cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên và nghệ thuật quân sự của người Nhật Bản - Pdf 27

Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học x hội & Nhân Vănã
***** ***** ***** ***** *****
Khoa Đông Phơng học
Báo cáo khoa học
Đề tài
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên
và nghệ thuật quân sự của ngời Nhật Bản
1
Lời mở đầu
Về mục đích nghiên cứu
Nớc Nhật Bản thế kỷ XX đợc mọi ngời biết đến nh một quốc gia
phát triển mạnh mẽ, có nền kinh tế khổng lồ đứng hàng thứ hai trên thế giới.
Ngời ta cũng luôn nói rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên
điều thần kỳ ấy chính là con ngời Nhật Bản - những con ngời cần cù, yêu lao
động và đặc biệt luôn mang trong mình tình yêu quê hơng, đất nớc nồng
nàn. Nếu nh trong Cách mạng Minh Trị (1868), bằng lòng tự hào dân tộc
mãnh liệt, ngời Nhật Bản đã quyết tâm canh tân đất nớc mình từ một nớc
nông nghiệp lạc hậu trở thành một quốc gia hùng cờng sánh vai cùng các c-
ờng quốc Tây phơng. Thì trong những năm tháng khổ cực sau đại chiến thế
giới thứ hai, cũng chính bằng tình yêu nớc thiết tha ấy, những con ngời xứ sở
Phù Tang lại làm việc quên mình với niềm tin sẽ khôi phục lại nớc Nhật đã
kiệt quệ sau chiến tranh. Chính những con ngời đó, với truyền thống và nghị
lực phi thờng đã tạo nên một nớc Nhật Bản thần kỳ khiến cả thế giới ngày
nay phải ngỡng mộ.
Tìm hiểu về truyền thống và con ngời Nhật Bản từ lâu đã là một
trong những hớng u tiên của các nhà xã hội học cũng nh các nhà sử học Việt
Nam và thế giới. Cá nhân tôi, với t cách là một sinh viên chuyên ngành Nhật
Bản học, tôi không có tham vọng trình bày tất cả truyền thống lâu đời của
dân tộc Nhật Bản, mà trong bản báo cáo khoa học này tôi chỉ cố gắng nêu ra
một vài suy nghĩ của mình về Cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc

cô và các bạn độc giả.
những nội dung chính
3
Chơng I : Tình hình lục địa á Châu thế kỷ XIII và âm mu bành trớng
của đế quốc Mông Cổ.
I. Đế quốc Mông Cổ con đờng hình thành và phát triển.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
Chơng II : Nhật Bản hai lần kháng chiến chống quân xâm lợc Mông
-Nguyên.
I. Bối cảnh lịch sử Nhật Bản những năm trớc chiến tranh.
II. Hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông-Nguyên.
Chơng III : Nghệ thật quân sự của ngời Nhật Bản trong kháng chiến
chống Mông-Nguyên.
I. Chiến thật quân sự của ngời Mông Cổ.
II. Nghệ thuật quân sự của ngời Nhật Bản.
III. So sánh với các dân tộc khác cùng phải chống quân Mông Cổ
Kết luận
Tài liệu tham khảo.
Chơng I
4
Tình hình lục địa á-âu thế kỷ XIII và âm mu
bành trớng của đế quốc Mông-Nguyên
I. Đế quốc Mông Cổ con đờng hình thành và phát triển.
1. Dân tộc Mông Cổ nguồn gốc và những truyền thống cổ xa.
Vùng thảo nguyên rộng lớn phía Bắc Trung Hoa, từ xa xa đã là
địa bàn c trú của những bộ lạc du mục thuộc các tộc ngời Duy Ngô Nhĩ (
Uygur ), Khiết Đan, Nữ Chân hay Mông Cổ... Tới trớc thế kỷ XIII hầu hết
các bộ tộc này đều đã từ bỏ lối sống du mục, học theo các c dân phơng Nam
sống định c làm nông nghiệp. Và theo đó họ thành lập nên hàng loạt những
nhà nớc mới của dân tộc mình, nh nớc Liêu của ngời Khiết Đan, nớc Kim

cũng vừa nh là bản năng của họ. Cũng chính vì xã hội sống du mục nh vậy
ngời Mông Cổ rất trọng sức mạnh, họ coi việc cỡi ngựa bắn cung là bản
năng tự nhiên giống nh việc đứa trẻ tập đi, nếu không biết những thứ đó thì
không thể sinh tồn đợc.
