Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, các hoạt động thương mại
giữa các nước là xu thế tất yếu. Bất kỳ quốc gia nào cũng nằm trong hoạt động này.
Việt Nam chính thức tham gia và trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đầu những năm 2007. Từ đó đến nay, xu thế tự do hóa thương mại với các hoạt
động xuất nhập khẩu trở thành tính tất yếu của các doanh nghiệp.
Trong những năm trở lại đây, hoạt động xuất nhập khẩu gạch phát triển rất
mạnh mẽ. Từ vị trí thứ hai sau Indonesia về hoạt động xuất khẩu gạch ốp lát, cho đến
nay Việt Nam đã vươn lên để dẫn đầu về hoạt động này. Trong đó công ty Prime Tiền
Phong đóng góp không nhỏ vào thành công kể trên.
Những năm gần đây, công ty Prime Tiền Phong đã xuất khẩu gạch ốp lát đi các
nước trong khu vực và thế giới với kim ngạch rất lớn vào các thị trường như Ấn độ,
Irăc, Srilanka, Singapo…và đặc biệt là Hàn Quốc. Đây là thị trường chủ lực của công
ty những năm gần đây với kim ngạch xuất khẩu khoảng 69% kim ngạch xuất khẩu của
công ty.
Hàn Quốc là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, đứng thứ 3 khu vực châu Á
và đứng thứ 10 trên thế giới. Đây là một thị trường lớn về mặt hàng gạch ốp lát nhưng
Hàn Quốc cũng là một thị trường rất khó tính. Tuy nhiên những năm trở lại đây, hoạt
động sản xuất của công ty sang Hàn Quốc đã gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh
quyết liệt của các đối thủ, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát của Trung
Quốc. Với lợi thế về mặt địa lý gần Hàn Quốc, các nhà sản xuất gạch Trung Quốc có
lợi thế rất lớn về công tác vận chuyển hàng hóa làm giảm giá thành sản phẩm so với
sản phẩm của công ty. Bên cạnh đó, các sản phẩm gạch ốp lát của Trung Quốc có giá
thành rất rẻ với mẫu mã rất đa dạng, phong phú và màu sắc rất trang nhã.
Với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát Trung
Quốc nói trên, doanh số và kim ngạch xuất khẩu của công ty trong nhiều năm liền tăng
chậm. Có năm tỷ trọng xuất khẩu của công ty còn giảm so với năm trước. Tiêu biểu
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
1
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Chương 1: “Tổng quan vấn đề nghiên cứu” sẽ nói sơ qua về các vấn đề cần
nghiên cứu của luận văn, tiếp theo chương 1 sẽ là chương 2: “Tóm tắt một số cơ sở lý
luận cơ bản về đẩy mạnh xuất khẩu của công ty cổ phần Prime Tiền Phong” với nội
dung nghiên cứu là trình bày tóm tắt về lý thuyết xuất khẩu và các vấn đề liên quan.
Sau đó là chương 3: “Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng xuất
khẩu gạch sang Hàn Quốc của công ty cổ phần Prime Tiền Phong” trình bày về thực tế
xuất khẩu hiện nay của công ty. Và chương cuối là chương 4: “Các vấn đề phát hiện và
đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu” sẽ kết thúc vấn đề nghiên cứu và đưa ra các giải
pháp phù hợp để tăng cường khả năng thúc đẩy xuất khẩu hiện nay của công ty cổ phần
Prime Tiền Phong.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Chương 2: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PRIME TIỀN PHONG
2.1. Một số vấn đề lý thuyết về hoạt động xuất khẩu gạch của doanh công ty nói
chung:
Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với công ty:
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường
quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu
là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch
bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ, qua đó nâng
cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác
quản trị kinh doanh, đồng thời kéo dài tuổi thọ sản phẩm.
Xét về quyền sở hữu nguyên vật liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành dưới
hình thức sau:
Bên đặt gia công nguyên liệu hoặc bán thành phẩm và trả phí gia công.
Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công. Trong trường hợp
này quyền sở hữu nguyên vật liệu chuyển từ bên gia công sang bên nhận gia công.
Ngoài ra còn có thể áp dụng hình thức kết hợp trong đó bên đặt gia công chỉ
giao những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật
liệu phụ.
Xét về giá cả gia công, có thể chia việc gia công thành hai hình thức:
Hợp đồng chỉ thực hiện, thực thanh: trong đó bên nhận gia công thanh toán với
bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
Hợp đồng khoán: trong đó xác định một mức giá trị định mức cho mỗi sản
phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí của bên nhận gia
công là bao nhiêu đi chăng nữa, hai bên vẫn thanh toán theo định mức đó.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Mối quan hệ giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công được xác định bằng
hợp đồng gia công, thường được quy định một số điều khoản như thành phẩm, nguyên
liệu, giá cả, hợp đồng gia công thanh toán, giao nhận…
2.2.4. Buôn bán đối lưu:
Khái niệm: Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất
khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người
mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Trong phương thức xuất khẩu này
mục tiêu là thu về một lượng hàng hóa có giá trị tương đương.
Các loại hình buôn bán đối lưu:
Nghiệp vụ hàng đổi hàng: hai bên trao đổi trực tiếp với nhau nhưng hàng có giá
trị tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời.
Nghiệp vụ bù trừ: hai bên trao đổi hàng hóa với nhau trên cơ sở ghi giá trị hàng
giao, đến cuối kỳ hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, đối chiếu với giá trị giao và nhận.
bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế. Nghiên
cứu thị trường tạo khả năng cho các nhà kinh doanh thấy quy luật vận động của hàng
hóa, giúp họ giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị trường so
sánh, phân tích những thông tin đó để rút ra xu hướng vận động. Nội dung chính là
xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường. Thực hiện theo hai bước: nghiên
cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết.
Nghiên cứu khái quát cung cấp về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường,
các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường.
Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết về tập quán mua bán, thói quen và ảnh
hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng.
Nghiên cứu thị trường tiến hành theo hai phương pháp:
Nghiên cứu tại địa bàn: là nghiên cứu bằng thu thập thông tin từ các nguồn tài
liệu được xuất bản công khai và xử lý thông tin đó;
Nghiên cứu tại hiện trường:là thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trực
tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu được.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Nghiên cứu thị trường bao gồm:
Lựa chọn thị trường xuất khẩu: lựa chọn thị trường xuất khẩu phức tạp hơn so
với lựa chọn thị trường trong nước. Việc lựa chọn thị trường xuất khẩu đòi hỏi phải tốn
thời gian và công sức. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu doanh nghiệp cần chú ý:
Thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường và các nhân tố làm
thay đổi thị trường;
Nắm vững thông tin về biến động tỷ giá;
Công cuộc nghiên cứu phải diễn ra thường xuyên, liên tục.
Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu: xác định những mặt hàng kinh doanh phù hợp
với năng lực và khả năng của doanh nghiệp.
Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, cần phải dựa vào nhu cầu và thị hiếu của
các chiến lược Marketing cụ thể.
Giá bán của sản phẩm gồm các yếu tố: bảng giá, chiết khấu, giảm thời hạn thanh
toán tín dụng.
Cạnh tranh về giá là hình thức cạnh tranh dựa trên khả năng của từng sản phẩm.
Để nắm được sự biến động của thị trường, công ty cần phải triển khai hệ thống các văn
phòng những nơi doanh nghiệp có mặt. Các doanh nghiệp phải tiếp cận được thông tin
thị trường để tung ra sản phẩm thành công, đó là hoạt động xúc tiến bán hàng. Đây là
hoạt động quan trọng giúp khách hàng có thông tin tốt nhất về giá cả sản phẩm và tạo
uy tín của doanh nghiệp.
