Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mặt hàng chè của Công ty XNK Nông sản và thực phẩm chế biến Đà Nẵng - Pdf 60


LỜI MỞ ĐẦU
Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chính sách mở cửa,
đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “ Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn này là hướng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu”. Do đó mà mà xuất khẩu
luôn được xem như một chính sách cơ cấu có tầm chiến lược quan trọng, nhằm
phục vụ, phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần thực hiện thành công quá trình
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
Trước bối cảnh đó, thời gian qua cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp
nhà nước khác, Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản và Thực phẩm chế biến Đà
Nẵng đã có những đóng góp tích cực vào hoạt động xuất khẩu chung của đất nước.
Với hoạt động kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, hiện nay mặt hàng chè
đã, đang dần chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị hàng xuất khẩu của toàn
công ty. Hoạt động xuất khẩu chè giúp công ty thu về một lượng ngoại tệ để tạo
tiền đề cho việc cũng cố nguồn vốn và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất khẩu
của mình, cũng như tạo công ăn việc làm và ổn định đời sống cho đội ngũ cán bộ
nhân viên. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu ấy, hoạt động xuất khẩu chè của
công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần giải quyết. Đó là: Chất lượng hàng xuất
khẩu chưa cao, giá trị hàng chưa phản ánh đúng giá thị trường. Đặc biệt là thị
trường xuất khẩu mặt hàng này chưa ổn định và thường xuyên bị đe doạ bởi các đối
thủ cạnh tranh. Công tác thu mua và tìm kiếm thị trường, bạn hàng, đối tác kinh
doanh còn yếu kém,... Do vậy để công ty có thể phát huy hết tiềm năng, xứng đáng
với vị trí là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn thì việc nhìn nhận lại thực trạng kinh doanh xuất khẩu chè của công ty,
để có những đánh giá sát thực về thành công, cũng như những hạn chế, từ đó đưa ra
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu chè của Công ty là
một yêu cầu thiết yếu hiện nay.
1

Với lí do đó mà sau một thời gian thực tập ở công ty Xuất nhập khẩu nông

Thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng là quá trình trao đổi
hàng hoá giữa các nước thông qua mua bán nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt
của các quốc gia. Xuất khẩu là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các
nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho
đất nước.
Ngày nay, xuất khẩu không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự
phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy phải
coi trọng xuất khẩu cũng như xem thương mại quốc tế như một tiền đề, một nhân tố
phát triển kinh tế trong nước, trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao
động và chuyên môn hoá quốc tế.
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương trong đó hàng hoá và
dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Đây là hoạt động
kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là một hành vi buôn bán
đơn lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và
bên ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển
đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. Mặt khác hoạt
động này dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể lại gây ra thiệt hại lớn vì nó
phải đối đầu với một hệ thông kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước
tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế,
từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết
3

bị cho đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng
hoá vô hình. Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm; có thể diễn ra trên phạm
vi lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia khác nhau.

2.1. Lý thuyết của trường phái trọng thương.
Lý thuyết trọng thương là nền tảng cho các tư duy kinh tế vào khoảng những
năm 1450 đến năm 1650. Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia
được đo bằng bằng lượng tài sản mà quốc gia đó cất giữ và thường được tính bằng
vàng. Theo lý thuyết này chính phủ nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu
thành công họ sẽ nhận được giá trị thặng dư mậu dịch tính theo vàng từ các nước
khác.
Để một nước có thể thặng dư mậu dịch thì:
+ Thặng dư (mậu dịch) thương mại phải được thực hiện bởi các công ty buôn
bán độc quyền của Nhà nước, hoạt động nhập khẩu bị hạn chế và hoạt động xuất
khẩu được trợ cấp.
+ Các cường quốc thực dân luôn cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch với
các thuộc địa của họ. Họ coi đây như là một phương tiện khác để có thu nhập.
Đồng thời để thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền thương mại
thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất. Do đó mà các nước thuộc
địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, với gía trị kém hơn nhưng lại nhập khẩu những
sản phẩm có giá trị cao.
Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân, vì thế
chính sách ngoại thương của trường phái này theo hướng:
5

- Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lượng hàng
hoá xuất khẩu phải nhiều mà còn phải ưu tiên xuất khẩu những hàng hoá có giá trị
cao. Đồng thời đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu
để sản xuất trong nưóc rồi đem xuất khẩu sản phẩm.
- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, giành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu,
hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ.
- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nước mình vì như vậy vừa bán được
hàng và tận dụng được cả những món lợi nhuận khác như: cước vận tải, phí bảo
hiểm...