Ngời Mông Cổ du mục theo hình thức Kuryel, có nghĩa là lều
trại. Theo nhà sử học Ba T Rasid ud-din ( 1247-1318 ), mỗi Kuryel có chừng
1000 lều, có thể đó là một bộ lạc hay một gia tộc. Khi bộ lạc di chuyển tới
đâu, Kuryel đợc đóng tại đó, lều của thủ lĩnh ở chính giữa, xung quanh là lều
của các thành viên trong thị tộc. Cùng với sự tan rã của chế độ công xã thị
tộc và tù binh từ các cuộc chiến tranh để tranh giành đồng cỏ, các gia đình
giàu có mở rộng phạm vi ảnh hởng, tầng lớp nô lệ bắt đầu xuất hiện. Nô lệ
gia đình đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ phơng thức
Kuryel-du mục của công xã sang phơng thức Ayil-du mục của gia đình các
thể. Song, các bộ lạc Mông Cổ không trở thành một xã hội chiếm hữu nô lệ
6
mà tiến thẳng tới hình thái chế độ phong kiến. Điều đó hiển nhiên là do ảnh
hởng từ các dân tộc định c phong kiến láng giềng, đặc biệt là ngời Trung
Hoa. Dới chế độ công xã, bãi chăn nuôi và gia súc đều là tài sản chung của
bộc tộc. Khi chế độ thi tộc tan rã, gia súc biến thành tài sản riêng của gia
đình cá thể, nhng đồng cỏ vẫn là tài sản chung. Dần dần, các bãi chăn thả gia
súc bị tầng lớp quý tộc Mông Cổ ( Noyan ) chiếm dụng làm của riêng,
những ngời tự do Arat bị biến thành tầng lớp lệ thuộc, phải cung cấp củi đốt,
vắt sữa, chăn gia súc cho Noyan... Nh vậy, từ cuối thế kỷ XII mầm mống sở
hữu phong kiến đã dần hình thành trong xã hội Mông Cổ.
2. Đế quốc Mông Cổ và dã tâm nô dịch các dân tộc khác.
Thế kỷ XII, ngời Mông Cổ vẫn là bộ tộc lệ thuộc vào nớc Kim (
) của ngời Nữ Chân. Họ học đợc từ ngời Kim nhiều chiến thuật lợi hại.
Trong khi đó, bản thân ngời Kim lại bị Hán hoá nghiêm trọng, họ chuyển
sang sống định c, làm nghề nông và bắt đầu thích đọc sách, làm văn thơ
giống nh ngời Hán. Chẳng những cái hung bạo, thiện chiến đã mất đi mà họ

đem tất cả tinh lực của bộ tộc Mông Cổ vừa hình thành lao vào cuộc chiến
tranh xâm lợc và nô dịch các dân tộc khác. Từng đoàn kỵ binh Mông Cổ ồ ạt
băng qua những miền thảo nguyên hoang vắng tiến về phơng Tây và phơng
Đông, gieo rắc nỗi kinh hoàng cùng sự chết chóc. Lý do nào dẫn tới tham
vọng điên cuồng muốn trở thành bá chủ thế giới của ngời Mông Cổ cho tới
nay vẫn còn nhiều tranh cãi, nhng chắc chắn trong đó có vài nguyên nhân
sau. Thứ nhất, ngời Mông Cổ là dân tộc du mục, họ rất coi trọng các đồng cỏ
chăn thả gia súc, khi xã hội của mình phát triển mạnh mẽ nhu cầu về đất
8
chăn nuôi tăng cao làm họ nhĩ tới việc phải thôn tính những miền đất mới.