2.3.3. Đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu:
Thay đổi hình thức xuất khẩu bằng một số hình thức xuất khẩu mới mang tính
hiệu quả cao như:
Xuất khẩu ủy thác: Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị xuất nhập khẩu
đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng
xuất khẩu, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu.
Hình thức này bao gồm các bước:
Ký kết hợp đồng xuất khẩu ủy thác với đơn vị trong nước;
Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài;
Nhận phí ủy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước.
Xuất khẩu hàng hóa theo nghị định thư:
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa được ký kết theo nghị định thư giữa hai
chính phủ. Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm
được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường.
Trên thực tế hình thức xuất khẩu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ, thông thường chỉ
trong các nước xã hội chủ nghĩa, trong một số quốc gia có quan hệ mật thiết và chỉ
trong một số doanh nghiệp nhà nước mới có hoạt động xuất khẩu này.
Xuất khẩu tại chỗ:
Đa dạng hóa hàng ngang: là bổ sung các sản phẩm dịch vụ mới cho đối
tượng khách hàng hiện tại của doanh nghiệp, được sử dụng trong các trường hợp:
Doanh thu từ các sản phẩm dịch vụ hiện tại sẽ bị ảnh hưởng nếu bổ xung các
sản phẩm dịch vụ không liên quan;
Kinh doanh trong các ngành có tính cạnh tranh cao hoặc không tăng trưởng;
Các kênh phân phối hiện tại được sử dụng để tung sản phẩm mới cho các khách
hàng hiện tại;
Khi sản phẩm dịch vụ mới có mô hình kinh doanh không theo chu kỳ so với sản
phẩm hiện tại.
Đa dạng hóa hàng dọc: bổ sung thêm hoạt động kinh doanh mới không liên
quan đến các hoạt động kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp, được sử dụng trong các
trường hợp:
Xây dựng lợi thế cạnh tranh;
Kiểm soát các công nghệ bổ sung;
Cắt giảm chi phí sản xuất.
2.3.5. Tăng cường liên kết với các nhà sản xuất trong nước:
Để có thể xuất khẩu thành công, ngoài các biện pháp xuất khẩu chính, doanh
nghiệp cần có các biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu hiệu quả. Một trong các biện pháp
là tăng cường liên kết với các nhà sản xuất trong nước. Điều này làm tăng khả năng
làm việc của công ty, ngoài ra còn làm nâng cao năng lực hợp tác sản xuất của công ty.
Liên kết với các nhà sản xuất trong nước làm giảm sức cạnh tranh không cần
thiết của các nhà sản xuất trong nước tạo điều kiện cho công ty tập trung cạnh tranh với
các nhà sản xuất nước nhập khẩu
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Liên kết với các nhà sản xuất trong nước làm giảm rủi ro cho sản phẩm khi quá
nhiều nhà cung cấp sẽ tạo điều kiện cho khách hàng ép giá,gây khó khăn cho doanh
nghiệp.
2.4. Tổng quan về tình hình khách thể nghiên cứu những công trình năm trước:
Kim nghạch xuất khẩu: cho biết kết quả hoạt động xuất khẩu của công ty đang
tiến hành.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: cho biết các loại hàng hóa mà công ty đang xuất
khẩu tới thị trường mục tiêu.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu: cho biết vị thế của công ty tại thị trường xuất khẩu
hiện nay và khả năng xuất khẩu của công ty tới các thị trường tiềm năng.
Khảo sát biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mà công ty thực hiện: nhằm đánh giá
được khả năng và hiệu quả các biện pháp xuất khẩu của công ty thực hiện.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường nhưng hiệu quả hoạt động là chưa
cao, tần suất hoạt động của công tác nghiên cứu thị trường còn thấp.
Áp dụng công cao vào công tác sản xuất: sử dụng công nghệ kỹ thuật số cao
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng dẫn đến giá của sản phẩm tăng theo, không
nâng cao được sức cạnh tranh sản phẩm.
