Nghệ thuật chơi chữ của người Việt dưới góc nhìn Lôgíc học - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ CÚC
NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ CỦA NGƢỜI VIỆT
DƢỚI GÓC NHÌN LÔGÍC HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội 2014
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tác giả luận văn
Vũ Thị Cúc 4

LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tâm của TS.
Phạm Quỳnh. Vì thế, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc tới Thầy.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng sau đại học, cùng
các thầy cô trong khoa Triết học trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG
Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã luôn
đồng hành cùng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn! Vũ Thị Cúc

5

Tiểu kết chƣơng 2 79
CHƢƠNG 3: KHẢO SÁT NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ CỦA NGƢỜI VIỆT
TỪ GÓC NHÌN LÔGÍC TÌNH THÁI 81
3.1. Tình thái với tư cách là đối tượng nghiên cứu của lôgíc học và ngôn ngữ học
81
3.2. Khái niệm tình thái. Tình thái trong ngôn ngữ, tiếng Việt 87
6

3.2.1. Khái niệm “tình thái” 87
3.2.2. Phân biệt tình thái trong lôgíc và tình thái trong ngôn ngữ 91
3.2.3. Các kiểu loại tình thái trong ngôn ngữ tiếng Việt 93
3.2.4. Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ tiếng Việt 95
3.3. Nghệ thuật chơi chữ của người Việt từ góc nhìn của phán đoán tình thái 96
3.3.1. Phán đoán tính thái 96
3.3.2. Khảo sát nghệ thuật chơi chữ từ góc nhìn của phán đoán tình thái 102
Tiểu kết chƣơng 3 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

7

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giao tiếp thường ngày, dân tộc nào cũng có những thói quen, tập quán
riêng khi sử dụng ngôn ngữ. Khi thói quen và tập quán ấy dần đi vào đời sống văn
hóa tinh thần của mỗi dân tộc và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở
thành truyền thống ngữ văn của dân tộc đó. Dân tộc Việt Nam chúng ta cũng vậy,
cũng có những truyền thống ngữ văn riêng của mình. Và chơi chữ - đối tượng
nghiên cứu của luận văn, gần như được mặc nhiên coi như một truyền thống ngữ
văn của người Việt, bởi sự ra đời, tồn tại lâu đời và phạm vi lưu hành rộng rãi của

cùng lý thú, hấp dẫn nhưng cũng bao hàm cả sự phức tạp trong đó. Để tiếp cận vấn
đề này đòi hỏi người nghiên cứu phải có những hiểu biết đến một chừng mựcnhất
định tri thức của cả hai ngành khoa học: ngôn ngữ học và lôgíc học. Đó là một
mảnh đất màu mỡ cho cả nhà lôgíc học và ngôn ngữ học nghiên cứu. Vì thế, việc
luận văn đi theo hướng nghiên cứu mới này là một điều đáng khích lệ.
Hơn nữa, cho đến nay việc ứng dụng lôgíc học trong nghiên cứu ngôn ngữ
nói chung và nghệ thuật chơi chữ của người Việt nói riêng còn rất hiếm, thậm chí là
không có. Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, những nghiên cứu ứng dụng của lôgíc
học ở Việt Nam chủ yếu dừng lại ở lôgíc hình thức [xem tài liệu 71]. Còn mảng
nghiên cứu lý thuyết cũng như ứng dụng của lôgíc học hiện đại, nhất là lôgíc tình
thái ở nước ta hầu như chưa có nhiều. Có chăng, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc
khái quát một cách chung nhất, tổng quát nhất về lôgíc tình thái trong các bài viết
trên tạp chí hay trong các công trình chung về lôgíc hiện đại. Có thể nói, với sự ra
đời của lôgíc học hiện đại, đặc biệt là lôgíc tình thái, lôgíc học ngày càng cung cấp
cho tư duy những phương tiện sắc bén để nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc hơn.
Bởi trong hoạt động nhận thức, những tri thức của con người vừa có tính tuyệt đối,
vừa có tính tương đối vì nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Do đó, việc sử dụng nghệ thuật chơi chữ của người Việt như là công cụ,
phương tiện để nghiên cứu những vấn đề của lôgíc học truyền thống và lôgíc tình
thái sẽ giúp chúng ta vừa thấy được những nét hay, độc đáo, thú vị của ngôn ngữ
9