Thứ hai, ngời Mông Cổ bị ảnh hởng t tởng đại Hán từ ngời Trung Quốc họ
sớm cho mình là một dân tộc thợng đẳng và nuôi dã tâm nô dịch các dân tộc
xung quanh, đặc biệt là ngời Hán, ngời Kim - những dân tộc trớc kia từng
thống trị ngời Mông Cổ. Thứ ba, rõ ràng dân Mông Cổ bị hấp dẫn bởi thứ
văn hoá và lối sống mới lạ từ những quốc gia lân cận, lấy ví dụ nh Trung
Hoa chẳng hạn, họ vừa muốn học theo lại vừa muốn đè bẹp các quốc gia ấy
để chứng tỏ sức mạnh vợt trội của dân tộc mình. Cuối cùng, không thể
không nhắc đến đó là tham vọng bá chủ thiên hạ của các nhân Thành Cát T
Hãn và những ngời kế tục ông ta. Họ muốn để lại những chiến công, muốn
chiến thắng mọi sự kháng cự dù là nhỏ nhất chỉ để thoả mãn danh vọng bản
thân. Ngay các chiến binh Mông Cổ cũng say sa trong mỗi chiến thắng, ảo t-
ởng về một sức mạnh bất khả chiến bại. Những t tởng ấy ngày càng thôi thúc
tớng sỹ Mông Cổ lao vào cuộc chiến tranh xâm lợc phi nghĩa. Ngời Mông
Cổ thì ít, đế quốc của họ thì đã rộng lắm rồi mà các đoàn kỵ binh vẫn tiếp
tục hành quân mãi không thôi. Kết quả là Mông Cổ trở thành đế chế rộng
lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử cổ kim, với cơng thổ trải dài từ biển
Thái Bình Dơng tới tận bờ Địa Trung Hải.
II. Lục địa á-Âu dới vó ngựa xâm lăng của đế chế Mông Cổ
1. Những cuộc tiến công dới thời Thành Cát T Hãn
9

này đợc lịch sử Turkmenistan ghi lại nh một trong những trang đen tối nhất
của toàn dân tộc. Ngời ta đã đếm đợc hơn 70 vạn xác chết quanh ngôi
thành. Vơng triều Samanids của nớc Khwarizm-nền văn minh cổ xa, rực rỡ
ở Trung á giờ chỉ còn lại một miền đất hoang vắng. Vua Khwarizm-
Mohammed chạy trốn, rồi chết trong tủi nhục tại một hòn đảo nhỏ trên biển
Caspian ( Lý Hải ). Nghệ thuật, những th viện phong phú, nền nông
nghiệp u việt, cung điện và giáo đờng... tất cả sạch không , Mác ( K.Mark
) đã viết nh vậy để nói về cuộc xâm lợc tàn bạo của ngời Mông Cổ ở Trung
á.
