®¹i häc quèc gia hµ néi
Trêng ®¹i häc khoa häc x· héi & nh©n v¨n
HOÀNG THỊ THU
TÌM HIỂU QUAN HỆ NAM NỮ VÀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI
QUA CÁI NHÌN SO SÁNH
GIỮA CA DAO BẮC BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI - 2012
®¹i häc quèc gia hµ néi
Trêng ®¹i häc khoa häc x· héi & nh©n v¨n
dung luận văn không phải là sự sao chép bất cứ một công trình khoa học hay
luận văn nào đã được công bố trong và ngoài nước. Các tài liệu sử dụng tham
khảo đã được trích nguồn đầy đủ và chính xác.
Hà Nội, tháng 4/ 2012
Người viết luận văn Hoàng Thị Thu
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Văn Thông, các thầy cô trong Hội
đồng bảo vệ đề cương tháng 4/2011, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn với đề tài Tìm hiểu quan hệ nam nữ và tình yêu lứa đôi qua cái
nhìn so sánh giữa ca dao Bắc Bộ và ca dao Nam Bộ. Xin chân thành cám ơn
sự hỗ trợ quý báu đó.
Hà Nội, tháng 4/ 2012
Người viết luận văn Hoàng Thị Thu 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
1.2.3. Theo phân vùng văn học dân gian 22
1.2.4. Theo phân vùng ca dao 24
1.3. Một số đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của Bắc
Bộ và Nam Bộ 26
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên, lịch sử 26
1.3.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội 27
1.3.3. Đặc điểm tín ngưỡng, phong tục, lễ hội 29
1.3.4. Đặc điểm văn hóa, nghệ thuật 31 2
Chương 2:
SO SÁNH NỘI DUNG LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI THỀ
NGUYỀN
TRONG CA DAO BẮC BỘ VÀ NAM BỘ 34
2.1. Trình bày sự giống và khác nhau 34
2.1.1. Lời tỏ tình trong ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ 36
2.1.1.1. Lời tỏ tình phản ánh hình ảnh thiên nhiên, môi trường lao động
và khung cảnh ca hát của người bình dân 37
3.1.1. Về thể thơ 79
3.1.2. Về ngữ nghĩa (văn bản tạo hình và biểu hiện) 85
3.1.3. Nghệ thuật ngôn từ 86
3.1.3.1. Cách dùng phương ngữ 86
3.1.3.2. Cách dùng từ gốc Hán và điển tích, điển cố Hán 90
3.1.4. Việc sử dụng biểu tượng, hình ảnh 973
3.1.5. Việc dùng từ xưng gọi 101
3.1.6. Về thời gian và không gian nghệ thuật 104
3.2. Giải thích sự giống nhau và khác nhau 110
3.2.1. Do đặc trưng thể loại 110
3.2.2. Do điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội 110
3.2.3. Do giao lưu và ảnh hưởng văn hóa 111
PHẦN KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
LBBT : Lục bát biến thể
Nxb : Nhà xuất bản
TS.
: Tiến sĩ
tr.
: Trang
VHDG
: Văn học dân gian
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
trình sáng tạo folklore của nhân dân mỗi miền, vừa do điều kiện lịch sử, địa lý
tự nhiên và quan hệ giao lưu văn hóa mang lại.
Từ trước đến nay, ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả, công trình, bài viết
giới thiệu, nghiên cứu ca dao với một đội ngũ khá hùng hậu và đạt được kết
quả đáng khích lệ. Nhưng, cho đến nay, chưa có tác giả, công trình nghiên
cứu nào chuyên sâu tìm hiểu, so sánh ca dao về quan hệ nam nữ và tình yêu
lứa đôi giữa ca dao Bắc Bộ và ca dao Nam Bộ.
Trong khuôn khổ của luận văn, do thời gian có hạn, để tìm hiểu quan hệ nam
nữ và tình yêu lứa đôi trong ca dao, chúng tôi xin được quan tâm tới phạm vi nhỏ
hơn. Khi giới hạn phạm vi nghiên cứu, nội dung đã được Hội đồng bảo vệ đề cương
7
luận văn tháng 4/2011 thông qua, tái khẳng định điều đó là cần thiết và quan trọng.
Những lời tỏ tình và lời thề nguyền chiếm số lượng lớn, nội dung phong phú, tiêu
biểu cho mảng ca dao tình yêu lứa đôi, “qua điểm để thấy diện” Vì vậy, đề tài Tìm
hiểu lời tỏ tình và lời thề nguyền trong bộ phận ca dao tình yêu lứa đôi qua cái
nhìn so sánh giữa ca dao Bắc Bộ và ca dao Nam Bộ được coi là đề tài mới, là
đóng góp của tác giả luận văn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sưu tầm, nghiên cứu về mảng ca dao cổ truyền người Việt về tình yêu
lứa đôi vốn đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ.