tiếng Việt, vừa làm rõ được những vấn đề của lôgíc học. Mà ngôn ngữ tự nhiên, cụ
thể ở đây là tiếng Việt – đơn vị cơ bản của hiện tượng chơi chữ là vô cùng đa dạng,
phong phú, thậm chí rắc rối phức tạp. Cũng như tất cả các ngôn ngữ khác, tiếng
Việt cũng tuân theo những quy luật phổ quát, tất yếu của tư duy nhưng bên cạnh đó
nó cũng có lôgíc riêng của mình – “lôgíc giao tiếp” (theo Hoàng Phê). Vì thế, chúng
ta có thể dễ dàng phân tích những hình thức, kiểu loại chơi chữ bằng các phương
tiện lôgíc học truyền thống, song cũng có những hình thức, kiểu loại chơi chữ mà
chúng ta không thể thực hiện được điều đó, hoặc làm một cách khiên cưỡng để rồi

biên khảo về chơi chữ, do đó sách chưa có tác dụng hướng dẫn mang tính ứng dụng.
Tiếp đó, chơi chữ được giành một mục nhỏ trong các Giáo trình Phong cách
học của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú, Võ Bình và Lê Anh
Hiền. Trong công trình “Phong cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc và
Nguyễn Thái Hòa, chơi chữ được trình bày trong phần “Những biện pháp tu từ ngữ
nghĩa”. Theo các tác giả, chơi chữ là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa
cùng với các biện pháp khác như điệp ngữ, đồng nghĩa kép, liệt kê và tăng cấp,…,
và nêu ra một số hình thức chơi chữ phổ biến như lối nhại, phép đối, nói lái. Còn
trong “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù Đình Tú đã có sự
nghiên cứu nghệ thuật chơi chữ một cách kĩ lưỡng và hệ thống hơn. Những công
trình này được xếp vào loại các giáo trình phong cách học về chơi chữ và cũng có
đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu nghệ thuật chơi chữ của người Việt.
Có thể nói, chơi chữ chỉ được quan tâm thực sự khi chúng trở thành đối
tượng nghiên cứu của giới ngôn ngữ học trong vòng hơn 10 năm trở lại đây với
những công trình của Hồ Lê và Lê Trung Hoa, Nguyễn Đức Dân, đặc biệt là những
đóng góp của tác giả Triều Nguyên với bộ 4 tập “Nghệ thuật chơi chữ trong văn
chương người Việt” vừa mới được xuất bản năm 2008.
Trong cuốn “Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt (thú chơi chữ)” của Hồ Lê và
Lê Trung Hoa, các tác giả đã chọn lọc và sắp xếp có hệ thống các trường hợp chơi
11

chữ đắt giá nhất lấy từ tác phẩm văn học cũng như từ ngôn ngữ hàng ngày. Sách
chia làm 14 kiểu chơi chữ chính, mỗi kiểu lại được xếp thành một chương. Cuốn
sách này do Lê Trung Hoa biên soạn, Hồ Lê bổ sung ngữ liệu, hiệu chính và viết
chương mở đầu. Tuy nhiên, theo tác giả Triều Nguyên sách “vẫn có một số chỗ
chưa thỏa đáng” [40, tr. 8].
Những nghiên cứu về chơi chữ của Nguyễn Đức Dân chủ yếu giới hạn trong
những bài báo như “Về các kiểu nói lái trong tiếng Việt”,… Với những nghiên cứu
này, ông cũng cung cấp thêm cho chúng ta những tư liệu bổ ích về chơi chữ. Tuy
nhiên, vì chỉ giới hạn trong những bài báo nên vấn đề chơi chữ được đặt ra chủ yếu