Một đạo quân Mông Cổ khác do các tớng Subutai, Jebe chỉ huy
tiến công về hớng Azerbaijan và Georgia. Sau khi chiếm Semakha thuộc
11
Armenia, đội quân viễn chinh vợt dãy Caucasus ( Cáp-ca-dơ ) kéo lên ph-
ơng Bắc, và tràn vào vùng Kharza. Khu vực này và cả miền Đông Hắc Hải
đang ở trong tình trạng chiến loạn liên miên. Đế quốc Đông La Mã (
Byzantium ) đang vào hồi lụi tàn không đủ sức khống chế khu vực, thêm
vào đó các cuộc thập tự chinh ( Crusade ) chống lại ngời Hồi giáo ở Thổ
Nhĩ Kỳ ( Turkish ) và Ai Cập ( Egypt ) của ngời Tây Âu làm chiến tranh
xảy ra liên tục. Các nớc trong khu vực suy yếu trầm trọng, mỗi vùng đất nhỏ
cai quản bởi các lãnh chúa chứ không có một đế chế hùng mạnh thật sự, chỉ
có thế lực của ngời Mameluk ở Ai Cập là có khả năng ngăn chặn bớc tiến
công của quân xâm Mông Cổ. Năm 1223, lần đầu tiên ở chiến trờng phơng
Tây, quân đội Mông Cổ đụng độ với một lực lợng lớn do các công tớc Kiev
và Nga ( Vladimir, Smolen... ) chỉ huy tập hợp lại bởi lời kêu gọi của thân
vơng công quốc Kiev là Mstislav ( Mstislav III of Kiev ). Liên quân Nga-
Kiev gồm 80.000 ngời lập phòng tuyến chặn địch tại bờ sông Kalka ( nằm
trên lãnh thổ nớc Ucraina ngày nay ), nhng ngay trong lúc nguy cấp đó,
các công quốc vẫn bất hoà với nhau và kết quả họ đã phải chịu thất bại thảm
hại. Dòng sông Kalka hung dữ không ngăn nổi vó ngựa của đội quân xâm
lăng thiện chiến, chiến thuyền Nga bị thiêu trụi, binh sỹ chạy thoát không

thất thủ, vua Kim Ai Tông tự sát ở U Lan Hiên, Kim vong. Đã có nhiều bài
học lịch sử cho ngời Trung Hoa về sự tráo trở của kẻ thù, trớc kia Tống giúp
Kim diệt Liêu sau đó bị Kim bội ớc, nhmg họ vẫn không chịu tỉnh ngộ. Lần
này cũng thế, Tống giúp 20.000 quân và 300.000 thạch lơng cho Mông Cổ
vây thành Thái Châu mong đợc trả lại các vùng đất của mình nhng khi diệt
13
Kim xong rồi, quân Thát Đát quay sang diệt Tống. Năm 1236, Oa Khoát
Đài xua quân đánh Tống, cuộc chiến tranh 40 năm xâm lợc Nam Tống
chính thức mở màn. Năm 1260, Hốt Tất Liệt- cháu nội Thành Cát T Hãn lên
ngôi đại Hãn tức vua Nguyên Thế Tổ trong lịch sử Trung Hoa. Năm 1264,
ông ta cho rời đô từ Karakorum về Tây Kinh ( sau đổi tên là Đại Đô ,
ngày nay là thành phố Bắc Kinh ). Năm 1268, quân Mông Cổ vây thành T-
ơng Dơng, Tơng Dơng cố thủ đợc 5 năm thì mất ( 1273 ), thế Tống lúc này
rất nguy. Hai năm sau, Mông Cổ dẫn quân theo đờng Giang Đông tiến
xuống miền Nam, thừa tớng Giả Tự Đạo đốc suất 130.000 binh mã và 2500
chiến thuyền cự địch, nhng Tống đã suy lắm rồi cha xáp chiến quân đội đã
tan vỡ. Quân Mông Thát khí thế nh cuồng phong chiếm hết thành này sang
thành khác, cuối cùng kinh đô Lâm An bị uy hiếp. Hai dũng tớng Văn
Thiên Tờng và Trơng Thế Kiệt chiêu mộ nghĩa binh chống giặc, nhng vận
nhà Tống đã đến lúc diệt vong không gì có thể thay đổi đợc. Năm 1276,
Lâm An thất thủ, vua Tống là Cung Đế bị bắt. Tể tớng Lục Tú Phu tôn
Đoan Tông rồi Quảng Vơng lên làm vua, chạy ra đảo Nhai Sơn ( Quảng