đó. Lợi thế tự nhiên liên quan đến các điều kiện tự nhiên và khí hậu. Lợi thế do nổ
lực là lợi thế có thể có được do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề.
Ngày nay người ta thường buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã được sản
xuất công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai thác
hoặc sản phẩm thô.Quá trình sản xuất ra loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào
lợi thế do nỗ lực, thường là kỹ thuật chế biến và khả năng sản xuất các loại sản
phẩm khác biệt với những sản phẩm khác.
Lợi thế tuyệt đối so sánh số lượng của một loại sản phẩm được sản xuất ra ở
hai nước khác nhau với cùng một điều kiện sản xuất. Giả sử Việt nam có lợi thế
tuyệt đối so với Hàn Quốc về sản xuất gạo trong khi đó Hàn Quốc có lợi thế tuyệt
đối về sản xuất vải. Đó là lợi thế tuyệt đối tương hỗ, trong trường hợp nếu mỗi
nước chuyên môn hoá loại sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyệt đối thì tổng sản
phẩm của cả hai nước có thể tăng lên.
2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể
tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích. Nói cách khác trong điểm bất lợi
vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu,
những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá sẽ có thể
7

chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác
và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn và bất
lợi. Từ đó tiết kiệm được nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nước. Ta
có thể giải thích rõ điều này thông qua ví dụ sau:
8

Giả sử 2 quốc gia Việt Nam và Mĩ có năng lực sản xuất vải và máy tính như
sau:
Quốc gia

nay hoạt động xuất khẩu được các doanh nghiệp vận dụng dưới nhiều hình thức
khác nhau, thể hiện ở một số hình thức chủ yếu sau:
3.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất
khẩu những sản phẩm đó ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Các bước tiến hành một thương vụ xuất khẩu trực tiếp trong trường hợp
doanh nghiệp không tự sản xuất ra sản phẩm:
+ Kí hợp đồng nội, mua hàng và trả tiền hàng cho các đơn vị sản xuất trong
nước.
+ Kí hợp đồng ngoại, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước ngoài.
Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được của các đơn vị kinh doanh
thường cao hơn các hình thức khác. Với vai trò là người bán hàng trực tiếp, doanh
nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá,
tiếp cận thị trường và nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Tuy vậy hình
thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất,
thu mua hoặc có thể gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro như: không xuất được hàng,
không thu mua được hàng, bị thanh toán chậm hay do thay đổi tỷ giá, lạm phát...
3.2. Xuất khẩu gia công uỷ thác
Theo hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra
nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia công, sau đó thu
hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài. Doanh nghiệp sẽ được hưởng phí
uỷ thác theo thoã thuận với các doanh nghiệp trực tiếp chế biến.
Các bước tiến hành của hình thức này :
+ Ký kết hợp đồng gia công uỷ thác với các đơn vị trong nước.
10

+ Ký kết hợp đồng gia công với nước ngoài và nhập nguyên liệu.
+ Giao nguyên liệu gia công (theo định mức đã thoã thuận gián tiếp giữa
đơn vị chế biến trong nước với bên nước ngoài).

nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng có giá trị xấp xỉ giá trị của lô
hàng đã xuất.
Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ,
chuyển giao nghĩa vụ , mua lại sản phẩm trong đó...
+ Hình thức hàng đổi hàng là việc một bên dùng hàng hoá để đổi lấy một
lượng hàng tương đương và không thanh toán trong hình thức này.
+ Hình thức trao đổi bù trừ là hình thức trong đó hai bên sẽ tiến hành trao đổi
hàng hoá trong một thời gian dài và sẽ dùng một tài khoản chung để theo dõi
nghiệp vụ giao nhận hàng của cả hai bên. Đến cuối kỳ hai bên sẽ thanh toán tiền
chênh lệch theo tính toán. Hàng hoá có thể là một hoặc nhiều mặt hàng khác nhau
trong một thời gian nhất định.
+ Mua đối lưu là hình thức một bên sẽ ký kết hợp đồng mua hàng có thanh
toán và cam kết, sau đó một khoảng thời gian nhất định sẽ bán cho bên kia một
lượng hàng hoá khác và cũng được nhận tiền thanh toán. Giá trị của hai hợp đồng
này không nhất thiết phải bằng nhau, thời gian thông thường từ 1đến 5 năm với
danh mục hàng hoá được mở rộng rãi.
+ Chuyển giao nghĩa vụ là hình thức mua bán đối lưu trong đó một bên có
quyền chuyển nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba.
+ Hình thức mua lại sản phẩm là hình thức một bên tiến hành nhập khẩu máy
móc thiết bị nhưng không thanh toán ngay mà sẽ trả dần bằng sản phẩm do chính
máy móc thiết bị đó sản xuất ra.
3.5. Xuất khẩu theo nghị định thư.
12

Hình thức thường xuất khẩu hàng hoá (hàng trả nợ) được ký theo nghị định
thư giữa hai chính phủ. Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm là khả năng thanh
toán được bảo đảm (do Nhà nước trả cho đơn vị sản xuất).
3.6. Xuất khẩu tại chỗ.
Đây là hình thức mới nhưng nó đã thể hiện rõ khá nhiều ưu điểm và đang
được phổ biến rộng rãi. Đặc điểm của hình thức này là hàng hoá không bắt buộc

sống của nhân dân. Như vậy, kinh doanh xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh
mang lại hiệu quả kinh tế cao, có tác động to lớn trong việc liên kết sản xuất với
tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội.
Đối với nước ta, một nước có nền kinh tế kém phát triển cơ sở vật chất còn
nghèo nàn, lạc hậu và không đồng bộ, các doanh nghiệp trong nước còn kém về
mọi mặt.. Nên việc đẩy mạnh xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc
thúc đẩy đưa nền kinh tế của đất nước phát triển, thể hiện:
* Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, nhờ đó doanh nghiệp có thể
tiếp xúc không chỉ với những khách hàng trong nước mà còn cả khách hàng ở một
số thị trường nước ngoài. Với doanh nghiệp làm tốt công tác thâm nhập thị trường,
vận dụng Marketing quốc tế vào xuất khẩu thì tạo nên cơ hội rất tốt để mở rộng
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó việc mở rộng thị trường, sẽ tạo điều kiện mở rộng khả năng
cung cấp đầu vào, góp phần cho sản xuất và phát triển kinh tế ổn định.
* Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá
- Hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ cho doanh nghiệp, tăng
dự trữ ngoại tệ, qua đó tăng khả năng nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,
phụ liệu... phục vụ cho quá trình kinh doanh xuất khẩu. Xuất khẩu có vai trò tác
động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế nghành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất
lợi thế so sánh tuyệt đối của đất nước tạo cho hàng hoá có tính cạnh tranh cao trên
14

thị trường thế giới. Như vậy có thể giúp các doanh nghiệp xuất khẩu tăng sản xuất
về số lượng, chất lượng, tăng năng suất lao động và tiết kiệm chi phí lao động xã
hội.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta. Để công
nghiệp hoá thực hiện tốt, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc
thiết bị, công nghệ tiên tiến. Chính vì thế nguồn vốn quan trọng để có thể nhập