vọng của người viết là rất lớn, xong với một phạm vi nghiên cứu rộng như vậy –
nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt không kể văn học dân gian hay
bác học, cổ đại hay hiện đại, chữ Hán hay chữ quốc ngữ, tác giả không thể tránh
khỏi sự thiếu sót, qua loa trong phân tích vấn đề.
Trong mảng luận văn, luận án viết về chơi chữ, cho đến nay, theo chúng tôi
được biết có một Luận văn Thạc sỹ Lý luận ngôn ngữ về chơi chữ của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hương với tên đề tài “Chơi chữ trong truyện dân gian xứ Nghệ” và
một Luận án Tiến sỹ khoa học ngữ văn của tác giả Trương Văn Sinh bảo vệ năm
1993, với đề tài là “Nghệ thuật chơi chữ trong tiếng Việt”. Có thể nói tác giả của
Luận án đã có những đóng góp mới mang tính riêng của mình trong việc nghiên cứu
nghệ thuật chơi chữ. Đó là trên cơ sở tìm hiểu những quan niệm về chơi chữ trước
đó, tác giả đưa quan niệm của mình về bản chất của chơi chữ, các bình diện của
chơi chữ, nguyên tắc phân loại các kiểu chơi chữ, từ việc khảo sát các cách phân
loại chơi chữ trước đó, ông đưa ra cách phân loại chơi chữ thành 14 loại… Đặc biệt,
tác giả đã dành một phần lớn trong luận án của mình để phân tích, lý giải hiện tượng
chơi chữ trong tiếng Việt, so sánh đối chiếu hiện tượng chơi chữ trong tiếng Việt
qua các thời kỳ, các phương ngữ, các tác giả tiêu biểu, đặc biệt còn so sánh đối
chiếu chơi chữ trong tiếng Việt với chơi chữ trong một vài ngôn ngữ không cùng
loại hình.
Nhóm thứ hai: Những tài liệu liên quan đến việc ứng dụng lôgíc học trong
nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt.
13

Trong nhóm nghiên cứu này, công lao đầu tiên lại thuộc về các nhà ngôn ngữ
học chứ không phải các nhà lôgíc học. Trước hết phải để kể đến những công trình
nghiên cứu tâm huyết và công phu của GS.TS Nguyễn Đức Dân. Mặc dù không
phải là một nhà nghiên cứu chuyên về lôgíc nhưng tác giả Nguyễn Đức Dân đã có
những công trình khảo cứu khá chi tiết và đầy đủ về lôgíc như cuốn sách “Nhập
môn lôgíc hình thức và lôgíc phi hình thức” do nhà xuất bản Đại học Quốc gia phát
hành năm 2005. Nguyễn Đức Dân nghiên cứu lôgíc học làm cơ sở để ông nghiên

nhận thấy rằng những nghiên cứu đó chủ yếu xuất phát từ góc độ văn chương,
phong cách học, nhất là ngôn ngữ học. Do đó, việc tác giả luận văn nghiên cứu nghệ
thuật chơi chữ của người Việt dưới góc độ lôgíc học vẫn là một đề tài rất mới mà
đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu một cách tổng quan nhất về nghệ thuật chơi chữ của
người Việt và về mối quan hệ giữa ngôn ngữ - tư duy – lôgíc. Trên cơ sở đó, Luận
văn sử dụng nghệ thuật chơi chữ của người Việt như là công cụ, chất liệu để làm rõ
một số vấn đề của lôgíc học truyền thống và phán đoán trong lôgíc tình thái.
Nhiệm vụ:
- Khái quát những nội dung lý luận cơ bản nhất về nghệ thuật chơi chữ của
người Việt. Từ đó rút ra mối liên hệ tất yếu giữa ngôn ngữ - tư duy – lôgíc làm cơ
sở nghiên cứu.
- Khảo sát nghệ thuật chơi chữ của người Việt từ các hình thức cơ bản của tư
duy trong lôgíc học truyền thống.
- Khảo sát nghệ thuật chơi chữ của người Việt từ quan điểm của lôgíc học
tình thái.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghệ thuật chơi chữ của người Việt dưới góc nhìn lôgíc học.
15

