Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Hiện nay, ngành dệt may vẫn là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Năm 2007, ngành dệt may dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu, vượt qua cả ngành
dầu khí, đóng góp một phần rất lớn và tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Ngành dệt may đang có rất nhiều cơ hội để mở rộng phát triển. Trong đó, mặt
hàng may mặc chiếm một tỷ lệ xuất khẩu rất lớn, là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
của ngành dệt may.
Công ty cổ phần May 10 là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu hàng
may mặc hàng đầu ở Việt Nam. Sản phẩm của Công ty không chỉ nổi tiếng ở
trong nước mà còn được biết đến rộng rãi trên thị trường nước ngoài. EU là một
trong những thị trường đầy tiềm năng mà công ty đang hướng tới và chuẩn bị có
sự thâm nhập sâu hơn vào thị trường này. Vì vậy, công ty có nhiều sự chuẩn bị
kỹ lưỡng để có thể quảng bá hình ảnh của công ty với các khách hàng EU.
Chuyên ngành mà tôi đang được học rất phù hợp với hoạt động kinh
doanh của công ty cổ phần May 10 nên tôi đã lựa chọn công ty để thực tập. Sau
một thời gian thực tập, tôi đã quyết định hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề
tài:
“ Một số giải pháp hoàn thiện Marketing xuất khẩu sang thị trường EU
của công ty cổ phần May 10”
Đề tài này rất mới mẻ bởi vì chủ đề Marketing rất khó thực hiện và có
nhiều người quan tâm. Các đề tài khác mới chỉ đề cập đến hoạt động Marketing
và tìm giải pháp chung cho nhiều thị trường. Còn đề tài này chỉ đi sâu nghiên
cứu Marketing xuất khẩu trên thị trường EU.
1
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài này trước hết nhằm nghiên cứu tình hình Marketing xuất khẩu của
công ty và những lợi ích mà Marketing mang lại. Thứ hai là, có thể đưa ra một
số giải pháp để hoàn thiện Marketing xuất khẩu của công ty, qua đó đẩy mạnh
Marketing truyền thống:
Quan niệm truyền thống cho rằng Marketing chỉ bao gồm các hoạt động sản
xuất, định hướng các sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối
cùng một cách tối ưu.
Quan niệm hiện đại cho rằng Marketing là chức năng quản lý doanh nghiệp
về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ việc
phát hiện ra nhu cầu, mong muốn của khách hàng đến việc sản xuất ra sản phẩm
thực thụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng một cách tối ưu.
Như vậy hai quan niệm trên có sự khác biệt nhau đó là: quan niệm truyền
thống cho rằng Marketing là các hoạt động cung cấp sản phẩm mà doanh nghiệp
có đến người tiêu dùng sao cho có thể cung ứng được càng nhiều sản phẩm càng
tốt. Ngược lại, quan niệm hiện đại cho rằng Marketing xuất phát từ khách hàng,
doanh nghiệp sẽ cung cấp các sản phẩm mà khách hàng cần chứ không phải là
thứ mà doanh nghiệp có. Vì vậy, nó bao gồm nhiều giai đoạn trong quá trình sản
3
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
xuất và tiêu dùng, chỉ dẫn các thông tin cần thiết để giúp doanh nghiệp lập kế
hoạch, xây dựng các chiến lược và thoả mãn các nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Các
chiến lược và kế hoạch Marketing đều phải phù hợp với mục tiêu và nguồn lực
của doanh nghiệp. Chức năng cơ bản của Marketing là tạo ra khách hàng cho
doanh nghiệp.
2. Marketing xuất khẩu
2.1 Định nghĩa
Marketing xuất khẩu là các hoạt động Marketing thông thường được áp
dụng trong môi trường nước ngoài, nhằm giúp doanh nghiệp đưa hàng hoá xuất
khẩu ra thị trường bên ngoài. Các nhà làm Marketing của doanh nghiệp phải
nghiên cứu môi trường chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hoá xã hội,… của nước
nhập khẩu để lên các kế hoạch, tìm biện pháp để thâm nhập thị trường và có
những tác động tới hành vi tiêu dùng của khách hàng.
Xu hướng hiện nay trên thế giới là toàn cầu hoá nền kinh tế. Các quốc gia
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu khác nhau, hàng rào đối với nhập khẩu của họ
cũng rất khác nhau.
