Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu. Sự
phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học, kĩ thuật vào những năm cuối thế kỷ
XX đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người.
Những năm gần đây tất cả các nước đều chung tay, góp sức để bảo vệ môi
trường ngày càng trong sạch hơn. Hàng loạt các biện pháp được đề xuất thực
hiện và thu được những thành tựu lớn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy
nhiên, thế giới vẫn đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường.
Nước ta với dân số hơn 90 triệu người (năm 2013) mỗi năm sản sinh ra
một khối lượng rác thải đáng kể. Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh
trong cả nước ước tính lên tới 12,8 triệu tấn/năm, bên cạnh đó với sự phát
triển mạnh mẽ của các khu đô thị, khu công nghiệp, du lịch… Kèm theo đó là
việc con người đã thải ra các loại chất thải khác nhau vào môi trường. Chất
thải sinh hoạt là một trong những nguồn gây ra ô nhiễm môi trường đáng kể.
Trong những năm gần đây, chất thải sinh hoạt đã trở thành vấn đề bức xúc đối
với tỉnh Hòa Bình. Bức xúc từ ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người
dân còn chưa cao, cho đến khâu thu gom, vận chuyển, tập kết và xử lý rác.
Huyện Lạc Thủy được coi là một trong những điểm nóng của tỉnh đang phải
đối mặt với vấn đề này.
Huyện Lạc Thuỷ nằm về phía Đông Nam tỉnh Hoà Bình, có ranh giới
phía Đông giáp huyện Kim Bảng và huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam), phía
Tây giáp huyện Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình), phía Bắc giáp huyện Kim Bôi
(tỉnh Hoà Bình), phía Nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Nho Quan (tỉnh
Ninh Bình). Trung tâm huyện cách thành phố Hòa Bình 75 km Theo quốc lộ
21A, cách thành phố Hà Nam 30 km, cách Thị trấn Nho Quan 21km. Thị trấn
1
Chi Nê là trung tâm kinh tế - văn hóa, chính trị của Huyện nằm bên cạnh
dòng Sông Bôi và bám trục đường quốc lộ 21A là điểm giao lưu kinh tế, văn
hóa với các tỉnh bạn khá thuận lợi. Đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh chạy
tại huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình.
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn
nghiên cứu.
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù
hợp với điều kiện thực tế của huyện Lạc Thủy.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
1.5.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
- Tích lũy được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại,
vận chuyển và xử lý rác trên địa bàn của huyện.
- Phát hiện những khó khăn bất cập và những thiếu sót trong công tác
thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Lạc Thủy.
- Đưa ra một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp
với điều kiện của huyện Lạc Thủy.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải
Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của
con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao
thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách
sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các
phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải là kim loại, hóa
chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004) [10].
2.1.2.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Các nguồn phát sinh chất thải rắn:
- Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư,…): Thực phẩm
thừa, carton, nhựa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, nilon, các kim loại khác, tro, lá
cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện hỏng, pin, bình điện, dầu, lốp xe,…) và
các chất độc hại sử dụng trong gia đình.
- Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm
xăng dầu, gara…): Giấy, carton, nhựa, thức ăn thừa, thủy tinh, kim loại, các
loại rác đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…) và các chất độc hại.
- Công nghiệp (xây dựng, chế tạo, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng,
lọc dầu, nhà máy hóa chất, nhà máy điện,…): Chất thải từ quá trình công
nghiệp, chất thải không phải từ quá trình công nghiệp (thức ăn thừa, tro, bã,
chất thải xây dựng,…).
5
- Nông nghiệp (thu hoạch đồng ruộng, vườn, nông trại,…): Các chất thải
nông nghiệp như rơm, rạ,… Các chất thải độc hại như chai, lọ, bao bì đựng
thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật,… (Nguyễn Đình Hương, 2003) [6].
2.1.2.2. Thành phần chất thải rắn
Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của
nhiều vật chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn
có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần chất thải rắn đô thị là
bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc
phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác
chết, rác đường phố).
Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau:
- Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%)
- Chứa nhiều đất và cát, sỏi vụn, gạch vỡ
- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg) (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [11].
