Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên và nghệ thuật quân sự của người Nhật Bản - Pdf 27

1
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học xã hội & Nhân Văn
***** ***** ***** ***** *****
Khoa Đông Phơng học

Báo cáo khoa học
Đề tài
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên
và nghệ thuật quân sự của ngời Nhật Bản

2
Lời mở đầu
Về mục đích nghiên cứuNớc

Nhật Bản thế kỷ XX đợc mọi ngời biết đến nh một
quốc gia phát triển mạnh mẽ, có nền kinh tế khổng lồ đứng hàng thứ hai
trên thế giới. Ngời ta cũng luôn nói rằng một trong những yếu tố quan
trọng nhất làm nên điều thần kỳ ấy chính là con ngời Nhật Bản - những
con ngời cần cù, yêu lao động và đặc biệt luôn mang trong mình tình yêu
quê hơng, đất nớc nồng nàn. Nếu nh trong Cách mạng Minh Trị (1868),
bằng lòng tự hào dân tộc mãnh liệt, ngời Nhật Bản đã quyết tâm canh tân

gặp đợc nhiều thuận lợi nh: do đã đợc học tiếng chuyên ngành Nhật
Bản nên tôi có thể hiểu đợc một số tài liệu đơn giản bằng tiếng bản ngữ,
hoặc thông qua các bạn bè ngời Nhật tôi có thêm đợc những tài liệu
mới... Đặc biệt là nhờ sự hớng dẫn tận tình của một tiến sĩ - ngời có
chuyên môn nghiên cứu nhiều năm trong lĩnh vực lịch sử Nhật Bản. Sau
khi tìm hiểu các tài liệu có đợc, tôi nhận thấy nguồn sử liệu tiếng Anh là
phong phú hơn cả. Các học giả phơng Tây, đặc biệt là hai nớc Anh, Mỹ
đã viết rất nhiều sách nghiên cứu giá trị về lịch sử Nhật Bản. Ngay các
công trình nghiên cứu lớn của Nhật Bản, phần nhiều cũng đợc dịch và
xuất bản bằng tiếng Anh. Thêm vào đó, các độc giả Việt Nam trong đó có
cả tôi, xa nay vẫn chỉ quen tiếp xúc với các tài liệu tiếng Việt và tiếng
Anh. Vì lẽ ấy, trong báo cáo này tôi quyết định ghi chép các tên ngời, địa
danh... bằng phiên âm tiếng Anh, và một số, trong chừng mực có thể tôi
cũng cố gắng sử dụng tên phiên âm Hán-Việt để quen thuộc với ngời Việt
Nam chúng ta.
Với trình độ nhận thức của một sinh viên chắc chắn bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận đợc sự góp ý quý báu
của thầy cô và các bạn độc giả.
4
những nội dung chínhChơng I : Tình hình lục địa á Châu thế kỷ XIII và âm mu bành
trớng của đế quốc Mông Cổ.
I. Đế quốc Mông Cổ con đờng hình thành và phát triển.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
Chơng II : Nhật Bản hai lần kháng chiến chống quân xâm lợc Mông
-Nguyên.
I. Bối cảnh lịch sử Nhật Bản những năm trớc chiến tranh.
II. Hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông-Nguyên.

Khiết Đan, nớc Kim của ngời Nữ Chân. Tuy nhiên trong số đó còn một
dân tộc vẫn đang chìm trong bóng đêm mông muội của xã hội thị tộc, đó
chính là ngời Mông Cổ. Tình hình ấy đợc ngời ta đem so sánh với hình
ảnh một con mãnh hổ đang ngủ quên, và khi nó thức dậy thì cả thế giới bị
một phen kinh hoàng.
Nh chúng ta đã biết ở phơng Đông, vùng Đông Bắc nớc
Trung Quốc là một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện giống ngời hiện
đại Homosaphien. Giống ngời vợn Bắc Kinh đợc tìm thấy ở đây có niên
đại gần 1,5 triệu năm, chắc hẳn các dân tộc Bắc á trong đó có ngời Mông
Cổ chính là hậu duệ của giống ngời này. Dân tộc Mông Cổ xuất hiện từ
bao giờ không có tài liệu nào ghi chép chính xác, nhng ngay từ thời Xuân
Thu Chiến Quốc ngời Trung Hoa đã phải xây Vạn Lý Trờng Thành vô
cùng tốn kém để phòng ngừa những đội kỵ binh của họ tới cớp phá. Cho
6
tới tận thời trung đại, trong khi những dân tộc láng giềng đã bớc vào thời
phong kiến với tổ chức xã hội tiến bộ thì ngời Mông Cổ còn đang sống du
mục dới hình thức bộ lạc hay liên minh các bộ lạc. Đến lúc này, họ vẫn
chỉ là một dân tộc nhỏ bé cha từng đợc lịch sử thế giới nhắc đến. Các bộ
lạc du mục Mông Cổ sinh sống trên vùng thảo nguyên Bắc á rộng mênh
mông và hoang vắng, dân số của họ cho tới giữa thế kỷ XIII vẫn chỉ
khoảng 2,5 triệu ngời. Lãnh thổ bao gồm phía Bắc tới tận hồ Baikal,
thợng lu sông Yenisey và sông Irtysh, phía Nam qua sa mạc Đại Qua
Bích ( Gobi ) tới gần trờng thành. Họ có nhiều bộ tộc nh Naimans
( Hung Nô ) ở phía Tây, Merkits ở phía Bắc ( Thổ hay Đột Quyết )... đông
nhất là tộc Tartar ( ngời Trung Quốc dịch âm là Thát Đát