Thứ ba, sự thay đổi của các yếu tố trong môi trường kinh doanh quốc tế.
Các yếu tố này thay đổi theo từng quốc gia, từng khu vực địa lý, có sự khác biệt
giữa các quốc gia. Vì vậy phân tích và dự báo xu hướng thay đổi của các yếu tố
này có ảnh hưởng tới việc xây dựng các chính sách marketing hỗn hợp của
doanh nghiệp.
Sự khác biệt giữa môi trường quốc tế và môi trường nội địa đòi hỏi các
doanh nghiệp xuất khẩu phải có tổ chức riêng biệt để nghiên cứu Marketing xuất
khẩu, coi đây như là một công cụ để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ra thị trường
quốc tế.
2.2 Vai trò của marketing xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong ngoại thương, mang lại nhiều giá trị
cho mỗi quốc gia xuất khẩu. Chủ thể tham gia vào các quan hệ trao đổi buôn bán
quốc tế rất đa dạng, bao gồm các công ty, doanh nghiệp ở nhiều quốc gia, nhiều
khu vực khác nhau. Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường kinh
tế, môi trường văn hoá, chính trị xã hội,…. Nhu cầu mong muốn của khách hàng
5
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
nước ngoài cũng rất khác biệt so với các khách hàng trong nước. Việc nắm bắt
các nhu cầu khách hàng giúp doanh nghiệp xác định nên sản xuất các sản phẩm
gì, sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Marketing xuất khẩu là hoạt động
nhằm giúp doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là ai? Nhu cầu
mong muốn của họ là gì? Kì vọng của họ vào các sản phẩm đó là gì? Để trả lời
các câu hỏi này các doanh nghiệp phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu
Marketing để tìm hiểu các thông tin cần thiết từ phía khách hàng, bằng nhiều
phương tiện thu thập thông tin khác nhau, tổ chức sản xuất sản phẩm nhằm đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, đồng thời tổ chức phân phối sản phẩm từ trong
nước ra nước ngoài. Marketing xuất khẩu là cầu nối giữa doanh nghiệp với
khách hàng là người tiêu dùng ở các quốc gia khác. Marketing xuất khẩu đảm
- Các quyết định về chương trình Marketing xuất khẩu như thế nào?
II- Nội dung chủ yếu của Marketing xuất khẩu
1. Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường, lựa chọn đối tác
1.1 Nghiên cứu thị trường
Môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia có những sự khác biệt và thay đổi
theo thời gian. Có những quốc gia ổn định về chính trị, về kinh tế nhưng cũng có
những quốc gia bất ổn về an ninh chính trị, kinh tế kém phát triển. Việc tìm hiểu,
phân tích môi trường bên ngoài sẽ giúp doanh nghiệp so sánh, lựa chọn được
quốc gia, thị trường để tiến hành các hoạt động kinh doanh phù hợp. Doanh
nghiệp có thể lựa chọn các quốc gia trong khu vực có tương đồng về văn hoá
hoặc các quốc gia phương tây rất phát triển về kinh tế để tiến hành các hoạt động
kinh doanh. Tuy nhiên căn cứ để có thể lựa chọn được thị trường kinh doanh phù
hợp thì doanh nghiệp phải phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh bao gồm
môi trường địa lý, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, công nghệ… Việc phân
tích này phải toàn diện và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nghiên cứu một
cách tổng quát thị trường nhằm xác định các thị trường tiềm năng phù hợp với
mục tiêu và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm giảm bớt sự phân tán
của doanh nghiệp trong việc quyết định lựa chọn thị trường kinh doanh xuất
khẩu. Nội dung nghiên cứu cụ thể về thị trường bao gồm: nghiên cứu khách
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
hàng, nghiên cứu hàng hoá và xác định quy mô, đặc tính thị trường, đối thủ cạnh
tranh.