Đông ). Năm 1279, Văn Thiên Tờng bị bắt, quân Mông Cổ tiến đánh Nhai
Sơn, Lục Tú Phu biết không thể chống cự đợc nữa bèn cõng vua Tống nhảy
xuống biển tự sát. Sử sách chép lại rằng năm ấy có tới 100.000 ngời Trung
Hoa noi gơng đó cũng tự trầm chứ không chịu hàng giặc, đó có lẽ là cuộc tự
sát tập thể lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Tuy vua quan nhà Tống nhu nh-
ợc, yếu hèn lúc nào cũng chỉ muốn cầu hoà, nhng nhân dân lại anh dũng
chiến đấu tới cùng. Suốt từ Đông sang Tây, không có dân tộc nào chống
quân Mông Cổ kiên cờng và quả cảm nh ngời Trung Hoa, vậy nên Tống mất

Ryazan, đại công tớc Yury Igorevic bị giết. Năm sau, quân Mông Cổ chiếm
đợc hai công quốc Vladimir, Muscoy, đại công tớc Yury II bị hạ sát, các
thành phố Moscow ( Mát-xcơ-va ) Suzdal và Kolomna bị thiêu trụi. Tiếp sau
đó một loạt 14 thị trấn Nga nh Rostov, Yaroslav, Dmiterov... bị quân Tartar (
Tartar hay Tác-ta là tên gọi một bộ lạc Mông Cổ nhng sử sách phơng Tây
dùng từ này để chỉ tất cả những ngời Mông Cổ nói chung ) giày xéo. Tháng
3 năm 1238, Bạt Đô định tiến quân về hớng Nogvorod-công quốc mạnh nhất
của ngời Nga dới sự trị vì của Đại Thân Vơng Alexander Nevsky ( 1219-
1263 ), nhng họ đã gặp phải sự chiến đấu ngoan cờng của ngời Nga nên
buộc phải rút lui.
Năm 1239, Bạt Đô đổi hớng tấn công xuống phía Tây Nam vào
Crimea và Mordovia. Các thành phố Pereyaslav rồi Chernigov lần lợt bị tàn
phá. Năm 1240, quân Mông Cổ tấn công thành Kiev, cha bao giờ ngời Châu
Âu phải đơng đầu với một đội quân khổng lồ nh thế, thân vơng Mikhain sợ
hãi bỏ trốn sang Hungary, bá tớc Dmitri giữ thành. Sử sách Nga chép lại
rằng: quân Mông Cổ bao vây dày đặc xung quanh thành Kiev, tiếng các
cỗ xe, tiếng bò rống, ngựa kêu, tiếng những ngời dã man gào thét... lớn tới
mức trong thành ngời ta không nghe đợc gì lời nói chuyện của nhau ngoài
những tiếng ầm ầm khủng khiếp . Ngày 6-12-1240, thành phố Kiev bị
chiếm, vô số binh sỹ và thờng dân bị tàn sát, hàng nghìn ngời bị bắt làm nô
16
lệ. Một cánh quân Mông Cổ khác do Baidar chỉ huy tiến vào Balan, họ đánh
tan 30.000 liên quân Đức-Balan do Đại công tớc Henrich II chỉ huy ở
Wahlsalt-Balan ngày 9-4-1241. Sau đó, cánh quân này hợp với đại quân của
Bạt Đô tiến đánh Hungary. Tháng 7 năm đó thủ đô Budapest của Hungary
thất thủ, bọn xâm lợc tàn bạo chặt đầu phụ nữ và nớng ngời trên lửa để tra
khảo tìm chỗ giấu của cải. Biên niên sử châu Âu ghi lại rằng, sau 1 năm
quân Tartar ở Hungary dân số nớc này chỉ còn lại hơn một nửa, các thành thị
gần nh bị xoá sổ, đây đó chỉ lác đác những làng mạc nghèo khổ, đói rách.
Quân Mông Cổ truy kích ông vua mới 6 tuổi của Hungary là Béla IV (

vạch ra. Mục tiêu tiếp theo là miền cao nguyên Iran. Năm 1253, Mông Kha
cử em là Húc Liệt Ngột ( Hulegu hay Hulagu ) tấn công Ba T. Miền
đất Iran trớc đây cũng đã bị các tớng Mông Cổ Baiju, Eljigidai xâm lợc
nhiều lần từ đợt viễn chinh năm 1231. Ngày 2-1-1256, Hulegu vợt sông
Amu-daria , tấn công Ixmail-miền đất cuối cùng của ngời Ba T còn độc lập.
