lập tuyệt đối với đạo đức xã hội hay việc phủ nhận hoàn toàn đạo đức
tôn giáo là không đúng. Tôn giáo không chỉ có nội dung các quan niệm đạo
đức mà còn có cả những chức năng và tổ chức để hiện thực hóa chúng nhằm
điều chỉnh các hành vi đạo đức của tín đồ. Tuy nhiên, nếu quá đề cao, tuyệt
đối hóa vai trò của đạo đức tôn giáo, đồng nhất nó với đạo đức xã hội cũng là
sai lầm.
Nếu đạo đức xã hội là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi
của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng
xóm, giai cấp, dân tộc hay toàn bộ xã hội), thì đạo đức tôn giáo “là hệ thống
những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá sự giao tiếp và hành vi
ứng xử của tín đồ trong mối quan hệ giữa họ với đối tượng thờ phụng, cũng như

yêu người.
Trong đạo đức Công giáo, giới răn về tình yêu thương được xem là nền
tảng. Con người trước hết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân
mình, từ đó mới có cơ sở để thực hiện tình yêu tha nhân.
Thiên Chúa là một hình mẫu đạo đức hoàn bị, trọn vẹn về tình yêu để
con người noi theo. Hình ảnh đó được thể hiện thông qua lời nói và hành
động của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đến để loan báo tình yêu thương của Thiên
Chúa dành cho mọi người, đặc biệt là những người nghèo, bị gạt ra ngoài lề
xã hội. Tình yêu đó không dựa vào địa vị, giai cấp của mỗi người, bởi với
Chúa, mọi người đều là anh em với nhau: “Thầy không còn gọi anh em là tôi
tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu
vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”
(Ga. 15, 15). Vì thế, người nào nói mình yêu Chúa mà không yêu người thì đó
là kẻ nói dối (Xin xem 1Ga. 4, 20).
20

Tình yêu làm nền tảng cho đạo đức Công giáo phải được thể hiện bằng
những việc làm cụ thể. Không thể có tình yêu thương chân thực nào mà lại
không đi kèm với việc làm, không được thể hiện bằng những hy sinh. Tình
yêu nào không có việc làm để chứng minh đều là những tình yêu giả hiệu,
tương tự như lập trường của Thánh Giacôbê: “Đức tin không có việc làm là
đức tin chết” (Gc. 2, 17). Điều này đã được giáo hội Công giáo khái quát
trong Thương xác bảy mối, Thương linh hồn bảy mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ
khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách trọ nhà, thăm viếng bệnh nhân,
thăm viếng kẻ bị cầm tù, an táng kẻ chết, lấy lời lành khuyên người, mở dạy
kẻ mê muội, răn bảo kẻ có tội… [28, tr. 277 – 278].
Thứ hai, đời sống mỗi người Công giáo luôn lấy đức Giêsu Kitô làm
gương mẫu. Đạo Kitô cũng giống như các tôn giáo khác, đã xây dựng cho
mình một mẫu hình lý tưởng là chuẩn mực của mọi hành động và là giá trị tối
cao trong bậc thang giá trị đạo đức – đó là Thiên Chúa. Thiên Chúa được coi

thần: Tin, Cậy, Mến. Đây là ba nhân đức cơ bản, làm nền tảng cho các nhân
đức đối nhân, các nhân đức đối nhân chỉ là vô nghĩa nếu không có các nhân
đức đối thần. Nội dung cốt lõi của đức tin Công giáo là tin vào Thiên Chúa
duy nhất toàn năng, ngoài Thiên Chúa ra chẳng có ai cứu độ (Xin xem Is. 43,
11). Công giáo được coi là tôn giáo của tình yêu thương, điều đó xuất phát từ
tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Sống có luân lý là một cách đáp trả lại
tình yêu thương của Thiên Chúa. Đời sống Công giáo là sự phó thác hoàn
toàn đời sống cho Thiên Chúa. Nó kéo theo sự hoán cải, và đặt toàn bộ đời
sống và vận mệnh trong tay Thiên Chúa: bán tất cả những gì mình có để mua
kho báu trên trời và đi theo Chúa Giêsu (Xin xem Mt. 13, 44 – 45), bằng lòng
mất mạng sống để cứu mạng sống (Xin xem Mt. 16, 25; Mc. 8, 34; Lc. 9, 23).
22