Cuốn Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật đồng chủ biên (tái bản năm 2001) [34] là công trình dày dặn và chuyên sâu
(đã tổng hợp những lời ca dao của người Việt trên cả ba miền). Trong sách này,
khối lượng tư liệu tương đương với số liệu về dân ca, ca dao của 40 cuốn sách (gồm
49 tập) đã được biên soạn từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1975. Tất cả có 12.487 đơn
vị. Những lời ca dao thuộc chủ đề tình yêu lứa đôi còn được tập hợp riêng trong
cuốn Ca dao tình yêu lứa đôi (2 quyển) trong Tổng tập văn học dân gian người
Việt, tập 16 [58]. Số lời ca dao trong cuốn này được sưu tầm, biên soạn từ ca dao
tình yêu lứa đôi của 43 cuốn sách (gồm 53 tập).
gian Việt Nam, quy luật nảy sinh và phát triển của chúng. Cả Nguyễn Tấn
Phát và Bảo Định Giang, trong quá trình đi tìm những sắc thái riêng của ca
dao Nam Bộ, đều sử dụng phương pháp so sánh giữa ca dao ba miền trên một
số phương diện. Ở chủ đề tình yêu nam nữ, sắc thái địa phương của ca dao,
dân ca Nam Bộ được đặt trong cái nhìn so sánh với ca dao tình yêu lứa đôi
vùng miền khác: “Cũng là tình yêu, cũng là quan hệ luyến ái, nhưng cái yêu,
cái thương của các chàng trai, cô gái đồng bằng Bắc Bộ như có sự can thiệp
sâu hơn của lý trí, của những chuẩn mực đạo đức có tính chất quy phạm
9
chung”; “Khác với ca dao, dân ca các miền khác, ca dao, dân ca Nam Bộ thể
hiện niềm thương nỗi nhớ, thể hiện tình yêu một cách bộc trực, tự nhiên hơn.
Phải chăng đã có một phần kỷ cương phong kiến bị phá bỏ”; “Cách biểu hiện
tình cảm của miền Nam không bóng bẩy tế nhị như trong miền Bắc” [22, tr.
44-47]. Mặc dù mới chỉ là khơi gợi bước đầu nhưng vấn đề sắc thái địa
phương trong ca dao tình yêu lứa đôi đã được bàn luận tới.
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu đã có bài viết, công trình về các
phương diện nội dung, nghệ thuật của ca dao Nam Bộ như Từ gốc Hán, điển
tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ [8], Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ
của ca dao sưu tầm ở Nam Bộ [9] của Nguyễn Phương Châm, Phương ngữ
Nam Bộ trong ca dao tình yêu [15] của Trần Phỏng Diều, Ý nghĩa biểu trưng
của hình tượng thiên nhiên trong ca dao Nam Bộ [49], Ý nghĩa biểu trưng của
từ chỉ địa danh trong ca dao Nam Bộ [50], Xu hướng lựa chọn cái biểu đạt trong
sự hình thành các biểu trưng nghệ thuật của ca dao Nam Bộ [52], Điển tích
trong ca dao Nam Bộ: tiếp nhận và cách tân [53] của Trần Văn Nam, Một số
đặc điểm ngôn ngữ của ca dao, dân ca Nam Bộ [56] của Bùi Mạnh Nhị v.v…
So sánh và tìm hiểu sắc thái riêng của ca dao các vùng, miền không
phải là vấn đề mới. Nguyễn Phương Châm đã có bài nghiên cứu Sự khác nhau
giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc trên tạp chí Văn hóa dân gian
năm 1997 [7]. Theo ông, chủ đề tình yêu nam nữ là chủ đề quán xuyến hầu
Với đề tài Tìm hiểu quan hệ nam nữ và tình yêu lứa đôi qua cái nhìn
so sánh giữa ca dao Bắc Bộ và ca dao Nam Bộ, phạm vi nghiên cứu rất rộng
tương ứng với đối tượng là những lời ca dao về quan hệ nam nữ và tình yêu
lứa đôi của người Việt ở Bắc Bộ và Nam Bộ. Trong khuôn khổ của luận văn
thạc sĩ, chúng tôi xin quan tâm tới phạm vi hẹp hơn nhưng mang đặc điểm
11
tiêu biểu trong bộ phận ca dao tình yêu lứa đôi để so sánh giữa ca dao Bắc
Bộ và ca dao Nam Bộ, đó là những lời tỏ tình và lời thề nguyền.