- Khách hàng là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Khách hàng
thường có những nhu cầu và mong muốn rất đa dạng, phong phú cho nên việc
nắm bắt và phát hiện ra các nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng là
rất quan trọng. Doanh nghiệp không thể tồn tại được nếu không biết khách hàng
của mình là ai, họ như thế nào? Nhu cầu, mong muốn của họ là gì? Sản phẩm có
hai đặc tính đó là: tính giá trị và tính giá trị sử dụng. Nếu thiếu một trong hai đặc
tính đó thì không được gọi là sản phẩm. Vì vậy sản phẩm làm ra phải có người
khẩu thì bước tiếp theo là doanh nghiệp phải lựa chọn thị trường nào phù hợp với
khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp nhất. Thị trường nước ngoài rất phức tạp
và đa dạng cho nên cần phải phân đoạn thị trường để tìm ra thị trường mục tiêu.
Phân đoạn thị trường là chia những người tiêu dùng thành từng nhóm có
chung những yêu cầu giống nhau. Mục đích của phân đoạn thị trường là thống
nhất các đoạn thị trường để tập trung nguồn lực, giúp doanh nghiệp hiểu rõ cơ
cấu người tiêu dùng trên thị trường, tối đa hoá lợi nhuận trên một đơn vị sản
phẩm. Phân đoạn thị trường có thể dựa vào các yếu tố là địa lý, tâm lý, hành vi
người tiêu dùng, nhân khẩu học,…
Mục tiêu của phân đoạn thị trường là lựa chọn phân khúc thị trường mà
doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên đoạn thị
trường đó hay chính là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp.
Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu là:
tập trung những người tiêu dùng có cùng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, lượng
cầu phù hợp với khả năng cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp, đảm bảo được
mục tiêu về doanh số, lợi nhuận, thị trường đó có triển vọng phát triển, việc thâm
nhập thị trường không quá khó khăn, rào cản gia nhập thị trường thấp. Trên cơ
sở phân tích và đo lường các kết quả của từng phân đoạn thị trường, doanh
nghiệp sẽ có ý tưởng kinh doanh phù hợp với thị trường mục tiêu. Nhờ xác định
rõ khách hàng của mình là ai, nhu cầu, mong muốn của họ như thế nào, thói
quen mua sắm và các yếu tố nào có thể tác động đến quyết định mua sắm của
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
người tiêu dùng nên doanh nghiệp có thể tập trung nguồn lực và xây dựng các kế
hoạch để đạt được các mục tiêu về lợi nhuận.
1.3 Nghiên cứu bạn hàng
Nghiên cứu bạn hàng là hoạt động nghiên cứu tìm hiểu về các nhà trung
gian phân phối để tiến hành đưa sản phẩm ra thị trường. Các đối tác phải đảm
bảo độ tin cậy cao thì mới có thể tiến tới hợp tác làm ăn kinh doanh. Đối tác
càng có uy tín và thiện chí thì khả năng thực hiện hợp đồng càng cao và có thể
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường và định vị thương hiệu. Sự khác
biệt của sản phẩm là yếu tố dẫn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Nhất là
trong điều kiện nền kinh tế hội nhập như ngày nay, sản phẩm nào có khả năng
cạnh tranh là sản phẩm đó có khả năng tồn tại và hấp dẫn thị trường. Các yếu tố
để tạo nên sự khác biệt của sản phẩm bao gồm chất lượng, tính năng công dụng,
uy tín, kiểu dáng, bao bì, mẫu mã, thời gian giao hàng, các dịch vụ khách hàng,
… Doanh nghiệp phải so sánh với các đối thủ cạnh tranh để tìm ra các điểm khác
biệt này và xem xét nguồn lực của doanh nghiệp mình để xây dựng các chiến
lược cạnh tranh một cách hữu hiệu nhất. Có rất nhiều chiến lược Marketing mà
doanh nghiệp có thể lựa chọn, đó là:
+ Chiến lược định hướng phát triển chuỗi giá trị
+ Chiến lược thương hiệu
+ Chiến lược giá trị khách hàng
+ Chiến lược Marketing hỗn hợp
+ Chiến lược con người
+ Chiến lược sản xuất và cung cấp
+ Chiến lược hỗ trợ kỹ thuật
+ Chiến lược tài nguyên,….
Trong đó, chiến lược Marketing hỗn hợp được các doanh nghiệp áp dụng
nhiều hơn cả. Chiến lược này là sự kết hợp của các yếu tố 4P: Product - sản
phẩm, Price – giá cả, Place- phân phối, Promotion – xúc tiến. Ngoài ra, chiến
lược Marketing hỗn hợp ngày càng mở rộng, không chỉ là 4P mà là 7P để phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế mới của các quốc gia trên thế giới. Tuỳ thuộc
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
vào nguồn lực của từng doanh nghiệp mà áp dụng các chiến lược Marketing hỗn
hợp sao cho hiệu quả nhất.