Từ việc giữ vững ba nhân đức này mà mỗi Công giáo luôn hướng tới hành vi
làm thiện, tránh ác.
Thiện, ác là hai phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại và trở
thành phạm trù phổ biến trong đạo đức của mọi thời kỳ lịch sử. Thiện, ác là
cặp phạm trù đối lập, đồng thời cũng là hai phạm trù cơ bản có quan hệ chặt
chẽ trong đạo đức xã hội và đạo đức tôn giáo. Tuy nhiên, thiện, ác trong tôn
giáo có điểm tương đồng, nhưng cũng có sự khác biệt với thiện, ác thế tục ở
mức độ nhất định. Cùng là vấn đề thiện, ác, nhưng trong tôn giáo, chúng được
đề cao, cường điệu và thiêng hóa bằng giáo lý, giáo luật, tín điều để mọi
người tuân thủ một cách nghiệm ngặt dưới sức mạnh của thần quyền.
Trong đạo đức tôn giáo và đạo đức xã hội thì thiện, ác vẫn là hai phạm
trù trung tâm và trọng yếu nhất. Nhưng, vấn đề thiện, ác trong đạo đức tôn
giáo được gắn chặt với hậu quả của hành vi hành xử của tín đồ và do có sự
thưởng phạt “nghiêm minh” bởi các đấng siêu nhiên, nên tính giáo dục và khả
năng răn đe của nó đạt hiệu quả rất cao.
Thần học của Công giáo quan niệm, con người toàn thiện không phải do
tu tập, mà là “sánh bước cùng Thiên Chúa”. Đạo Công giáo cho Chúa là cái

nguyên tắc, chuẩn mực hoàn thiện mà mỗi tín đồ buộc phải chấp nhận và tuân
thủ. Những nguyên tắc ứng xử giữa người với người trong đạo đức Công giáo
suy cho cùng là để phục vụ cho niềm tin siêu nhiên, nhằm xây dựng nên
những con người phù hợp với ý chí của Thiên Chúa.
Các quy tắc đạo đức Công giáo tồn tại dưới dạng các mệnh lệnh của
Chúa. Do vậy, các quy tắc xử sự trong quan hệ giữa người với người không
do ý muốn chủ quan của con người quyết định mà do chúng có cội nguồn
thần thánh, thiêng liêng. Đức hạnh tối cao là tuân thủ những lời răn của Chúa.
Vi phạm những lời răn của Chúa là tội lỗi lớn nhất. Qua câu chuyện ngụ ngôn
24

về tội tổ tông trong sách Sáng thế cho thấy, nếu con người kiêu ngạo, không
tuân thủ những điều răn dạy của Chúa, muốn đứng ngang hàng với Chúa sẽ
phải chịu đựng đau khổ, phải sống với cái ác và phải chết.
Niềm tin vào Thiên Chúa chi phối sâu sắc quá trình áp dụng các nguyên
tắc, quy phạm, chuẩn mực đạo đức tôn giáo vào đời sống cá nhân, cộng đồng
tín hữu. Từ niềm tin này, tín hữu Công giáo tự giác thực hiện nghiêm túc các
chuẩn mực, quy tắc đạo đức mà đấng siêu nhiên đã đề ra để hoàn thiện bản
thân và tiến gần hơn đến Thiên Chúa. Những tín đồ Công giáo tin rằng nếu họ
không làm theo các chuẩn mực, quy tắc đạo đức tôn giáo của mình thì họ sẽ
bị trừng phạt, ngược lại họ sẽ được phần thưởng ở kiếp sau. Chính sự đan xen
giữa hi vọng và sợ hãi, giữa cái thực và cái thiêng có tính thuyết phục các tín
đồ khá mạnh mẽ.
Thứ năm, Công giáo nhấn mạnh đức khoan dung, lòng vị tha và thương
người. Sự nhẫn nhục, chịu đựng cũng là một biểu hiện của đức khoan dung
trong đạo đức Công giáo. Khoan dung là thái độ nhân nhượng, hiếu hòa, tôn
trọng với những gì khác ta. Lòng vị tha, bác ái trong các tôn giáo cũng như
trong Công giáo có nét nổi bật là ít vụ lợi, khước từ sự trả ơn, đáp nghĩa. Vị
tha là vì người khác, nó đối lập với vị kỷ (tức là sống cho mình và vì mình). Tinh
thần vị tha là thương yêu người khác một cách chân thành, hết mình với thái độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status