Như chúng ta đã biết, nội dung và hình thức lời tỏ tình và lời thề
nguyền trong ca dao về tình yêu lứa đôi ở Bắc Bộ và Nam Bộ đa dạng sắc thái
và cũng rất rộng. Do vậy, chúng tôi không tìm hiểu, so sánh chúng theo
“diện” mà theo “điểm ” ở một số nội dung cơ bản và hình thức chủ yếu.
Thuật ngữ “Ca dao Bắc Bộ” và “Ca dao Nam Bộ” mà chúng tôi đề cập
đến trong luận văn đồng nghĩa với ca dao cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ
và Nam Bộ.
Phạm vi tư liệu khảo sát trong luận văn chủ yếu:
Cuốn Kho tàng ca dao người Việt, (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính và
Phan Đăng Nhật đồng chủ biên [34].
Cuốn Ca dao tình yêu lứa đôi (Tập 16, Quyển thượng, Quyển hạ)
trong Tổng tập văn học dân gian người Việt, chủ tịch Hội đồng
biên tập Nguyễn Xuân Kính [58].
Cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,
Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn [22].
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu Việt Nam đi
trước, chúng tôi không chỉ sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, mô tả
và thống kê mà còn tiếp cận những tri thức đa ngành, liên ngành từ văn học
dân gian đến kiến thức về địa lý, lịch sử và văn hóa.
5. Cấu trúc luận văn
chữ quốc ngữ năm 1931 với bài Ca dao cổ trên tạp chí Nam phong số 167,
dẫn theo [37, tr. 76]. So với thuật ngữ “ca dao”, thuật ngữ “dân ca” xuất
hiện muộn hơn. Phải đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ này mới
chính thức được sử dụng trong cuốn sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam do
Vũ Ngọc Phan biên soạn (in lần đầu năm 1956) [60].
So với “ca dao”, phạm vi phản ánh của “phong dao” nhỏ hẹp hơn,
nó phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại. Dần dần tên gọi
“ca dao” được sử dụng thay thế cho “phong dao”.
“Ca dao” và “dân ca” có mối quan hệ đặc biệt. Nhìn chung, trong
nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ “ca dao” và “dân ca” được hiểu
theo các nghĩa sau đây:
14
1) Ca dao đồng nghĩa với dân ca (về nghĩa rộng), ca dao được dùng để
chỉ chung toàn bộ những bài hát được lưu hành phổ biến trong dân gian có
hoặc không có khúc điệu.
2) Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca
(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Dân ca bao gồm phần
lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn
xướng và khung cảnh ca hát.
3) Ca dao là thuật ngữ để chỉ thể thơ dân gian được phổ biến rộng rãi,
lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về
phong cách. Như vậy, không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca
nào đó được tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi… thì đều là ca dao. 15
Thuật ngữ “ca dao” được hiểu theo nghĩa thứ nhất và nghĩa thứ hai
theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên cũng nhấn mạnh nội dung chính của
ca dao là tiếng hát trữ tình của con người, chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của
tâm hồn và tính cách dân tộc. Ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong
phú nhất. Tính chất phong phú của ca dao về tình yêu nam nữ trước hết thể
hiện ở số lượng lời ca. Nó còn thể hiện ở nội dung phản ánh phong phú mọi
biểu hiện của tình yêu trong tất cả những chặng đường: giai đoạn gặp gỡ ướm
hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao đổi những lời thề nguyền tặng vật cho nhau,
giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung, hoặc sự
thất bại đau khổ với những lời than thở, oán trách… [31].
Để thể hiện được nội dung trữ tình đó, ca dao trước hết “phản ánh lịch
sử – xã hội” của người lao động, về mặt này, có thể coi ca dao dân ca Việt
Nam là một kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán ở nông thôn ngày
xưa [31, tr. 314].
Như vậy, bên cạnh việc phản ánh nội dung hiện thực xã hội thì chủ yếu
ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm của người bình dân trong xã hội cổ truyền,
qua đó thể hiện nét đẹp trong tâm hồn, tính cách và quan niệm sống của họ.
1.1.3. Khái niệm “lời tỏ tình” và “lời thề nguyền”
1.1.3.1. Khái niệm “lời tỏ tình”
Theo Nguyễn Xuân Kính, mỗi lời ca dao là một cơ cấu tương đối trọn
vẹn về nội dung, về hình thức nghệ thuật. Nội dung của lời diễn đạt một tình
cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời chính là từ
ngữ, nhịp điệu, vần thơ… [37, tr. 82].
17
Từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên) nêu khái niệm “tỏ tình” là
“bộc lộ, giãi bày cho người khác biết rõ” (về tình yêu của mình) [61, tr.