) sinh
sống bên bờ sông Onon ở phía Đông. Tài sản chủ yếu của họ là các loài đại
gia súc nh bò, dê, cừu, ngựa... thức ăn chính là thịt và sữa ngựa. Ngựa
đóng một vai trò thiết yếu trong đời sống của ngời Mông Cổ, họ có tới

2. Đế quốc Mông Cổ và dã tâm nô dịch các dân tộc khác.
Thế kỷ XII, ngời Mông Cổ vẫn là bộ tộc lệ thuộc vào nớc Kim
(

) của ngời Nữ Chân. Họ học đợc từ ngời Kim nhiều chiến thuật lợi
hại. Trong khi đó, bản thân ngời Kim lại bị Hán hoá nghiêm trọng, họ
chuyển sang sống định c, làm nghề nông và bắt đầu thích đọc sách, làm
văn thơ giống nh ngời Hán. Chẳng những cái hung bạo, thiện chiến đã
mất đi mà họ còn bị nhiễm nhiều thói xấu của chế độ tập quyền chuyên
chế phơng Nam, nội bộ mất đoàn kết, các tập đoàn phong kiến khuynh
loát lẫn nhau làm vơng triều của họ suy yếu trầm trọng. Suốt 120 năm làm
chủ miền Bắc Trung Hoa, ngời Kim liên tục phải chiến tranh, kình địch
với Nam Tống, tuy dành đợc thắng lợi nhng Kim cũng kiệt quệ lắm rồi.
8
Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử, ngời Kim trớc kia lệ thuộc
vào ngời Khiết Đan, vì vua Liêu tàn ác, vô đạo khiến ngời Nữ Chân
không chịu nổi ức hiếp mà vùng lên khởi nghĩa cuối cùng diệt đợc nớc
Liêu. Nay thì ngời Mông Cổ cũng bị nớc Kim đàn áp quá đáng mà qua
thế kỷ XIII đã nổi loạn chống lại Kim. Vua Kim bị thua nhiều trận, phải
nộp vàng bạc, bò, dê, đậu, gạo... để xin nghị hoà, còn phải cắt đất phong
vơng cho Mông Cổ, nhng họ không thèm nhận, tự xng là Đại Mông Cổ
Quốc.
Qua thời Temujin ( Thiết Mộc Chân ), Mông Cổ lại cành mạnh,
đánh đâu thắng đó. Temujin là tộc trởng bộ lạc

Kereyid sinh sống ở lu
vực sông Onon, cha là Yesugey Baartur. Năm 1200, sau một thời gian tập
hợp lực lợng, Temujin quyết định mở cuộc chiến tranh thống nhất các bộ
lạc Mông Cổ. Năm 1206, ông ta đã hàng
phục đợc hầu hết các bộ lạc chủ yếu ở