Đầu tư thành lập viện nghiên cứu gốm sứ: Viện nghiên cứu công nghệ Prime
luôn cập nhật định kỳ hàng năm những công nghệ theo chuẩn mới nhất của Châu Âu.
Nhưng hiệu quả sử dụng Viện nghiên cứu chưa cao. Không đạt hiệu quả kinh tế như
mong đợi.
Áp dụng tập trung và sản xuất theo quy mô: giúp công ty có thể hạ giá thành sản
phẩm tạo điều kiện cạnh tranh, xuất khẩu. Nhưng sản phẩm của công ty vẫn chưa thể
cạnh tranh về giá cả với các sản phẩm của Trung Quốc.
Sử dụng công nghệ trang thiết bị hiện đại: nhằm theo kịp xu hướng và công
nghệ sản xuất hiện nay, công ty từng bước hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất để đáp
ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao và phù hợp với nhu cầu khách hàng;
Sử dụng hệ thống kiểm soát chất lượng chặt chẽ để đảm bảo đầu ra của sản
phẩm luôn luôn có chất lượng tốt nhất. Nhưng vẫn chưa hoạt động tốt, vẫn còn có
những sản phẩm kém chất lượng lẫn trong sản phẩm tốt.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Tham gia quan hệ và liên kết với các tổ chức hiệp hội, các nhà sản xuất trong
tại trong công tác xuất khẩu, ngoài ra là các ý kiến đóng góp và đề xuất để giải quyết
các vấn đề tồn tại đó.
Các bước tiến hành điều tra, phỏng vấn:
Bước 1: Xác định mục tiêu
Bước 2: Xác định nội dung
Bước 3: Xác định đối tượng
Bước 4: Xác định thời gian
Bước 5: Tiến hành
Để tiến hành phương pháp điều tra, phỏng vấn, em xây dựng mẫu câu hỏi. Số
lượng câu hỏi chia làm hai mẫu phiếu, số lượng phát phiếu và tiến hành phỏng vấn là
30 phiếu với nội dung câu hỏi về các vấn đề chủ yếu trong công tác xuất khẩu mặt
hàng gạch của công ty sang Hàn Quốc, những hạn chế, khó khăn gặp phải và các biện
pháp khắc phục khó khăn của công ty.
Các bước tiến hành điều tra phỏng vấn tại công ty:
Phỏng vấn là đưa ra các câu hỏi nhằm thu thập thông tin từ người trả lời. Thực
chất phỏng vấn là phương pháp quan sát gián tiếp. Các bước tiến hành:
Bước 1: Chuẩn bị phỏng vấn
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Phân tích vấn đề cần nghiên cứu, phác thảo các hướng dẫn và câu hỏi. Các câu
hỏi đặt ra chủ yếu tập trung vào vấn đề nghiên cứu là tình trạng xuất khẩu gạch sang thị
trường Hàn Quốc của công ty những năm gần đây, những điểm mạnh, điểm yếu và các
giải pháp để nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Bước 2: Phỏng vấn thử
Xem xét bảng câu hỏi, thời gian phỏng vấn, thời gian trả lời, những vấn đề phát
sinh và thử trả lời.
Bước 3: Tiến hành phỏng vấn
Hướng dẫn người trả lời điền đầy đủ và mẫu phiếu câu hỏi, ghi chép đầy đủ các
thông tin phản hồi từ người trả lời cung cấp.
cáo tài chính đầu năm, cuối năm của công ty.
3.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu:
Đây là phương pháp xử lý các thông tin định lượng, các thông tin được thu thập
từ các số liệu thống kê, điều tra hoặc phỏng vấn…tùy tính hệ thống và khả năng thu
thập thông tin mà số liệu được trình bày theo các thông tin đó. Các phương pháp phân
tích số liệu:
Phân tích tổng hợp: phân tích các dữ liệu, số liệu thu thập được từ đó rút ra nhận
xét, kết quả và nhận định cụ thể.