1001]. Ca dao tỏ tình (lời tỏ tình trong ca dao) là những lời ca dao có nội
dung nhằm bày tỏ, bộc lộ tình yêu của chủ thể trữ tình đến đối tượng.
1.1.3.2. Khái niệm “lời thề nguyền”
Từ điển Tiếng Việt (Hoàng phê chủ biên) nêu khái niệm “thề nguyền”
Bắc Thành và Gia Định Thành, đối trấn làm tỉnh, chia cả nước thành 31 đơn
vị hành chính trực thuộc triều đình trung ương. Lấy kinh đô làm trung tâm;
năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) chia đặt như sau: Quảng Nam, Quảng Ngãi
thuộc Nam Trực; Quảng Trị, Quảng Bình thuộc Bắc Trực; Bình Định, Bình
Thuận thuộc Tả Kỳ; Nghệ An, Thanh Hóa thuộc Hữu Kỳ; Gia Định, Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên thuộc Nam Kỳ; Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây, Bắc
Ninh, Hải Dương thuộc Bắc Kỳ.
Đến thời kỳ thuộc Pháp, lãnh thổ Việt Nam được chia làm 3 khu vực
riêng biệt, từ địa giới phía nam tỉnh Bình Thuận trở vào gọi là Nam Kỳ, từ
địa giới phía nam Bình Thuận trở ra tới địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình gọi
là Trung Kỳ, từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra tới biên giới Việt
Trung gọi là Tankin (tức Bắc Kỳ). Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và
Trung Kỳ hợp lại gọi là Vương quốc An Nam đặt dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
Cách gọi Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ xuất hiện đầu tiên vào năm 1946
trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tồn tại đến năm
1959. Cụ thể, về phương diện hành chính, nước Việt Nam gồm có 3 bộ: Bắc,
Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh chia thành nhiều huyện,
mỗi huyện chia thành nhiều xã. Chính quyền địa phương gồm 4 cấp: xã,
huyện, tỉnh, bộ (trước gọi là kỳ).
19
Ở Bắc Bộ, ngoài Thành phố Hà Nội và Thành phố Hải Phòng còn có
27 tỉnh, đó là các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông,
Hà Giang, Hà Nam, Hải Dương, Hải Ninh, Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến An,
Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Phúc Yên,
Quảng Yên, Sơn La, Sơn Tây, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh
Yên, Yên Bái.
Khu vực Trung Bộ gồm có các tỉnh: Bình Định, Bình Thuận, Thành
phố Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Hà Tĩnh, Huế, Khánh Hòa, Kon
Tum, Lâm Viên, Nghệ An, Phan Rang (Ninh Thuận), Phú Yên, Pleiku, Quảng
Như vậy, về mặt địa giới hành chính, Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ là
những tên gọi ra đời sau, chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, ranh giới tương
đồng với các tên gọi Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ hoặc các từ “miền Bắc”,
“miền Trung”, “miền Nam”.
1.2.2. Theo phân vùng văn hóa
Với quan niệm văn – sử – triết bất phân, các nhà văn, nhà sử học, nhà
văn hóa thời phong kiến đã có những ghi chép về các vùng đất, tính cách con
người và thổ sản từng vùng như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Ô châu cận lục
của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục của Phan Huy Chú, Gia Định thành
thông chí của Trịnh Hoài Đức Tuy nhiên, việc phân vùng văn hóa vẫn là
khái niệm mới mẻ. Các nhà văn hóa hiện đại đều xác định hệ thống tiêu chí phân
vùng như Hoàng Vinh trong Sự phân vùng văn hóa Việt Nam, Ngô Đức Thịnh
trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Bản sắc văn hóa vùng ở
Việt Nam, Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận trong Các vùng văn hóa Việt Nam
Trong Sự phân vùng văn hóa Việt Nam [84], khi phân vùng văn hóa,
Hoàng Vinh dựa vào các tiêu chí: về nguồn gốc lịch sử giữa các cư dân sinh
21
sống trong vùng, về trình độ phát triển kinh tế – xã hội và quan hệ giao lưu,
ảnh hưởng văn hóa giữa các tộc người, các bộ phận dân cư trong và ngoài
vùng văn hóa. Ông đồng tình với ý kiến “làng” là đơn vị trung tâm, làng là
cộng đồng văn hóa tương đối độc lập và ổn định.
Ngô Đức Thịnh lại phân vùng văn hóa Việt Nam với 2 cấp độ: vùng và
tiểu vùng. Tác giả cũng dựa trên các tiêu chí và đưa ra khái niệm vùng văn
hóa: “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh
tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và
lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, giữa họ
đã diễn ra những nơi giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã
hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với các vùng văn hóa khác”