mạnh vợt trội của dân tộc mình. Cuối cùng, không thể không nhắc đến đó
là tham vọng bá chủ thiên hạ của các nhân Thành Cát T Hãn và những
ngời kế tục ông ta. Họ muốn để lại những chiến công, muốn chiến thắng
mọi sự kháng cự dù là nhỏ nhất chỉ để thoả mãn danh vọng bản thân. Ngay
các chiến binh Mông Cổ cũng say sa trong mỗi chiến thắng, ảo tởng về
một sức mạnh bất khả chiến bại. Những t tởng ấy ngày càng thôi thúc
tớng sỹ Mông Cổ lao vào cuộc chiến tranh xâm lợc phi nghĩa. Ngời
Mông Cổ thì ít, đế quốc của họ thì đã rộng lắm rồi mà các đoàn kỵ binh
vẫn tiếp tục hành quân mãi không thôi. Kết quả là Mông Cổ trở thành đế
chế rộng lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử cổ kim, với cơng thổ trải dài
từ biển Thái Bình Dơng tới tận bờ Địa Trung Hải.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
1. Những cuộc tiến công dới thời Thành Cát T Hãn
10
Năm 1211, Thành Cát T Hãn tiến quân vào miền Bắc Trung
Hoa và chiếm đợc Đại Đô

( ngày nay là thành phố Bắc Kinh-
Trung Quốc

) tức Tây Kinh của nhà Kim, cớp nhiều của cải và tù binh.
Kim lại xin hoà, nộp vàng, lụa, phụ nữ... và dâng một công chúa cho
Thành Cát T Hãn làm thiếp. Mông Cổ chuyển hớng tấn công sang phía
Tây, chiếm vùng Tây Vực của ngời Duy Ngô Nhĩ ( Uygur ) và thẳng tiến
đến những miền đất phơng Tây xa lạ.
Những con đờng Tây tiến của quân Mông Cổ.
Năm 1218, quân Mông Cổ chiếm đợc phần phía Đông lãnh thổ
của ngời Tuốc ( Turk hay đày đủ là Turkestan ). Năm 1219, họ tiến quân
tới vơng quốc Khwarizm ( ngày nay thuộc lãnh thổ các nớc
Turmenistan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và một phần nớc

xa, rực rỡ ở Trung á giờ chỉ còn lại một miền đất hoang vắng. Vua
Khwarizm-Mohammed chạy trốn, rồi chết trong tủi nhục tại một hòn đảo
nhỏ trên biển Caspian ( Lý Hải ). Nghệ thuật, những th viện phong phú,
nền nông nghiệp u việt, cung điện và giáo đờng... tất cả sạch không ,
Mác ( K.Mark ) đã viết nh vậy để nói về cuộc xâm lợc tàn bạo của
ngời Mông Cổ ở Trung á.
Một đạo quân Mông Cổ khác do các tớng Subutai, Jebe chỉ huy
tiến công về hớng Azerbaijan và Georgia. Sau khi chiếm Semakha thuộc
12
Armenia, đội quân viễn chinh vợt dãy Caucasus ( Cáp-ca-dơ ) kéo lên
phơng Bắc, và tràn vào vùng Kharza. Khu vực này và cả miền Đông Hắc
Hải đang ở trong tình trạng chiến loạn liên miên. Đế quốc Đông La Mã
( Byzantium ) đang vào hồi lụi tàn không đủ sức khống chế khu vực, thêm
vào đó các cuộc thập tự chinh ( Crusade ) chống lại ngời Hồi giáo ở Thổ
Nhĩ Kỳ ( Turkish ) và Ai Cập ( Egypt ) của ngời Tây Âu làm chiến tranh
xảy ra liên tục. Các nớc trong khu vực suy yếu trầm trọng, mỗi vùng đất
nhỏ cai quản bởi các lãnh chúa chứ không có một đế chế hùng mạnh thật
sự, chỉ có thế lực của ngời Mameluk ở Ai Cập là có khả năng ngăn chặn
bớc tiến công của quân xâm Mông Cổ. Năm 1223, lần đầu tiên ở chiến
trờng phơng Tây, quân đội Mông Cổ đụng độ với một lực lợng lớn do
các công tớc Kiev và Nga ( Vladimir, Smolen... ) chỉ huy tập hợp lại bởi
lời kêu gọi của thân vơng công quốc Kiev là Mstislav ( Mstislav III of
Kiev ). Liên quân Nga-Kiev gồm 80.000 ngời lập phòng tuyến chặn địch
tại bờ sông Kalka ( nằm trên lãnh thổ nớc Ucraina ngày nay ), nhng
ngay trong lúc nguy cấp đó, các công quốc vẫn bất hoà với nhau và kết
quả họ đã phải chịu thất bại thảm hại. Dòng sông Kalka hung dữ không
ngăn nổi vó ngựa của đội quân xâm lăng thiện chiến, chiến thuyền Nga bị
thiêu trụi, binh sỹ chạy thoát không quá một phần mời, tất cả 6 công tớc
đều bị bắt trong đó có cả Mstislav. Quân Mông Cổ không chỉ dừng lại ở
miền Nam nớc Nga mà tiếp tục tiến quân vào trung lu sông Volga, đây