Sau khi tiêu diệt Ixmail, Hulegu dẫn đại quân tiến về vùng Lỡng Hà lúc đó
thuộc lãnh thổ của Khalipha ( vua Hồi giáo ) al-Mustasim. Nhng bản thân
ông ta và cận thần đều là những kẻ bất tài hèn nhát khiến Hulegu dễ dàng
chiếm đợc kinh đô Baghdad. Ngày 15-2-1258, quân Mông Cổ tiến vào thành
Baghdad nổi tiếng, cớp bóc của cải, đốt phá cung điện, đền thờ và tàn sát c
dân. Hulegu ra lệnh bỏ al-Mustasim vào một cái túi rồi cho ngựa xéo chết.
Thế tấn công vũ bão của Hulegu cuối cùng bị chặn lại ở Syria, thủ lĩnh ngời
18
Mameluk ở Ai Cập là Saif ad-Din Khutuz ( có sách ghi là Qutuz ) đã đánh
bại quân Mông Cổ dới sự chỉ huy của mãnh tớng Kitbukha trong trận Ain-
jalut lịch sử.
Lợc đồ lãnh thổ Y Lợi Hãn Quốc năm 1294 ( Il Khan Empire )
Nếu nh vì không thể thôn tính Đại Việt, Hốt Tất Liệt đành từ bỏ
dã tâm xâm lợc vùng Đông Nam á thì chiến thắng này của ngời Ai Cập
cũng đã làm Hulegu không thể tiếp tục xâm chiếm các quốc gia Hồi giáo ở
Bắc Phi. Hulegu quay về Iran, sát nhập thêm các nớc ở miền Caucasus nh
Azerbaijan, Goregia, Armenia vào bản đồ quốc gia của mình, cùng với miền
Lỡng Hà trù phú hợp thành một Hãn quốc mới có tên là Y Lợi Hãn Quốc
( Il Khan Ulus ). Hãn quốc này cũng đã thoát ly khỏi chính quy
ền trung ơng của Đại Hãn Mông Cổ.
19
4 Hãn quốc và những con đờng xâm lợc của ngời Mông Cổ
Cho tới giữa thế kỷ XIII, hầu hết lục địa Châu á rộng lớn và một
phần Đông Âu đã trở thành thuộc địa của ngời Mông Cổ, bờ cõi của đế quốc
trải dài từ miền viễn Đông xa xôi tới tận bờ Địa Trung Hải. Lịch sử loài ngời

hiểu một kiểu. Hiển nhiên nh vậy thì việc cai trị trở nên vô cùng khó khăn,
quốc gia vô cùng rối loạn. Lại nữa, ngời Mông Cổ, cũng chẳng có tín ngỡng,
họ chẳng biết lấy cái gì để đoàn kết các dân tộc bị mình thống trị. Họ học
theo tất cả tôn giáo của các dân tộc xung quanh, nhiều nhất là theo Phật giáo
Lạt Ma, thứ đến là Hồi giáo, cũng có ngời theo Kitô giáo nhng tuyệt nhiên
họ chừa lại Phật giáo Đại Thừa Trung Hoa, có lẽ thứ đó cao siêu quá đối với
họ. Chính vì thế, cho dù ngời Mông Cổ ở đâu họ cũng bị đồng hoá với c dân
nơi ấy. Ví dụ nh ngời Mông Cổ ở Trung á tất cả đều bị Tuốc hoá và cải theo
đạo Hồi, đến nỗi ngời ta chẳng thể phân biệt nổi đâu là ngời Tuốc, đâu là ng-
ời Tartar. Hốt Tất Liệt cũng nhìn trớc đợc điều này, ông cấm ngời Mông Cổ
không đợc Hán hóa, nhng cấm sao đợc. Thứ văn hoá của những kẻ bị nô
dịch rực rỡ và hấp dẫn quá, dân Mông Cổ làm sao mà không thích cho đợc.