2.2 Hoạch định chiến lược Marketing hỗn hợp
2.2.1 Chiến lược sản phẩm
Sản phẩm xuất khẩu là mọi thứ có thể thoả mãn nhu cầu mong muốn của
Những sản phẩm không còn phù hợp với thị trường và không có khả năng
tạo ra doanh thu lợi nhuận nữa kể cả khi nó đã được cải tiến thay đổi mẫu mã thì
doanh nghiệp phải xem xét đến việc loại bỏ nó. Việc này đòi hỏi phải có sự theo
dõi thường xuyên về tình hình tiêu thụ sản phẩm để nhanh chóng đưa ra các
quyết định marketing phù hợp.
* Cơ cấu chủng loại sản phẩm xuất khẩu: quyết định cơ cấu sản phẩm để
xuất khẩu phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng
tới quy mô thị trường và doanh thu của doanh nghiệp.
* Nghiên cứu bao bì nhãn mác sản phẩm: bao bì là một trong những thành
phần cấu tạo nên giá thành sản phẩm. Bao bì thực hiện ba chức năng cơ bản là:
bảo vệ sản phẩm, thông tin sản phẩm, quảng cáo cho sản phẩm. Công tác nghiên
cứu bao bì nhãn mác được thực hiện để thích ứng với nhu cầu của thị trường
quốc tế. Việc thiết kế bao bì phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội
và thẩm mỹ của khách hàng.
2.2.2 Chính sách giá cả sản phẩm quốc tế
Việc định giá sản phẩm quốc tế thực chất không khác so với định giá sản
phẩm trên thị trường nội địa. Nội dung của chính sách giá cả trong marketing
xuất khẩu bao gồm:
- Xác định giá sản xuất sản phẩm
- Xác định các điều kiện để định giá bán cho sản phẩm ở từng phân đoạn thị
trường
- Xác định giá cả của từng phân đoạn thị trường
- Xác định giá mối quan hệ giữa giá sản phẩm chủ đạo trong các chủng loại
sản phẩm của doanh nghiệp
- Các yếu tố khác ảnh hưởng tới chính sách giá sản phẩm quốc tế
Khi định giá sản phẩm trong xây dựng chiến lược marketing thì doanh
nghiệp phải tính đến các yếu tố có ảnh hưởng tới giá cả như là chi phí sản xuất,
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
nhu cầu thị trường, cạnh tranh, luật pháp và chính trị. Trong mỗi chu kì sống của
mang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, hàng may mặc có tính thời trang cao nên các
doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các show trình diễn thời trang.
Các hoạt động yểm trợ khác là quản lý mối quan hệ với khách hàng. Hỗ trợ
khách hàng trong việc tìm hiểu thông tin về sản phẩm thông qua các xuất bản
phẩm, catalog, phim ảnh,…để cung cấp thêm thông tin, lôi cuốn sự thu hút
khách hàng, tạo sự quan tâm hơn nữa của họ đối với sản phẩm của doanh nghiệp,
thông qua đó để quảng bá hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp.
3. Soạn thảo kế hoạch marketing
Kế hoạch hoá các chiến lược marketing có vai trò rất quan trọng vì nó giúp
doanh nghiệp xác định các nguồn lực cần thiết cho quá trình kinh doanh và đảm
bảo cho việc thực hiện các mục tiêu diễn ra một cách thuận lợi.
Kế hoạch hoá còn giúp cho doanh nghiệp cân đối các nguồn lực hiện có so
với các mục tiêu đã đề ra và tính toán các phương án khả thi có thể thực hiện
được. Doanh nghiệp sẽ giải quyết được các vấn đề về cân đối nguồn lực, tung ra
hay rút bỏ sản phẩm, rút lui hay chiếm lĩnh thị trường,…
Các nhà làm marketing sẽ dựa vào kết quả phân tích thị trường, lựa chọn thị
trường, xây dựng các chiến lược để soạn thảo một kế hoạch marketing thích ứng
với thị trường đang xem xét. Ở bước này là xác định xem ai phải làm gì? Làm
như thế nào? Thời gian thực hiện? Vấn đề quan trọng trong bản kế hoạch
marketing là chi phí thực hiện là bao nhiêu? Nếu chi phí của doanh nghiệp eo
hẹp thì không đủ khả năng thực hiện. Vậy thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn
kinh phí nào để kinh doanh?