2.1.2.3. Phân loại chất thải rắn
a) Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày
01/07/2006;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về
việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ
môi trường;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về việc
quản lý chất thải rắn;
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về
việc bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;
7
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLB-BKHCN-BXD ngày 18/01/2001
của Liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng hướng dẫn
các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn điểm xây dựng và
vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn;
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD hướng dẫn một số điều của của Nghị
định số 59/2007/NĐ-CP, trong đó chủ yếu hướng dẫn các quy hoạch quản lý
chất thải vùng liên tỉnh và vùng tỉnh áp dụng đối với đô thị và khu công
nghiệp, khu kinh tế trọng điểm;
- Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt chiến lược Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn đến năm 2020;
- Chỉ thị số 36/2008/CT-BNN về tăng cường các hoạt động về bảo vệ
môi trường nông thôn, trong đó đề cập đến nhiệm vụ quản lý chất thải rắn
nông thôn;
- Chỉ thị số 81/2007/CT-BNN về chương trình Quốc gia nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn, trong đó đề cập đến hai vấn đề chính là cấp
nước sạch và nhà tiêu;
- Văn bản số 08/2009/TT-BTNMT: Quy định quản lý và bảo vệ môi
trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp
tỉnh Hòa Bình;
của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004), tại các thành phố lớn như
New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8 kg/người/ngày, Singapore, Hồng
Kông là 0,8 - 10 kg/người/ngày.
9
Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu
gom rác thải rất hiệu quả cụ thể:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng
rác khác nhau. Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế,
rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng. Nếu có
những phát sinh khác như: Khối lượng rác gia tăng hay các xe chở rác phải
phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92
USD/tháng. Phí thu gom rác được tính trên khối lượng rác, kích thước rác,
theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh. Tất cả chất
thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn. Để giảm giá thành
thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị đấu thầu việc thu gom và
chuyên chở rác (Offcial Jouiranal of ISWA, 1998) [21].
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: Rác hữu cơ, rác
vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại. Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý
rác thải để sản xuất phân vi sinh. Các loại rác còn lại: Giấy, vải, thủy tinh, rác
kim loại, Đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa. Tại đây, rác được đưa đến
hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào
các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để. Sau quá trình xử lý đó, rác
chỉ còn như một loại cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm. Các cặn rác không còn
mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng
hút nước khi trời mưa [20].
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210
triệu tấn. Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2 kg rác/ngày. Hầu như
thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn
ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho
các hộ dân vào các công ty. Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác trực
tiếp tại nhà phải trả phí 17 đô la Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các
khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đô la Singapore/tháng [8].
2.3.2. Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
2.3.2.1. Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại các đô thị, thành phố ở
Việt Nam
Trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước, công tác quản lý CTR được
các nhà quản lý quan tâm tập trung chủ yếu vào công tác thu gom và xử lý
các loại chất thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của con người (CTR sinh
hoạt). Chính vì vậy, mô hình thu gom, xử lý khi đó cũng mới chỉ hình thành ở
mức độ đơn giản. Đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, thu gom, vận chuyển và
xử lý CTR được giao cho Phòng Quản lý đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành
phố với đơn vị chịu trách nhiệm vệ sinh đường phố là các công nhân quét dọn
và thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân khu vực đô thị.
Chất thải sau đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định. Trong giai đoạn tiếp
theo, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành
kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu tiên phát triển. Các hoạt động công nghiệp,
nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du lịch, dịch vụ theo đó cũng phát triển
mạnh là nguyên nhân phát sinh lượng chất thải ngày càng lớn của các ngành
nêu trên. Đi kèm với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức tạp, sự
nguy hại về tính chất. Công tác quản lý CTR không còn đơn thuần là quản lý
CTR sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề quản lý CTR công nghiệp, xây dựng,
y tế, nông nghiệp Quá trình phát triển đòi hỏi công tác quản lý CTR phát
triển tương ứng về cơ chế, chính sách, pháp luật và các nguồn lực.
Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt song với đó, hệ thống tổ
chức quản lý CTR bắt đầu hình thành và phát triển với các nguyên tắc tương
12
đối cụ thể; căn cứ theo chức năng quản lý và nhiệm vụ được giao, các bộ,
ngành liên quan có trách nhiệm quản lý CTR phát sinh của ngành.
chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Các hoạt động sản xuất,
sinh hoạt tăng theo và lượng chất thải cũng tăng theo. Tính bình quân người
dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng, thực phẩm, cao gấp 2 - 3 lần
người dân nông thôn kéo theo lượng rác thải của người dân đô thị cũng gấp 2
- 3 lần người dân nông thôn.
Dân số đô thị nước ta phân bố không đồng đều và có sự khác biệt lớn
theo vùng. Tính đến năm 2010, dân số đô thị khu vực Đông Nam Bộ cao nhất
cả nước với 8,35 triệu người, tiếp theo đó là vùng Đồng bằng sông Hồng với
5,86 triệu người, khu vực có số dân đô thị ít nhất là Tây Nguyên với 1,5 triệu
người. Mật độ dân số theo đó cũng cao chủ yếu ở 3 vùng kinh tế lớn là Đồng
bằng sông Hồng (939 người/km²), Đông Nam Bộ (617 người/km²) và Đồng
bằng sông Cửu Long (426 người/km²) (mật độ dân số trung bình toàn quốc
vào khoảng 263 người/km²). Những con số trên cho thấy, phát sinh CTR đô
thị sẽ tập trung phần lớn ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng [2].
Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng
trung bình 10 ÷ 16% mỗi năm. Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh
hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này
lên đến 90%). Chỉ số phát sinh CTR đô thị bình quân đầu người tăng theo
mức sống. Năm 2007, chỉ số CTR sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người
tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi toàn quốc vào khoảng 0,75
kg/người/ngày. Năm 2008, theo Bộ Xây dựng thì chỉ số này là 1,45
kg/người/ngày, lớn hơn nhiều so với ở nông thôn là 0,4 kg/người/ngày. Tuy
14
nhiên, theo Báo cáo của các địa phương năm 2010 thì chỉ số phát sinh CTR
sinh hoạt đô thị trung bình trên đầu người năm 2009 của hầu hết các địa
phương đều chưa tới 1,0 kg/người/ngày. Các con số thống kê về lượng phát
sinh CTR sinh hoạt đô thị không thống nhất là một trong những thách thức
cho việc tính toán và dự báo lượng phát thải CTR đô thị ở nước ta. Kết quả
điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 đã cho thấy, lượng CTR đô thị phát sinh
chủ yếu tập trung ở hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng 0,83 Kom Tum 0,35
Huế 0,67 Vình Long 0,9
Nha Trang >0,6 Vĩnh An O,7
Đà Lạt 1,06 Bạc Liêu 0,73
Quy Nhơn 0,9
Đô thị loại 4: Thị xã
Tuần Giáo (Điện Biên) 0,7
Đô thị loại 2: Thành phố
Buôn Ma Thuật 0,8 Sông Công (Hòa Bình) >0,5
Hòa Bình >0,5 Từ Sơn (Bắc Ninh) >0,7
Việt trì 1,1 Lâm Thao (Phú Thọ) 0,5
Ninh Bình 1,30 Cam Ranh (Khánh Hòa) >0,6
Mĩ Tho 0,72 Gia Nghĩa (Đắc Nông) 0,35
Đô thị loại 3: Thành phố
Điện Biên Phủ 0,8 Đồng Xoài (Bình Phước) 0,91
Cao Bằng 0,38 Gồ Công (Tiền Giang) 0,73
Bắc Ninh >0,7 Ngã Bảy (Hậu Giang) >0,62
Thái Bình >0,6
Đô thị loại 5: Thị trấn,
Thị tứ
Tủa Chùa (Điện Biên) 0,6
(Nguồn: Báo cáo Nghiên cứu quản lý CTR tại Việt Nam, JICA, 3/2011) [7]
16
2.3.2.2. Tình hình quản lý, xử lý rác RTSH tại tỉnh Hòa Bình
Khối lượng chất thải phát sinh trên địa bàn vào khoảng 90-100
m3/ngày đêm. CTR phát sinh được thu gom và xử lý bằng công nghệ chôn
lấp, đốt là chủ yếu. Tỉnh Hòa Bình hiện đang thực hiện các dự án: Xây dựng 3
Nhà máy xử lý, chế biến CTR tại một số huyện; Hỗ trợ quản lý CTR sinh hoạt
và chất thải y tế cấp huyện; khắc phục ô nhiễm môi trường tại các bãi rác,…
[17].
Dân số TP. Hòa Bình
(nghìn người)
Lượng CTR phát sinh
Thành thị Nông thôn
Thành thị
(tấn/ngày)
Nông thôn
(tấn/ngày)
1. TP Hòa Bình 104,89 87,55 19,93 17,02
2. H. Kim Bôi 20,76 41,75 12,66 10,70
3. H. Lạc Thủy 3,01 23,43 3,61 11,26
4. H. Cao Phong 2,43 59,2 2,06 12,68
5. H.Lạc Sơn 3,77 36,71 4,67 15,68
6. H. Tân Lạc 7,98 66,92 6,19 12,77
7. H. Yên Thủy 3,20 39,6 4,92 6,40
8. H. Đà Bắc 3,99 60,77 4,79 12,31
9. H. Mai Châu 9,03 72,60 7,82 12,04
10. H. Lương Sơn
8,05 30,58 4,52 9,56
11. H. Kỳ sơn
3,08 26,04 3,13 7,43
Tổng cộng 170,12 545,15 74,24 143,28
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hòa Bình năm 2005, Sở
TN&MT Hòa Bình) [18]
18
Đô thị phát triển, diện tích đất ở ngày càng thu hẹp thì nhu cầu xử lý rác
thải là một vấn đề bức thiết trong nhân dân. Để khắc phục tình trạng trên, năm
2001 chính quyền thành phố đã tổ chức tham quan học tập tại các đô thị bạn và
chính thức đưa vào áp dụng mô hình xã hội hóa thu gom rác thải bằng việc tại
mỗi phường, xã thành lập một đội vệ sinh môi trường. Kinh phí trả cho công
triệt để ô nhiễm do rác thải gây ra.