Nam Tống đánh Kim. Năm 1234, Thái Châu-thành trì cuối cùng của ngời
Kim thất thủ, vua Kim Ai Tông tự sát ở U Lan Hiên, Kim vong. Đã có
nhiều bài học lịch sử cho ngời Trung Hoa về sự tráo trở của kẻ thù, trớc
kia Tống giúp Kim diệt Liêu sau đó bị Kim bội ớc, nhmg họ vẫn không
chịu tỉnh ngộ. Lần này cũng thế, Tống giúp 20.000 quân và 300.000 thạch
lơng cho Mông Cổ vây thành Thái Châu mong đợc trả lại các vùng đất
14
của mình nhng khi diệt Kim xong rồi, quân Thát Đát quay sang diệt
Tống. Năm 1236, Oa Khoát Đài xua quân đánh Tống, cuộc chiến tranh 40
năm xâm lợc Nam Tống chính thức mở màn. Năm 1260, Hốt Tất Liệt-
cháu nội Thành Cát T Hãn lên ngôi đại Hãn tức vua Nguyên Thế Tổ
trong lịch sử Trung Hoa. Năm 1264, ông ta cho rời đô từ Karakorum về
Tây Kinh ( sau đổi tên là Đại Đô
,
ngày nay là thành phố Bắc Kinh ).
Năm 1268, quân Mông Cổ vây thành Tơng Dơng, Tơng Dơng cố thủ
đợc 5 năm thì mất ( 1273 ), thế Tống lúc này rất nguy. Hai năm sau,
Mông Cổ dẫn quân theo đờng Giang Đông tiến xuống miền Nam, thừa
tớng Giả Tự Đạo đốc suất 130.000 binh mã và 2500 chiến thuyền cự địch,
nhng Tống đã suy lắm rồi cha xáp chiến quân đội đã tan vỡ. Quân
Mông Thát khí thế nh cuồng phong chiếm hết thành này sang thành khác,
cuối cùng kinh đô Lâm An bị uy hiếp. Hai dũng tớng Văn Thiên Tờng
và Trơng Thế Kiệt chiêu mộ nghĩa binh chống giặc, nhng vận nhà Tống
đã đến lúc diệt vong không gì có thể thay đổi đợc. Năm 1276, Lâm An
thất thủ, vua Tống là Cung Đế bị bắt. Tể tớng Lục Tú Phu tôn Đoan Tông
rồi Quảng Vơng lên làm vua, chạy ra đảo Nhai Sơn ( Quảng Đông ).
Năm 1279, Văn Thiên Tờng bị bắt, quân Mông Cổ tiến đánh Nhai Sơn,
Lục Tú Phu biết không thể chống cự đợc nữa bèn cõng vua Tống nhảy
xuống biển tự sát. Sử sách chép lại rằng năm ấy có tới 100.000 ngời
Trung Hoa noi gơng đó cũng tự trầm chứ không chịu hàng giặc, đó có lẽ 16Về phía Tây, quân Mông Cổ cũng thu đợc những thắng lợi vang dội trên
khắp các chiến trờng. Một trong những trọng điểm tấn công của họ là
vùng thảo nguyên sông Volga rộng lớn, mà trong đợt viễn chinh năm 1223
Thành Cát T Hãn còn cha chiếm đợc. Mùa xuân năm 1236, một đạo kỵ
binh 150.000 ngời ồ ạt kéo về phía Tây. Chỉ huy đạo quân là thống soái
Batu ( Bạt Đô