Phạm vi: Luận văn sẽ khảo sát đa số các loại hình chơi chữ của người Việt
dưới góc độ lôgíc học. Tuy nhiên, phạm vi liên quan đến lôgíc học rất rộng. Do đó,
luận văn chỉ dừng lại lôgíc học truyền thống do Aristotle sáng lập và một nhánh
phát triển mạnh mẽ nhất của lôgíc học hiện đại là lôgíc tình thái (tập trung vào phán
đoán tình thái, mệnh đề tình thái).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn đã dựa trên cơ sở triết học về mối quan hệ giữa ngôn
ngữ, tư duy và lôgíc, cùng với đó là các công trình nghiên cứu về chơi chữ của các
tác giả đã có trong lịch sử nghiên cứu về nghệ thuật chơi chữ của người Việt.

sáng tạo ra và được nhân dân sử dụng. Vì thế chơi chữ không thuộc về một ai, nó là tài
sản của tất cả mọi người, ai cũng có quyền sử dụng và chiếm lĩnh nó.
Nhưng chơi chữ là gì? Câu hỏi này được đặt ra từ rất lâu và đã có rất nhiều cách
trả lời khác nhau. Bởi khi trả lời câu hỏi này động chạm tới hàng loạt các vấn đề như:
bản chất, đặc điểm, tiêu chí phân loại, các kiểu loại…của chơi chữ. Mỗi người có cách
trả lời riêng, từ đó đưa đến những quan niệm khác nhau về chơi chữ. Ở đây chúng tôi
xin khái quát một số quan niệm phổ biến về chơi chữ như sau:
1.1.1. Quan niệm truyền thống
Một thời gian dài trước đây, theo quan niệm truyền thống chơi chữ được hiểu là
trò chơi có tính chất “tiểu xảo về chữ nghĩa” nhằm mục đích trào lộng. Vì thế, chơi chữ
còn được gọi là lộng ngữ. Quan niệm này có thể tìm thấy trong “Từ điển thuật ngữ văn
học” của tập thể các tác giả PGS.Lê Bá Hán, GS.TS. Trần Đình Sửu và GS.Nguyễn
17

Khắc Phi. Theo họ, “Lộng ngữ (tiếng Anh: pun; tiếng Nga: kalambur; tiếng Pháp:
calembour). Còn gọi là chơi chữ. Một biện pháp tư từ có đặc điểm: người sáng tác sử
dụng chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo sự bất ngờ thú vị
trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người đọc, người nghe” [17, tr.183], hay tại
trang của wikipedia – tiếng Việt cũng định nghĩa “Lộng ngữ hay chơi chữ là một biện
pháp tu từ tập trung khai thác những tương đồng về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn
cảnh nhằm tạo ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị và đôi khi mang tính trào phúng”
[80]. Trong quan niệm này, chúng tôi thấy nổi lên hai điều:
Một là mục đích, chức năng của chơi chữ là vui chơi, giải trí, có tính chất trào lộng.
Hai là về đặc trưng, chơi chữ là một trò chơi giống như mọi trò chơi khác. Có
điều, trò chơi này dùng một phương tiện khác hẳn đó là chữ nghĩa, và được tổ chức
theo một cách riêng, phải đạt đến mức “tinh tế”.
Theo chúng tôi, việc nhấn mạnh vào mục đích, chức năng và đặc trưng của chơi
chữ như vậy là đúng, song chưa đủ. Vì nếu xét về mục đích, đành rằng lúc mới ra đời,
chơi chữ có thể nhằm mục đích trào lộng và hiện nay trong nhiều hiện tượng chơi chữ
mục đích này vẫn còn phát huy tác dụng. Song thực tế cho thấy, hiện nay mục đích vui