4. Tổ chức thực hiện chiến lược và kế hoạch
Tổ chức thực hiện các chiến lược và kế hoạch Marketing là huy động các
nguồn lực trong doanh nghiệp để biến các ý tưởng trong chiến lược, kế hoạch
thành hành động cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Các
hành động này phải diễn ra theo như kế hoạch đã vạch ra.
Yêu cầu của tổ chức thực hiện là phải nhận thức và vận dụng phù hợp với
thực tế, nắm bắt rõ tình hình thị trường cần triển khai chương trình Marketing.
Trong quá trình thực hiện thì phải luôn luôn đánh giá mức độ thành công hay
phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát hữu hiệu.
16
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
-Yếu tố cạnh tranh: Cạnh tranh làm cho thị trường kinh doanh trở nên gay gắt
hơn, có thể ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng
tích cực hoặc tiêu cực. Nó có thể gây nên những rào cản đối với các doanh
nghiệp khác. Vì vậy, nó làm giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp hoặc khả
năng gia nhập thị trường.
-Yếu tố cung cầu: Cung cầu của thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp ảnh
hưởng đến quyết định số lượng sản phẩm bán ra thị trường, quyết định giá cả và
chất lượng sản phẩm.
- Yếu tố dân số: Dân số thể hiện quy mô của thị trường. Quốc gia có dân số đông
thường được ưu tiên để doanh nghiệp lựa chọn thị trường kinh doanh vì thị
trường tiêu thụ lớn. Dân số tác động đến việc định dạng thị trường mục tiêu của
doanh nghiệp.
- Yếu tố thu nhập: Thu nhập thể hiện sức mua và quy mô của thị trường. Các
quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao thường chi tiêu nhiều cho việc
mua sắm hàng hóa. Họ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề an toàn sức khỏe và
môi trường.
- Yếu tố chính trị luật pháp: Các doanh nghiệp xuất khẩu thường quan tâm tới
yếu tố luật pháp chính trị của một quốc gia bởi vì luật pháp có tác động trực tiếp
tới các chính sách xuất nhập khẩu của quốc gia đó. Hệ thống luật pháp có ổn
định mới tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, tạo ra môi trường cạnh tranh công
bằng và lành mạnh.
- Yếu tố văn hóa: Văn hóa thể hiện hành vi tiêu dùng và thói quen mua sắm của
người tiêu dùng. Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ lại có những phong tục tập
quán khác nhau. Việc tìm hiểu các phong tục tập quán này giúp các nhà làm
Marketing hiểu rõ hơn về hành vi mua sắm của khách hàng và có thể cung ứng
những sản phẩm phù hợp với mong muốn và nhu cầu của họ.
- Yếu tố địa lý: Khoảng cách địa lý có ảnh hưởng tới chính sách phân phối sản
- Yếu tố con người: Ảnh hưởng của yếu tố con người thể hiện thông qua những
quan điểm của nhà lãnh đạo và trình độ nhận thức của những người làm về
Marketing. Nếu nhà lãnh đạo không có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của Marketing thì không thể có được những chiến lược Marketing hiệu quả.
Những người làm Marketing là những người nhạy bén, biết nắm bắt cơ hội và có
18
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
đầu óc sáng tạo. Mặt khác, kinh nghiệm và bản lĩnh của các nhà Marketing cũng
có tầm ảnh hưởng tới các kế hoạch và chiến lược kinh doanh của công ty.
IV- Đặc điểm thị trường may mặc EU
EU là một thị trường lớn đối với các quốc gia xuất khẩu và gia công hàng
may mặc, dệt may, trong đó có cả Việt Nam. Một số quốc gia EU nổi tiếng về
thương hiệu thời trang như Pari, Rome, Milan,…Liên minh châu Âu hiện nay có
27 thành viên với diện tích là 4.422.773km2, dân số là 492,9 triệu người, có tổng
GDP là 11,6 nghìn tỷ EURO (~ 15,7 nghìn tỷ USD) năm 2007.