nước.
Để có thể hoạt động được trên thị trường quốc tế, tất cả các doanh nghiệp
dù có nhiều kinh nghiệm hay mới bắt đầu tham gia vào kinh doanh đều phải tuân
thủ một cách nghiêm túc những công đoạn của một thương vụ làm ăn thì mới có
khả năng tồn tại lâu dài được.
Do đó để việc tổ chức xuất khẩu được tốt và có hiệu quả, các doanh nghệp
phải nắm được những vấn đề cơ bản của hoạt động xuất khẩu.
1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường.
Nghiên cứu thị trường là việc quan trọng trong chu kì sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đối với các đơn vị ngoại thương thì việc nghiên cứu thị trường
quốc tế lại càng có ý nghĩa hơn bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc tiến hành giao
dịch, thâm nhập vào thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp.
+ Nghiên cứu thị trường trước tiên phải cần nhận biết hàng hoá.
Hàng hoá mua bán phải được tìm hiểu kỹ về khía cạnh thương phẩm để hiểu
rõ giá trị, công dụng, nắm bắt được những đặc tính của nó và những yêu cầu của thị
trường về hàng hoá đó như: quy cách phẩm chất bao bì, cách trang trí bên ngoài,
cách lựa chọn, phân loại vv...
Bên cạnh đó cần nắm vững tình hình sản xuất của mặt hàng đó như: thời vụ,
khả năng về nguyên vật liệu, công nhân tay nghề, nguyên lý cấu tạo... Cũng như
phải biết mặt hàng đang lựa chọn đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của nó
trên thị trường. Thông thường tiến trình phát triển việc tiêu thụ một mặt hàng gồm
bốn giai đoạn: thâm nhập, phát triển, bão hoà và thoái trào.
+ Nắm vững thị trường nước ngoài.
17

Đối với những đơn vị kinh doanh đối ngoại, việc nghiên cứu thị trường nước
ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Vì vậy khi nghiên cứu cần chú ý đến những
điều kiện về chính trị – thương mại chung, luật pháp, chính sách buôn bán, điều
kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải , tình hình giá cước...
Ngoài ra đơn vị kinh doanh cần nắm vững những điều có liên quan đến mặt

lực sản xuất này thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
+ Số lượng, chất lượng hàng hoá cung ứng.
+ Giá thành
+ Trình độ công nhân
+ Trang thiết bị, máy móc
Phương pháp lấy đơn vị sản xuất kinh doanh làm cơ sở nghiên cứu giúp nắm
bắt được tình hình cung ứng của từng xí nghiệp, địa phương nhưng lại không nắm
bắt được tình hình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng, nên thông thường các đơn vị kinh
doanh xuất khẩu áp dụng cả hai phương pháp.
Công tác thu mua cũng là một công đoạn quan trọng, do đó cần xây dựng
công tác thu mua hợp lý thông qua các đại lý các chi nhánh của mình. Như vậy sẽ
giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thu mua, nâng cao năng suất và hiệu quả
thu mua.
3. Lựa chọn đối tác kinh doanh.
Để có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài doanh nghiệp cần phải lựa
chọn được đối tác đang hoạt động trên thị trường có thể thực hiện các hoạt động
kinh doanh của mình. Việc lựa chọn này có thể thông qua các bạn hàng đã có quan
hệ kinh doanh với doanh nghiệp trước đó, thông qua tin tức thu thập và điều tra
được, các phòng thương mại và công nghiệp, ngân hàng , các tổ chức tài chính để
họ giúp đỡ nhằm tìm hiểu về năng lực tài chính, uy tín, kinh nghiệm, năng lực pháp
lý ... của đối tác kinh doanh đó. Việc lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho
19

doanh nghiệp những phiền toái, rủi ro, mất mát... thường gặp trong quá trình kinh
doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời có điều kiện để thực hiện thành công các
kế hoạch kinh doanh của mình.
Là những người xuất nhập khẩu trực tiếp, thì với bạn hàng kinh doanh như
vậy, doanh nghiệp không phải chia sẻ lợi nhuận kinh doanh. Tuy nhiên trong
trường hợp hoàn toàn mới thì cách tốt nhất là phải thông qua các đại lý hoặc các
công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm bớt chi phí cho việc thâm nhập vào thị trường

* Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng phải là ngôn ngữ phổ biến và là ngôn ngữ
mà cả hai bên cùng thông thạo.
* Người kí kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền kí kết.
* Hợp đồng phải đề cập rõ vấn đề khiếu nại, trọng tài để giải quyết các vấn
đề tranh chấp phát sinh nếu có. Tránh tình trạng tranh cãi, kiện tụng kéo dài thời
gian và chi phí tốn kém.
5. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi kí kết thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương doanh nghiệp xuất
khẩu với tư cách là một bên kí kết, phải thực hiện hợp đồng đó. Việc này đòi hỏi
phải có sự tuân thủ của luật quốc gia và luật quốc tế, cũng như các tập quán quốc
tế. Đồng thời phải bảo đảm được quyền lợi của quốc gia cũng như quyền lợi và uy
tín của doanh nghiệp. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công
việc để thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp xuất khẩu cần có sự cố gắng tiết kiệm chi
phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch.
Các bước tiến hành để thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
+ Xin giấy phép xuất khẩu.
+ Giục mở LC và kiểm tra LC
+ Chuẩn bị hàng để xuất khẩu
+ Kiểm tra hàng hoá
21

+ Thuê tàu hoặc uỷ thác thuê tàu
+ Mua bảo hiểm
+ Làm thủ tục Hải quan
+ Làm thủ tục thanh toán
+ Khiếu nại trọng tài (nếu có)
5.1. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá.
Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu khác
trong quá trình xuất khẩu hàng hoá. Với xu hướng mở rộng quan hệ hợp tác Quốc
tế, Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh hàng

5.4. Kiểm tra chất lượng hàng hoá xuất khẩu
Đây là công việc cần thiết, nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà nhập khẩu, ngăn
chặn kịp thời các hậu quả xấu, phân định trách nhiệm rõ ràng của các khâu trong
sản xuất tạo nguồn hàng và đảm bảo uy tín cho nhà xuất khẩu.
Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm nghiệm và kiểm
dịch hàng hoá. Việc kiểm tra chất lượng hàng hoá do hai bên tự chịu trách nhiệm
thông qua hợp đồng. Cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra chất lượng hàng hoá
xuất khẩu, có quyền thu hồi giấy phép về tự kiểm tra hàng hoá đó đối với các doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu tự kiểm nghiệm mà không làm đúng chức năng của
mình. Việc kiểm tra có thể tiến hành ở cửa khẩu hoặc tại cơ sở, tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng loại hàng hoá.
5.5. Thuê tàu.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu, chở
hàng dựa vào các căn cứ sau:
+ Những điều khoản hợp đồng mua bán
+ Điều kiện vận tải.
23

Tuỳ theo điều kiện hàng đối lưu, người ta có thể thuê khứ hồi hoặc chuyên chở
liên tục. Nếu hàng hoá không có khốii lượng lớn thì người ta thường đăng kí (lưu
cước) tàu chợ để chở hàng. Thông thường trong nhiều trường hợp doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho một công ty vận
tải thuê tàu như: Letfracht, Transimex...
5.6. Mua bảo hiểm.
Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển thương gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì vậy
trong kinh doanh quốc tế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến
nhất. Căn cứ vào các điều khoản, phương thức vận chuyển mà nhà xuất khẩu hay
nhập khẩu tiến hành mua bảo hiểm hay không. Hợp đồng bảo hiểm có thể chia
thành:
+ Hợp đồng bảo hiểm bao

hợp lệ của hàng hoá, làm thủ tục hải quan và nộp thuế, sau đó sẽ niêm phong kẹp
chì.
+ Thực hiện các quyết định của hải quan: Đây là khâu cuối cùng của thủ tục
hải quan, các doanh nghiệp phải nghiêm túc thực hiện quyết định này.
Sau khi kiểm soát giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ ra những quyết định như:
Cho hàng được phép ngang qua biên giới (thông qua), cho hàng đi qua một cách có
điều kiện (như phải sửa chữa, phải bao bì lại...), cho hàng đi qua sau khi chủ hàng
đã nộp thuế; lưu kho ngoại quan, hàng không được xuất khẩu... Nghĩa vụ của chủ
hàng là phải nghiêm túc thực hiện các quyết định đó. Việc vi phạm các quyết định
đó sẽ thuộc tội hình sự.
Thực hiện các điều kiện giao hàng trong trường hợp hợp đồng đến thời hạn
giao hàng, các nhà xuất khẩu hàng hoá phải làm thủ tục giao hàng theo các bước
sau:
- Căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu để lập bảng đăng kí chuyên chở
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status