ở hai phương tiện : ngữ âm – chữ viết và từ ngữ, thì Cù Đình Tú cho rằng mọi phương
tiện ngôn ngữ (ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp) đều có thể được sử dụng để chơi
chữ. Vì thế, tác giả phân chia các kiểu loại chơi chữ theo ba phương tiện là ngữ âm –
chữ viết, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp. Kéo theo đó, số lượng kiểu loại chơi chữ
trong hệ thống của Cù Đình Tú nhiều loại hơn hẳn so với hệ thống của hai tác giả kia.
Như vậy, rõ ràng quan niệm chơi chữ được trình bày trong các giáo trình phong
cách học có bước tiến xa hơn so với quan niệm “truyền thống”, mặc dù họ vẫn có
19

những điểm chưa nhất trí cần được thảo luận thêm. Hơn nữa, do đặt chơi chữ ở bình
diện phong cách học, coi chơi chữ chỉ là một hiện tượng nhỏ của phong cách học tiếng
Việt, nên các giáo trình phong cách học không có điều kiện đề cập tới một số vấn đề
khác không kém phần quan trọng của chơi chữ như đặc điểm của chơi chữ, mối quan
hệ giữa âm và nghĩa trong các hiện tượng chơi chữ, các bình diện hoạt động của chơi
chữ,…Vì thế, quan niệm về chơi chữ của họ chưa thật đầy đủ và còn hạn chế mà hạn
chế lớn nhất theo chúng tôi là họ đã đồng nhất chơi chữ với một trong những cách tu từ
của tiếng Việt. Bởi lẽ, theo tác giả Triều Nguyên thì giữa chơi chữ và các cách tu từ có
hai điểm khác biệt cơ bản mà không thể đồng nhất chúng với nhau. Đó là: 1 - “chơi
chữ được thể hiện trên tất cả các cấp độ đơn vị tiếng, trong lúc đó các cách tu từ khác
chỉ thể hiện trên một (hoặc một vài) cấp độ, đơn vị nhất định nào đó.(…) Tức phạm vi
thể hiện của chơi chữ rộng hơn”. 2 – “chơi chữ tạo ra một lượng ngữ nghĩa (thông tin)
mới, về bản chất không có quan hệ phù hợp với lượng ngữ nghĩa cơ sở, trong lúc các
cách tu từ khác, ý nghĩa do chúng tạo ra hoặc bằng sự liên tưởng nét tương đồng, liên
tưởng về mối quan hệ có thực giữa hai đối tượng hoặc bằng quan hệ phối hợp, gắn bó
về nghĩa.(…). Và mỗi khi cách tu từ phát huy hiệu quả, tức ý nghĩa tu từ được nhận ra,
thì văn bản (hay phát ngôn) không còn ý nghĩa nào khác, trong lúc chơi chữ luôn có hai
lượng ngữ nghĩa cùng xuất hiện sóng kèm. Như vậy, cách tạo nghĩa của chơi chữ khác
với các dạng tu từ” [44, tr.13 – 14]. Và những điều còn thiếu sót đó sẽ được bổ sung
trong các quan niệm khác về chơi chữ.
1.1.3. Các quan niệm khác về chơi chữ

cơ sở là cơ sở tâm lý và bản chất của chơi chữ. Theo ông “chơi chữ là kết quả của sự
vận dụng ý thức, tư duy, tình cảm…(tức phạm trù tâm lý nói chung) vào những hiện
tượng ngôn ngữ cụ thể. Nếu những hình thức ngôn ngữ cụ thể mang tính dân tộc thì tư
duy, tâm lý mang tính nhân loại. Theo đó, chơi chữ hàm chứa hai tính chất: tính nhân
21