) con trởng của Jotri, cháu Thành Cát T Hãn, viên
lão tớng Subutai làm tiên phong. Tháng 12 năm 1237, Batu tấn công công
quốc Ryazan, đại công tớc Yury Igorevic bị giết. Năm sau, quân Mông
Cổ chiếm đợc hai công quốc Vladimir, Muscoy, đại công tớc Yury II bị
hạ sát, các thành phố Moscow ( Mát-xcơ-va ) Suzdal và Kolomna bị thiêu
trụi. Tiếp sau đó một loạt 14 thị trấn Nga nh Rostov, Yaroslav, Dmiterov...
bị quân Tartar ( Tartar hay Tác-ta là tên gọi một bộ lạc Mông Cổ nhng sử
sách phơng Tây dùng từ này để chỉ tất cả những ngời Mông Cổ nói
chung ) giày xéo. Tháng 3 năm 1238, Bạt Đô định tiến quân về hớng
Nogvorod-công quốc mạnh nhất của ngời Nga dới sự trị vì của Đại Thân
Vơng Alexander Nevsky ( 1219-1263 ), nhng họ đã gặp phải sự chiến
đấu ngoan cờng của ngời Nga nên buộc phải rút lui.
Năm 1239, Bạt Đô đổi hớng tấn công xuống phía Tây Nam vào
Crimea và Mordovia. Các thành phố Pereyaslav rồi Chernigov lần lợt bị
tàn phá. Năm 1240, quân Mông Cổ tấn công thành Kiev, cha bao giờ
ngời Châu Âu phải đơng đầu với một đội quân khổng lồ nh thế, thân

Khan Ulus ). Hãn quốc mới đóng đô ở thành Surai bên bờ sông Volga, gần
địa điểm thành phố Volgograd ngày nay. Thực tế Khâm Sát Hãn Quốc này
đã tồn tại độc lập so với Đại Hãn ở Mông Cổ.
18
Năm 1241, Oa Khoát Đài và Sát Hợp Thai cùng qua đời, tình
hình Mông Cổ trở nên phức tạp, ngôi vị Đại Hãn bỏ trống trong 5 năm, vợ
của Oa Khoát Đài là Toregene phải nhiếp chính. Đại hội Kuriltai 1246 cử
Quý Do

( Guyuk ) lên ngôi đại Hãn nhng Bạt Đô ra mặt chống đối
không chịu tuyên thệ trung thành. Năm 1248, trong khi cha kịp đem quân
hỏi tội Bạt Đô, Quý Do đột nhiên lâm trọng bệnh bệnh qua đời. Gia tộc
Jotri và gia tộc Tolui liên kết cử Mông Kha

( Mongke ) con trởng
của Đà Lôi lên làm đại Hãn. Mông Kha đem quân đánh dẹp lãnh địa của
gia tộc Oa Khoát Đài và Sát Hợp Thai-những kẻ đã chống đối mình khiến
cho hai vơng thất này suy yếu, lãnh địa Ulus ở Trung á không còn rộng
lớn nh trớc nữa. Trên vùng lãnh thổ cũ của vơng quốc Khwarizm và
miền cao nguyên Tây Tạng họ thành lập thêm một Hãn quốc nhỏ gọi là Sát
Hợp Đài Hãn Quốc

( Tragatai Khan Ulus ).
Mông Kha đã giành ngôi đại Hãn và cai quản một vùng rộng lớp
nhng ông ta vẫn cha thoả mãn. Các kế hoạch xâm lợc mới lại tiếp tục
đợc vạch ra. Mục tiêu tiếp theo là miền cao nguyên Iran. Năm 1253,
Mông Kha cử em là Húc Liệt Ngột

( Hulegu hay Hulagu ) tấn
công Ba T. Miền đất Iran trớc đây cũng đã bị các tớng Mông Cổ Baiju,

