Mối liên hệ của các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LIÊN

MỐI LIÊN HỆ CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Mã ngành: 60.22.03.01 Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Học viên Nguyễn Thị Liên LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của tất cả mọi người.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Anh Tuấn –
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu. Thầy đã truyền đạt cho em những kiến thức, phương pháp quan
trọng và hơn thế nữa là một tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học để em có
thể hoàn thành luận văn của mình.
Thứ hai, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tập thể các Thầy, Cô
giáo Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Trong cả chặng đường dài vừa qua, các Thầy Cô luôn luôn
tạo dựng cho chúng em nền tảng tri thức vững chắc và chỗ dựa tinh thần để
ngày hôm nay chúng em có thể chắp bút, nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu lắng nhất tới gia đình, bạn bè và
các anh chị em đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.

tự nhiên 31
1.2.3. Cơ sở thực tiễn cho sự nảy sinh khoa học lý thuyết 35
Tiểu kết chƣơng 1 44
CHƢƠNG 2. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC CUỘC CÁCH
MẠNG TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ CÁCH MẠNG TRONG
KHOA HỌC TỰ NHIÊN 45
2.1. Các dấu mốc lịch sử chủ yếu của các cuộc cách mạng trong sản
xuất vật chất và khoa học tự nhiên 45
2.1.1. Sự hình thành và cuộc cách mạng trong phong cách tư duy khoa
học từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đến thế kỷ XVII 45
2.1.2. Cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ sản xuất vật chất
giữa thế kỷ XVIII 57
2.1.3. Sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên với sản xuất vật chất trong thế
kỷ XVIII - XIX 64
2.2. Sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên
trong giai đoạn hiện nay 70
2.2.1. Cuộc cách mạng trong phong cách tư duy khoa học đầu thế kỷ XX 70
2.2.2. Cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ sản xuất vật chất
thế kỷ XX 76
2.2.3. Sự kết hợp hiện nay giữa khoa học tự nhiên và sản xuất 82
Tiểu kết chƣơng 2 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99



2
hiệu quả trong trường hợp chủ thể quản lý (chủ thể sáng tạo, chủ thể vận
dụng ) có lý luận tốt về mối liên hệ biện chứng giữa các cuộc cách mạng
khoa học và cách mạng kỹ thuật nói chung ở thời đại chúng ta làm điểm tựa.
Các cuộc cách mạng đó thường là các quá trình độc lập tương đối với nhau và
mới hợp nhất thành một quá trình cách mạng khoa học - kỹ thuật duy nhất.
Đến lượt mình, việc xây dựng và nắm bắt lý luận đó lại cần phải dựa
trên một sự hiểu biết tốt về mối liên hệ lẫn nhau của các cuộc cách mạng
trong sự phát triển lịch sử của sản xuất vật chất với khoa học tự nhiên. Chỉ có
trên cơ sở một lý thuyết tổng quát về biện chứng của sản xuất vật chất và
khoa học tự nhiên, được kiểm chứng bằng toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại
thì mới có thể hiểu và xây dựng được một lý thuyết chuyên biệt, cụ thể, đúng
đắn, khách quan về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Từ đó mới có
thể tìm ra những quy luật tất yếu của sự phát triển khoa học - công nghệ vốn
đang là một vấn đề cấp thiết, có tính thời đại đối với mỗi quốc gia nhằm phát
huy tiềm năng đất nước, thúc đẩy kinh tế - xă hội phát triển.
Hơn nữa, vấn đề biện chứng của sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên
là hạt nhân cốt lõi và biến động nhất của một quan niệm triết học chung hơn
về mối quan hệ giữa “thực tiễn” và “nhận thức chân lý”. Khi và chỉ khi hiểu
một cách đúng đắn về vai trò của từng yếu tố và mối quan hệ biện chứng giữa
chúng, để thấy được sự tác động song hành, nhịp nhàng giữa mỗi một bước
tiến trong sản xuất với mỗi một bước chuyển mình trong khoa học thì mỗi
người mới có thể “cải tạo thế giới” theo chiều hướng tích cực.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Mối liên hệ của
các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên” làm đề
tài luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Theo dòng chảy của lịch sử, vấn đề khoa học tự nhiên, cách mạng khoa
học - kỹ thuật, cách mạng khoa học - công nghệ cùng với lịch sử vấn đề sản

một cách thỏa đáng.