loại và tính dân tộc. Đây là cơ sở để làm cho dân tộc nào cũng có chơi chữ và chơi chữ
trở thành một hiện tượng ngôn ngữ của các dân tộc”[57, tr. 30]. Và “Trong bất kỳ ngôn
ngữ nào trên thế giới cũng có hiện tượng đồng hình – dị nghĩa. Nếu hiện tượng đồng
hình dị nghĩa gây không ít khó khăn trong giao tiếp, thì chính nó ở một khía cạnh khác
lại có tác dụng tích cực nhấtđịnh.Chơi chữ là một biểu hiện cụ thể của khía cạnh này.
Tính nhập nhằng, nước đôi của các tín hiệu đồng âm không gì khác hơn là tính đồng
hình dị nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ trong chơi chữ. Do đó, chúng ta không ngạc
nhiên khi thấy có nhiều kiểu loại chơi chữ và mỗi ngôn ngữ có nhiều kiểu loại chơi chữ
khác nhau, nhưng kiểu chơi chữ đồng hình – dị nghĩa ở mỗi ngôn ngữ nào cũng có và
luôn luôn là kiểu loại phổ biến hơn cả” [58, tr. 30].
Ngoài điều đã được các tác giả trên đề cập tới, Trương Văn Sinh cũng có sự
nghiên cứu riêng của mình. Theo ông, chơi chữ là một hiện tượng ngữ văn, vì thế có
thể xem xét nó từ nhiều hướng hoặc văn học hoặc ngôn ngữ học. Từ hướng nghiên cứu
ngôn ngữ học, chơi chữ có thể được xem xét ở trên ba bình diện là hoạt động giao tiếp,
phong cách học và cấu trúc - chức năng. Trong mỗi bình diện, tác giả lại có sự phân
tích khá đầy đủ về những đặc điểm về mặt ngữ âm, về nghĩa, kết cấu,…Đặc biệt, tác
giả dành một phần lớn của luận án để phân tích, lý giải các vấn đề của hiện tượng chơi
chữ trong tiếng Việt như đặc trưng, bản chất, các yếu tố tham gia chơi chữ trong tiếng
Việt. Có thể nói, với luận án tiến sỹ này, tác giả Trương Văn Sinh đã mang đến cho
chúng ta một cách nhìn bao quát và tương đối đầy đủ về chơi chữ.
Tác giả Triều Nguyên lại có cách nhìn nhận vấn đề theo một hướng khác. Từ
việc xem xét quan niệm về chơi chữ trong các loại từ điển trên và trong các giáo trình
phong cách học, tác giả đưa ra một nhận định riêng của mình về chơi chữ như sau:
“chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt đặc biệt, sao cho ở đó song song tồn tại hai

Thứ ba, chơi chữ là một hiện tượng được thực hiện bằng nhiều phương tiện có
thể là phương tiện được biểu hiện trên văn bản hay ngoài văn bản, dưới nhiều hình
thức, đa dạng về hình thức và kiểu loại.
Thứ tư, chơi chữ là một hiện tượng ngôn ngữ vừa mang tính phổ quát cho mọi
loại ngôn ngữ trên thế giới, vừa mang tính loại hình tùy thuộc vào đặc điểm riêng của
từng ngôn ngữ.
Có thể nói, chính sự đa dạng trong quan niệm về chơi chữ, đưa đến sự đa dạng
trong cách phân chia các hình thức chơi chữ. Tuy nhiên, tất cả đều do bản chất của chơi
chữ tạo ra.
1.2. Bản chất của chơi chữ
1.2.1. Chơi chữ là một hoạt động ngôn ngữ chuyên sử dụng quan hệ liên tưởng
để tạo nên những ý nghĩa bất ngờ
 Đặc điểm liên tưởng
Liên tưởng là một hiện tượng thường gặp trong đời sống hàng ngày của con
người. Từ sự vật, hiện tượng này người ta thường nghĩ ngay đến sự vật, hiện tượng
khác. Giữa các sự vật, hiện tượng nằm trong quan hệ liên tưởng bao giờ cũng có một
mối quan hệ nào đó về hình thức hoặc nội dung. Khi liên tưởng người ta có thể xác lập
theo thế tương đồng (giống nhau), hoặc tương phản (đối lập nhau). Dù liên tưởng theo
hình thức nào thì để có được quan hệ liên tưởng đều phải lấy sự đối chiếu, so sánh làm
cơ sở. Phép so sánh dựa trên mối liên tưởng tương đồng cho chúng ta phép ẩn dụ, thậm
xưng, nhân hóa… trong phong cách học. Phép so sánh dựa trên mối liên tưởng tương
cận cho chúng ta phép hoán dụ. Phép so sánh dựa trên mối liên tưởng tương phản cho
chúng ta phép so sánh đối lập. Quan hệ liên tưởng theo ba phép so sánh như vậy thông
thường là quan hệ hợp lôgíc được mọi người chấp nhận.
 Quan hệ liên tưởng trong chơi chữ
24