Các quốc gia thành viên EU có một số đặc điểm chung về thói quen tiêu
dùng. Tuy nhiên mỗi thị trường cũng có những đặc trưng riêng làm cho nhu cầu
của khách hàng về sản phẩm hàng hoá khá đa dạng, phong phú. Một số đặc điểm
về thị trường may mặc EU là:
* EU được coi như là một quốc gia thống nhất với bộ máy quản lý thống
nhất cả về đối nội và đối ngoại, hoàn chỉnh về thể chế luật pháp. Các nước thành
viên của EU có sự tự do hoá về việc di chuyển vốn đầu tư, lao động, hàng hoá,
dịch vụ và tiền tệ. Các quốc gia sử dụng đồng tiền chung là EURO từ ngày
1/1/1999.
* Thói quen tiêu dùng của người dân châu Âu là ưa chuộng các sản phẩm có
nhãn hiệu nổi tiếng. Do đó thương hiệu có ảnh hưởng tới các quyết định mua
hàng của người tiêu dùng. Theo quan niệm của họ thì nhãn hiệu sản phẩm càng
nổi tiếng trên thế giới thì càng khẳng định chất lượng sản phẩm là tốt, có uy tín
cao.
* Thị trường EU có thể chia thành ba nhóm khách hàng chính đó là: nhóm
trường, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu về trách nhiệm xã hội.
+ EU đặt ra tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho an toàn cho
sức khỏe của con người. Tiêu chuẩn này nhằm nghiêm cấm các sản phẩm nhập
khẩu có sử dụng hóa chất hay các chất gây nguy hiểm cho người tiêu dùng. Danh
mục các sản hóa chất không được phép sử dụng trong quá trình sản xuất sản
phẩm được quy định rõ trong luật pháp của EU, chẳng hạn như thuốc nhuộm
chứa azo sinh ra chất gây ung thư bị cấm sử dụng và tiêu thụ ở EU. Vì vậy các
doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU cần tìm hiểu rõ các quy định luật
pháp này để tránh tình trạng hàng hóa bị nghiêm cấm nhập khẩu vào EU.
20
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
+ Tiêu chuẩn quản lý chất lượng của EU là các quy định về chất lượng sản
phẩm. Có ba hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chính mà EU đặt ra đó là: tiêu
chuẩn chất lượng ISO 9001:2000, hệ thống tiêu chuẩn môi trường ISO 14001 và
hệ thống tiêu chuẩn xã hội SA 8000.
Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2000 đưa ra khuôn khổ tiêu chuẩn
hóa các thủ tục và phương pháp làm việc, liên quan đến cả hệ thống kiểm soát
chất lượng, bán hàng và tổ chức chứ không phải chỉ là hoạt động kiểm soát chất
lượng ở khâu cuối cùng. ISO 9001:2000 đòi hỏi các nhà sản xuất phải miêu tả
chi tiết các quy trình hoạt động và xây dựng các thủ tục quy trình hoặc hoạt động
cần thiết đó tuân thủ theo những thủ tục đó trong hoạt động kinh doanh hàng
hoá. Sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý ISO 9001:2000 mang lại nhiều lợi ích như:
cải thiện sản phẩm, quy trình sản xuất và chất lượng dịch vụ, tăng mức độ hài
lòng của khách hàng, cải thiện năng suất, giảm chi phí, tăng sự tin tưởng của
khách hàng.
+ Quy định về bảo vệ môi trường: tiêu chuẩn về môi trường được sử dụng
nhiều ở EU đó là tiêu chuẩn Oko Tex 100 của hiệp hội Oko Tex Association
nhằm đảm bảo rằng sản phẩm dệt may và may mặc không chứa các chất gây hại
tới môi trường và sức khoẻ của con người.
+ Quy định về trách nhiệm xã hội: EU sử dụng hệ thống tiêu chuẩn xã hội
cao như áo sơ mi nam, veston, quần áo thể thao,… Công ty cổ phần May 10 ra
đời trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Cho đến nay công ty đã tròn 62 năm,
đây là một quãng thời gian khá dài đối với một doanh nghiệp may.
Các mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành công ty cổ phần May
10 đó là:
Năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, một số xưởng, nhà
máy ở Hà Nội đã dời lên núi rừng Việt Bắc, trong đó có cả các xưởng may quân
trang. Các xưởng may quân trang này được lấy tên là xưởng may X1.