Phân tích thống kê: thống kê các kết quả từ các báo cáo hoạt động kinh doanh
của công ty mà có nhận xét cụ thể.
Phân tích so sánh: lấy số liệu năm đầu tiên trong các năm nghiên cứu làm mốc
sau đó so sánh với các năm tiếp theo về mức tăng trưởng, kim ngạch, tỷ trọng…để có
kết quả chính xác.
Tiếp cận thực tế và lý thuyết: từ lý luận về xuất khẩu và thực trạng xuất khẩu
hiện nay của công ty để so sánh nhằm biết rõ tình trạng xuất khẩu của công ty.
Phương pháp khác: biểu đồ, đồ thị, biểu bảng…để so sánh khả năng xuất khẩu
của công ty.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
3.2. Đánh giá tổng quan và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạch
của công ty:
3.2.1. Đánh giá tổng quan:
3.2.1.1. Khái quát về công ty cổ phần Prime Tiền Phong:
Lịch sử hình thành và phát triển:
Tên: Công ty cổ phần Prime Tiền Phong
Tên giao dịch: Prime Tiền Phong Corporation Company
Địa chỉ: Khu công nghiệp Bình Xuyên, thị trấn Hương Canh, huyện Bình
Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Công ty cổ phần Prime Tiền Phong được thành lập năm 2001 theo giấy chứng
thị;
Đại lý, môi giới, đấu giá;
Sản xuất hóa chất trong công nghiệp (nhà nước không cấm);
Khai thác đá, cát sỏi, đất sét, các loại khoáng sản nhằm sản xuất vật liệu xây
dựng;
Bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan;
Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng;
Xây dựng nhà các loại;
Bán buôn kim loại và quặng kim loại;
Xây dựng công trình công ích;
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty:
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Hội Đồng Quản Trị
Giám Đốc
Phó Giám Đốc
Điểm mạnh và điểm yếu của công ty:
Điểm mạnh:
Công ty với đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, năng động sáng tạo và
nhiệt tình. Công ty xây dựng được mô hình phát triển tiên tiến và hiện đại, phù hợp với
môi trường kinh doanh hiện nay.
Công ty có nguồn tài chính ổn định, bền vững; được đầu tư và hỗ trợ từ tập đoàn
Prime nên hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty luôn ổn định.
Với trang thiết bị và máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất xây dựng dựa trên
công nghệ sản xuất gạch hiện đại nhất thế giới hiện nay của Tây Ban Nha và Italia.
Sản phẩm của công ty đa dạng về mẫu mã và chủng loại, sản phẩm của công ty
có chất lượng tốt được khách hàng tin dùng và ưa thích.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
Phòng tài
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
Công ty là doanh nghiệp sản xuất lớn nhất Việt Nam, lớn thứ năm trên thế giới
và đang cạnh tranh vị trí dẫn đầu về xuất khẩu với Indonesia, trong tương lai gần sẽ
vượt qua Indonesia để giữ vị trí số một tại Đông Nam Á.
Thành lập từ những năm 2001, công ty đã lớn mạnh và trải qua nhiều khó khăn
nên công ty rất có kinh nghiệm kinh doanh.
Điểm yếu:
Nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất còn nhiều vấn đề cần giải quyết, khó khăn
trong khâu tìm nguyên vật liệu phù hợp với sản xuất.
Đội ngũ lao động đều là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo nên chất lượng
lao động, năng suất lao động còn thấp.
Đội ngũ cán bộ nhân viên tuy có trình độ nhưng ít được đào tạo, nâng cao kỹ
năng chuyên môn qua các lớp đào tạo ngắn ngày.