Chơi chữ thực chất là một hoạt động ngôn ngữ chuyên sử dụng quan hệ liên
tưởng. Sự liên tưởng đó có thể là về mặt hình thức hoặc nội dung của các yếu tố và đều
có thể xảy ra hai khả năng: hoặc là các yếu tố liên tưởng đều có mặt trên văn bản hoặc

dường như chỉ có ở chơi chữ.
Thứ hai, về nội dung, ở chơi chữ có hiện tượng liên tưởng lôgíc gián tiếp. Từ
đây đưa đến cho chơi chữ một thực tế là có sự tồn tại hai nội dung khác nhau, không có
liên hệ gì với nhau. Chính hiện tượng này tạo nên sự bất ngờ lớn ở người tiếp nhận.
Hai điểm khác biệt trên đây, đặc biệt là điểm thứ hai, làm cơ sở phân biệt chơi
chữ với các hiện tượng ngôn ngữ khác. Từ đây, tác giả Trương Văn Sinh phát biểu
thành hai quy tắc để tạo ra một hiện tượng chơi chữ trong tiếng Việt như sau:
“Quy tắc thứ nhất, muốn có một hiện tượng chơi chữ phải lựa chọn sắp xếp các
yếu tố ngôn ngữ sao cho tạo ra một liên tưởng ngữ nghĩa bất ngờ bằng những phương
tiện liên tưởng lôgíc trực tiếp hoặc gián tiếp.
Quy tắc thứ hai, muốn có hiện tượng chơi chữ, chúng ta phải lựa chọn và sắp
xếp các yếu tố ngôn ngữ sao cho hoặc đồng hình với nhau, hoặc tạo nên sự liên tưởng
để từ đó nảy sinh một nghĩa ẩn tương hợp lôgíc với hình thức văn bản (xét theo tuyến
liên tưởng, ẩn sau văn bản) nhưng lại có quan hệ không tương hợp – phi lôgíc với cũng
chính hình thức văn bản ấy (xét theo tuyến biểu hiện của văn bản)”[57, tr. 48].
Chính sự đặc biệt trong quan hệ liên tưởng này của nghệ thuật chơi chữ mà tác
giả luận văn đã phát hiện ra mối liên hệ ẩn dấu đằng sau sự liên tưởng đó với những
vấn đề của lôgíc học. Việc sử dụng nghệ thuật chơi chữ của người Việt làm chất liệu đã
giúp phân tích, làm rõ không những vấn đề của lôgíc học, mà xa hơn là của mối quan

Trích đoạn Quan hệ giữa âm và nghĩa trong chơi chữ Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Mối quan hệ giữa tư duy và lôgíc học Phán đoán tính thái Khảo sát nghệ thuật chơi chữ từ góc nhìn của phán đoán tình thái
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status