Năm 1952, xưởng may X1 ở Việt Bắc đổi tên thành xưởng may X10 mang
bí số X10. Có thể thấy cái tên may 10 đã trở thành tên chính thức của công ty
cho đến tận bây giờ.Năm 1956, cuộc kháng chiến chống Pháp của ta giành thắng
lợi vẻ vang, xưởng may X10 đã rời mảnh đất Việt Bắc chuyển về Hà Nội, sát
nhập với xưởng may X40 lấy tên chung là xưởng may X10. Công xưởng sản
xuất chính được xây dựng ở Gia Lâm, Hà Nội. Đây cũng là nơi tiến hành sản
xuất của công ty May 10 bây giờ.
Tháng 12/1961, miền Bắc tiến hành xây dựng xã hội theo con đường xã hội
chủ nghĩa và là hậu phương vững chắc của miền Nam. Trước tình hình đó,
xưởng may X10 nhanh chóng được chuyển sang Bộ công nghiệp nhẹ tiếp quản
và đổi tên là Xí nghiệp may 10. Tuy đổi tên nhưng xí nghiệp May 10 vẫn làm
nhiệm vụ chính là may quân trang, quân phục cho bộ đội và sản xuất thêm một
số mặt hàng phục vụ xuất khẩu và dân dụng.
Thời kì kháng chiến chống Pháp kết thúc, giải phóng miền Bắc còn nhân
dân miền Nam lại bắt đầu một cuộc kháng chiến mới là chống đế quốc Mỹ. Đất
23
Chuyên đề tốt nghiệp Đồng Thị Mai – TMQT46
nước ta vẫn bị chia cắt làm hai miền, nhân dân miền Bắc tiến lên con đường xã
hội chủ nghĩa, chung sức với đồng bào miền Nam, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giành
lại độc lập và thống nhất đất nước. Mùa xuân năm 1975 là một mốc son chói lọi
trong lịch sử của dân tộc ta, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn
thống nhất. Cả nước cùng chung tay xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Xí nghiệp
người tiêu dùng.
Đánh dấu sự đổi mới và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thực hiện
theo chủ trương của Nhà nước, công ty May 10 đã chuyển đổi thành công ty cổ
phần May 10 theo Quyết định số 105 (QĐ – BCN kí ngày 5 tháng 10 năm 2004).
Công ty cổ phần May 10 có tên giao dịch quốc tế là GARCO 10 viết tắt của “
Garment 10 Join Stock Company”. Đất nước ta đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ
về mặt kinh tế và ngành may mặc Việt Nam có rất nhiều cơ hội để phát triển.
Chính vì vậy công ty cổ phần May 10 ra đời là hành động đúng đắn thể hiện sự
tin tưởng của ban lãnh đạo công ty vào sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Nhà
nước. Kể từ đó công ty cổ phần May 10 đã gặt hái được nhiều thành công hơn so
với thời kì trước đó. Công ty luôn hoàn thành và vượt mức kế hoạch đề ra. Ngoài
ra công ty còn thực hiện phân phối theo lao động, thực hiện chủ trương “ làm
theo lao động, hưởng theo năng lực”, “ làm nhiều hưởng nhiều làm ít hưởng ít,
không làm không hưởng”. Nhờ đó công ty đã khuyến khích động viên tinh thần
làm việc tích cực của anh chị em trong công ty, làm tăng lợi nhuận cho công ty
cũng đồng thời là làm lợi cho bản thân họ.
Có thể nói rằng, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, công ty May 10
vẫn luôn vững vàng trên thị trường, chiếm trọn niềm tin của người tiêu dùng
không chỉ trong nước mà cả nước ngoài. Những vinh dự mà công ty đã nhận
được như huân huy chương, cờ thi đua, bằng khen, danh hiệu các loại là phần
thưởng xứng đáng cho những nỗ lực phấn đấu hết mình của công ty, đánh dấu sự
trưởng thành về mọi mặt, xứng đáng là một doanh nghiệp may mặc hàng đầu của
Việt Nam. Một số chi tiết đáng lưu ý về công ty như:
Tên giao dịch quốc tế là: Garment 10 Joint Stock Company
Tên viết tắt là: Garco 10 JSC
Trụ sở chính: Sài Đồng – Gia Lâm – Hà Nội
25