3.2.2. Ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động xuất khẩu của công ty:
3.2.2.1. Ảnh hưởng của môi trường vĩ mô:
Nhân tố kinh tế: Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trong khu vực Đông Á, cán
cân thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc luôn ở mức cao, điều đó ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động xuất khẩu của nước ta, điều đó giúp công ty có nhiều điều kiện để
xuất khẩu cũng như mở rộng thị trường nhiều hơn. Hàn Quốc có cơ sở hạ tầng hiện đại
giúp hoạt động buôn bán thuận lợi. Hàn Quốc là nước có đầu tư nước ngoài lớn ở nước
ta, Hàn Quốc là nước có các doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất điều đó khiến hoạt động
tìm kiếm khách hàng và giao dịch xuất khẩu là tương đối đơn giản đối với công ty.
Ngoài ra, Hàn Quốc còn có hệ thống tiền tệ giao dịch riêng bằng đồng tiền riêng nên
không khó khăn trong việc giao dịch của công ty.
Nhân tố chính trị, pháp luật: Hàn Quốc có hệ thống pháp luật quy định chặt chẽ
nên công tác xuất khẩu phải thực hiện thật chính xác. Vai trò của chính phủ Hàn Quốc
là luôn tạo điều kiện thương mại giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc, vì vậy công ty
có điều kiện cũng như thuận lợi hơn khi được ưu đãi và đối xử tốt hơn qua các hiệp
định, công văn trao đổi giữa hai nước.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
khẩu.
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
3.2.2.3. Đặc điểm thị trường Hàn Quốc:
Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ
10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã
phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một
trong những nước giầu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân
đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000
USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ
cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng
và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc
như là "Huyền thoại sông Hán", đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục. Hàn Quốc cũng
là một nước phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân là 5% mỗi năm - một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm
2007 đã chỉ ra Hàn Quốc sẽ trở thành nước giầu thứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với
GDP bình quân đầu người là 52.000 USD và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các
nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành nước giầu thứ hai trên thế giới, với GDP bình quân
đầu người là 81.000 USD.
Hàn Quốc là một trong những thị trưởng “mở” nhất ở khu vực Đông Á với
những chính sách mậu dịch thông thoáng. Nền kinh tế nước này phục thuộc rất lớn vào
hoạt động XNK, nhất là với các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ…
Trong cơ cấu thương mại của Hàn Quốc, có 4 nhóm hàng XK chủ lực, chiếm tới 65%
tổng kim ngạch XK hàng hóa của cả nước, đó là: ô tô, tàu thuyền, hàng điện tử, hóa
chất. Hàn Quốc cũng phụ thuộc rất lớn vào NK hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế
trong nước, nhất là nhóm hàng nguyên, nhiên liệu.
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (tháng 12/1992), quan hệ hợp tác nhiều mặt
Việt Nam - Hàn Quốc luôn tăng trưởng và mở rộng, trao đổi thương mại 2 chiều tăng
sản phẩm.
3.3. Phân tích thực trạng xuất khẩu của công ty Prime Tiền Phong:
3.3.1. Kết quả điều tra, phỏng vấn:
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Duy Đạt
3.3.1.1. Kết quả phiếu điều tra:
Số lượng phiếu phát: 30 phiếu
Số lượng phiếu thu về: 30 phiếu
Dưới đây là kết quả thu được từ công việc phát phiếu trắc nghiệm cho 30 cán bộ
nhân viên công ty:
Câu hỏi Câu trả lời Kết quả phát phiếu Nhận xét
1. Hoạt động xuất
khẩu của công ty cổ
phần Prime Tiền
Phong
a, Tốt
b, Trung bình
c, Kém
16/30
10/30
4/30
2. Chất lượng sản
phẩm gạch xuất
khẩu của công ty
a, Tốt
b, Trung bình
c, Kém
22/30
6/30
8/30
6. Khó khăn của
công ty
a, Nguồn vốn
b, Nguồn nhân lực
c, Thông tin thị
trường
d, Yếu tố khác
8/30
8/30
14/30
SVTH: Nguyễn Ngọc Lâm Lớp: K44E4
25