Để có được kết quả đó không thể không kể đến sự quan tâm đầu tư của
thành phố trong công tác thu gom và xử lý rác thải. Hàng năm, Tỉnh và Thành
phố đã chi ngân sách cho công tác vệ sinh môi trường lên tới 6 tỷ đồng (năm
2009), ngoài ra còn phải kể đến sự hỗ trợ, phối hợp giữa các cơ quan, ban
ngành có liên quan đã góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.
20
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Chất thải sinh hoạt tại huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
- Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt của huyện
Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm thực hiện: huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
- Thời gian: Từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
3.3.2. Điều tra hiện trạng rác thải tại huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
3.3.3. Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
sinh hoạt tại huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình.
3.3.4. Nhận thức của người dân về vấn đề thu gom, vận chuyển và xử lý
rác thải
3.3.5. Đề xuất các biện pháp xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa
bàn huyện Lạc Thủy
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp kế thừa
Tham khảo tài liệu, giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn
khoa học… có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Đồng Môn, Liên Hòa, Thanh Nông. Mỗi vùng lấy 1 xã, mỗi xã lấy 5 hộ đại
diện để lấy mẫu.
22
+ Địa điểm tiến hành: Tại 15 hộ gia đình thuộc Thị trấn Chi Nê, xã Cố
Nghĩa, xã Phú Thành.
+ Cách thức tiến hành: Tiến hành thu gom và phân loại rác thải tại 15
hộ dân của các xã/thị trấn: Thị trấn Chi Nê, xã Cố Nghĩa, xã Phú Thành dựa
trên đặc điểm chung của các vùng đã phân ở trên, phát cho các hộ hai túi
nilon, màu xanh đựng rác hữu cơ và màu đỏ đựng rác vô cơ. Việc lựa chọn
các hộ dựa trên tiêu chí có sự cân đối về tỉ lệ giữa hộ giàu (20%), hộ khá
(20%), hộ trung bình và nghèo (60%), trên cơ cở số liệu điều tra của UBND
các xã/thị trấn về tỷ lệ giàu nghèo. Sau đó tiến hành thu gom và cân rác thải
hàng ngày trong 5 ngày liên tiếp. Kết quả xác định thành phần rác thải là
trung bình của 5 đợt quan trắc.
+ Thời điểm lấy mẫu: Vào buổi sáng sớm.
+ Dụng cụ cân đo: Cân 5kg.
- Rác thải khu vực chợ
Được xác định trên cơ sở phân chia theo quy mô nhỏ, trung bình và lớn
dựa vào số lượng dân cư trong khu vực, địa bàn phục vụ và điều kiện giao lưu
hàng hóa.
+ Địa điểm tiến hành: Chọn 3 chợ có quy mô khác nhau là chợ Chi Nê
(lớn), chợ Phú Thành (trung bình) và chợ Thanh Nông (nhỏ).
+ Cách thức tiến hành: Cân 20 kg rác tại các điểm tập kết thuộc ba chợ
đại diện, sau đó phân loại và cân từng thành phần.
+ Thời điểm tiến hành: Tùy theo thời gian người công nhân đi thu
gom rác.
- Dụng cụ tiến hành: Cân 20kg.
3.4.5. Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu
Số liệu sơ cấp: Lượng rác thải theo dõi được tổng hợp theo bảng, sau
đó được nhập và tính trung bình trên exel
24
4.1.1.3. Khí hậu, thủy văn
Theo phân vùng khí hậu thì Lạc Thủy chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng
miền núi phía Bắc. Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn huyện cho thấy
các đặc điểm khí hậu thể hiện như sau:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 24,7
0
C, tháng có nhiệt độ trung
bình cao nhất là 28,5
0
C vào tháng 7, tháng thấp nhất là 16
0
Cvào tháng 1.
- Lượng mưa: bão tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với lượng
mưa trung bình hàng năm là 1800 - 2200 mm.
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 81,9% cao nhất là 85%,
tháng 12 có độ ẩm thấp nhất là 77%.
- Gió: Có 2 loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam.
4.1.1.4. Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Diện tích tự nhiên của huyện Lạc Thủy là 31.495,35 ha, trong đó diện
tích đất nông nghiệp là 26.452,97 ha, đất phi nông nghiệp 4.866,57 ha; đất
chưa sử dụng 309,09 ha.
Quỹ đất sản xuất nông nghiệp có 8.221,61 ha đất cây trồng hàng năm, đất
trồng lúa là 6.333,88 ha, đất trồng cây lâu năm 1.418,26 ha. Đất lâm nghiệp
7.367,75 ha. Đất nông nghiệp khác 2.858,73 ha.
b) Tài nguyên nước
Huyện Lạc Thủy có Sông Bôi chảy qua có chiều dài 125km với diện
tích lưu vực là 295km
2