Thế hệ đầu, họ còn giữ đợc bản chất vũ dũng chứ sang những đời sau, sinh
trởng ở Trung Hoa, thích ở lâu đài hơn lều trại, thích ăn nem, ăn chả hơn
uống sữa dê... thành ra họ trở nên yếu đuối nhu nhợc, sợ khó, sợ khổ. Vì vậy
nhà Nguyên làm chủ Trung Hoa cha đầy 90 năm đã bị đuổi về đồng cỏ. Các
Hãn quốc kia cũng chẳng hơn gì, chỉ giữ đợc thuộc địa chừng 100 năm. Chỉ
có Khâm Sát hãn Quốc ở miền thảo nguyên hoang vu mới giữ đợc quốc gia
trong hơn hai thế kỷ rồi mới bị ngời Nga diệt. Nói thế không phải là đế quốc
Mông Cổ chẳng đóng góp đợc gì cho lịch sử nhân loại. Dù là vô tình nhng
chính nhờ Mông Cổ mở rộng cơng thổ mà văn hoá Đông-Tây đợc dịp giao lu
dễ dàng. Cha bao giờ việc đi lại từ Trung Quốc tới châu Âu lại yên ổn nh
vậy, con đờng tơ lụa cũng không còn bị ngời ả Rập chặn cớp nữa, vì thế th-
ơng nhân hai bên thông thơng buôn bán qua lại rất tấp nập. Ai cũng thừa
nhận trong thời kỳ này ngời châu Âu đã học đợc nhiều cái lợi từ phơng
Đông. Đó là cách chế tạo hoả dợc, la bàn, là nghề in, cách dùng giấy bạc,
22
những phát minh y học... trớ trêu thay chính những thứ đó lại giúp đỡ đắc lực
cho ngời phơng Tây trong công cuộc chinh phục phơng Đông thời kỳ thực
dân sau này. Nhng nói đi cũng phải nói lại, ngời Trung Hoa không chỉ

sự tập quyền vững mạnh. Năm 1189, sau nhiều năm dài nội chiến,
Minamoto Yoritomo ( 1147 - 1199 ) bằng chiến thắng trớc phái quân sự đối
nghịch là dòng họ Taira đã lập nên chính quyền Mạc Phủ Kamakura. Đây là
một chính quyền phong kiến thống nhất trên toàn quốc, đặt dới quyền lực
chỉ huy của các thủ lĩnh quân sự mà cơ quan đại diện là Mạc Phủ ( Bakufu )
đóng tại thành phố Kamakura. Lần đầu tiên trong lịch sử nhiều thế kỷ, Nhật
Bản có một nhà nớc pháp quyền mạnh và ổn định nh thế. Điều này là một
khác biệt hoàn toàn so với các thời kỳ trớc nh thời đại Nara hay Heiyan, nơi
hoàng gia và các dòng họ đại quý tộc có vai trò chính yếu đối với nền chính
trị quốc gia. Thời kỳ Kamakura, ngời đại diện cho tầng lớp thống trị không
còn là giới đại quý tộc dân sự mà thay vào đó là các dòng họ quân phiệt với
thủ lĩnh tối cao là Yoritomo của họ Minamoto. Phái quân sự lên nắm chính
quyền, theo đó họ thiết lập một hệ thống quản lý nhà nớc từ trung ơng tới
các địa phơng với hai chức danh chủ yếu là chỉ huy cảnh sát ( Shugo ) lo
việc trị an và quản lý đất đai ( Jitò ) lo việc thu tô thuế. Tháng 8 năm
25

Trích đoạn Hậu quả của cuộc chiến tranh đối với xã hội Nhật Bản. Các lợi thế của quân đội Mông Cổ và chiến thuật quân sự của họ. Những hạn chế của quân Mông Cổ trên chiến trờng Nhật Bản. Thế mạnh, yếu của quân Nhật Bản. Nghệ thuật quân sự của ngời Nhật Bản.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status