Cho tới giữa thế kỷ XIII, hầu hết lục địa Châu á rộng lớn và một
phần Đông Âu đã trở thành thuộc địa của ngời Mông Cổ, bờ cõi của đế
quốc trải dài từ miền viễn Đông xa xôi tới tận bờ Địa Trung Hải. Lịch sử
21
loài ngời cha từng chứng kiến một đế quốc hùng mạnh và hung bạo đến
thế. Sử sách cũng nói rằng, ngời Mông Cổ là một dân tộc dã man sống
bên cạnh những dân tộc văn minh. Ngời dã man trọng võ bị nên thôn tính
đợc những quốc gia văn minh bằng bạo lực, nhng trong thời bình họ lại
bị thứ văn hoá đặc sắc, sống động của những dân tộc ấy chinh phục lại.
Ngời Mông Cổ xây dựng đế quốc của mình khi trong đầu chẳng có gì
ngoài những chiến thuật quân sự. Họ không biết gì về tổ chức nhà nớc,
nhà Nguyên của Đại Hãn cái gì cũng phải học của Trung Hoa. Từ chế độ
chính trị, tổ chức chính quyền... tới thuế khoá, từ lễ nghi triều đình, tên
hiệu của vua... tới việc cúng tế trời đất, thờ cúng tổ tiên, nhất nhất họ đều
học theo Nho giáo của ngời Trung Hoa. ấy thế nhng Hốt Tất Liệt lại
luôn miệt thị Nho học, xếp nhà nho vào hạng cùng đinh chỉ đứng trên ăn
mày. Xem ra Hốt Tất Liệt quả thật chẳng có chủ trơng gì cả, sự thật trong
mắt ông ta dân Trung Hoa chỉ là một bầy nô lệ để bóc lột chứ thâm tâm
ông ta cũng chẳng muốn cai trị gì họ. ở các Hãn quốc khác, tình trạng có
đỡ bi đát hơn vì quân Mông Cổ chỉ kỳ thị mỗi ngời Trung Hoa mà thôi
nhng cũng không khá hơn là mấy. Ngời Mông Cổ buộc phải sử dụng
ngời nớc ngoài để làm việc trong bộ máy chính quyền, tạo nên tình trạng
cai trị siêu quốc giới, tới Marco Polo một ngời Italia cũng làm quan cho
nhà Nguyên đợc, nh thế có lợi cho sự thống trị của quân Mông Cổ nhng
lại có hại cho dân bị trị tức là cho đế quốc của ngời Thát Đát. Sự lúng
túng trong quản lý nhà nớc, bất công, tàn ác trong cai trị làm nhân dân
thuộc địa nổi dậy khắp nơi, các Hãn quốc lúc nào cũng ở trong tình trạng
hỗn loạn. Ngời Mông Cổ cũng không có văn tự, chiếm đợc Tây Tạng, họ
mợn chữ của ngời Duy Ngô Nhĩ, chiếm đợc Trung Hoa, họ học chữ
Hán, qua Tây á lại dùng chữ ả rập, nhà s Lạt Ma Tây Tạng là Bát Tu Ba

thơng buôn bán qua lại rất tấp nập. Ai cũng thừa nhận trong thời kỳ này
ngời châu Âu đã học đợc nhiều cái lợi từ phơng Đông. Đó là cách chế
tạo hoả dợc, la bàn, là nghề in, cách dùng giấy bạc, những phát minh y
học... trớ trêu thay chính những thứ đó lại giúp đỡ đắc lực cho ngời
phơng Tây trong công cuộc chinh phục phơng Đông thời kỳ thực dân sau
này. Nhng nói đi cũng phải nói lại, ngời Trung Hoa không chỉ truyền bá
văn hoá của mình mà họ cũng thu về đợc nhiều cái lợi nhờ giao lu với
các quốc gia bên ngoài. Họ đã học đợc cách làm đồ sứ Thất Bảo, cách nấu
rợu, cách dệt thảm... từ ngời ả Rập, các môn vẽ bản đồ, thiên văn học...
từ ngời phơng Tây. Thế nên sử gia Pháp Lombard gọi Trung Hoa thời
Nguyên là cái lò văn hóa ( crenset culturel ), còn ngời đồng hơng
của ông Simon Leys thì cho rằng nếu hai triều đại Minh, Thanh tiếp theo
biết noi gơng khai quan mở cửa nh thời nhà Nguyên thì Trung Quốc
hẳn đã tiến bộ chẳng thua gì phơng Tây.
Ngời Mông Cổ vốn rất ít, hầu hết họ lại sống ở miền đồng cỏ
quê hơng, ngay ở lãnh thổ nhà Nguyên, ngời Mông Cổ tính luôn cả các
tộc du mục phơng Bắc nh Khiết Đan, Nữ Chân, Duy Ngô Nhĩ... cũng
cha tới 1 triệu, thực tế họ cũng chẳng cần xâm chiếm đất khác vì nhu cầu
mu sinh. Vậy mà Hốt Tất Liệt vẫn cha thoả mãn, ông ta lại tiếp tục vạch
ra các kế hoạch viễn chinh mới ở những miền rừng núi và hải đảo xa xôi.
Thật trớ trêu cho những tham vọng đó, khi các đế chế hùng mạnh từ Đông
sang Tây, đều lần lợt khuất phục dới vó ngựa xâm lăng của những đoàn
kỵ binh Mông Cổ, thì vài dân tộc nhỏ bé miền viễn Đông nh Đại Việt,
Champa hay đảo quốc Nhật Bản lại hiên ngang chống chọi tới cùng và
chiến thắng lũ cớp nớc hung bạo.
24

Trích đoạn Nghệ thuật quân sự của ng−ời Nhật Bản trong kháng chiến chống quân xâm l−ợc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status