4
Chung tay giải quyết vấn đề này, ở Việt Nam cũng có nhiều tác gia tâm
huyết nghiên cứu và khẳng định thành quả của sự nghiên cứu đó bằng những
đứa con tinh thần của mình. Không thể không kể đến nhóm các công trình
mới đây của PGS. TS. Nguyễn Như Hải, (2013), Tương tác khoa học [20]; Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường ấn hành công trình Khoa học và công
nghệ thế giới: Kinh nghiệm và định hướng chiến lược năm 2002 [4]; công
trình chuyên sâu của tập thể tác giả Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải (1998):
Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ [38] hay
cuốn Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật thế kỷ 20 [26] của tác giả Đinh
Ngọc Lân (1976)… Các ấn phẩm khoa học kể trên đã tiếp nối dòng chảy của
lịch sử thế giới, luận bàn về các cuộc cách mạng từ khoa học tự nhiên cho đến
khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sản xuất trên nền tảng của sự tương tác và
thay đổi đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Không có tham vọng giải quyết được mảng đề tài to lớn đó nhưng các
bài báo ngắn, được đăng trên các tạp chí khoa học cũng đã có công giải quyết
từng mắt xích nhỏ trong chuỗi dây chuyền sản xuất, kỹ thuật và khoa học tự
nhiên. Gần gũi nhất với mảng đề tài trên là bài viết của Vũ Văn Viên (1977),
Về sự tiến triển của phong cách tư duy khoa học tự nhiên [52]; tác giả Lê Huy
Thực (2003) với bài viết Về luận điểm “Khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp” [45] hay gián tiếp hơn là công trình Về hậu quả tiêu cực và
những thách thức của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại [49]
được viết bởi Phạm Thị Ngọc Trầm (2000). Mỗi bài viết đều giải quyết được
vấn đề đúng như tên gọi và mang một dấu ấn riêng, những cái riêng đó tạo
thành một nét chung duy nhất là trở thành mô hình lý luận cho tác giả tham
khảo nghiên cứu vấn đề của luận văn.
Nhìn chung, các công trình mang tính chuyên khảo trên đã đi sâu
nghiên cứu, phân tích đến cả những giai đoạn thai nghén và phát triển của các

như là cơ sở của nhận thức, từ đó cho phép hiểu về mối liên hệ không tách rời

6
giữa sự phản ánh tư tưởng (lý luận) về thế giới bên ngoài với sự cải biến nó
một cách vật chất (thực tiễn).
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp luận biện
chứng duy vật với việc vận dụng các phương pháp thống nhất lịch sử - logic;
phân tích - tổng hợp; so sánh; khái quát hóa và đi từ trừu tượng đến cụ thể.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Mối liên hệ chuyển hóa lẫn nhau của các cuộc cách mạng
trong sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên từ thời kỳ đầu tiên của lịch sử
nhân loại cho đến hiện nay.
Phạm vi: lịch sử phát triển của sản xuất vật chất và lịch sử phát triển
khoa học tự nhiên từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ hiện đại (thế kỷ XX).
6. Đóng góp của luận văn
Thực hiện việc cụ thể hóa logic - lịch sử luận điểm chung về thực tiễn
(sản xuất vật chất) như là cơ sở của nhận thức (khoa học tự nhiên) và nói
riêng, vạch ra nội dung của luận điểm đó ứng với cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ hiện đại. Khẳng định tính chân lý của cách hiểu duy vật
về lịch sử về xuất phát điểm của nó: nguyên tắc thực tiễn như là cơ sở của
nhận thức và nguyên tắc tính vượt trội (ưu tiên) của sản xuất vật chất đối
với sản xuất tinh thần.
Khảo sát được tiến trình vận động không ngừng của lịch sử sản xuất vật
chất và lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên như những đối tượng luôn
thâm nhập vào nhau, trở thành cơ sở, bước đệm cho nhau phát triển.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn vạch ra được mối quan hệ biện chứng giữa
các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và trong khoa học tự nhiên. Trước
tiên, nó đã bổ sung và góp phần khẳng định tính đúng đắn của kho tàng lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin dù ở các thời đại lịch sử khác nhau về tính 8
CHƢƠNG 1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
LÝ THUYẾT LIÊN HỆ GIỮA SẢN XUẤT VÀ KHOA HỌC
1.1. Quá trình phát triển sản xuất vật chất
1.1.1. Sản xuất vật chất như là sự cải biến thực tiễn đối với tự nhiên
Hoạt động sản xuất của con người là hình thức tương tác đặc biệt mang
tính cải biến vật chất - trao đổi chất và năng lượng giữa các khách thể vật chất
như xã hội loài người với toàn bộ thế giới bên ngoài, với tự nhiên. Quá trình
trao đổi đó là sự cải biến mang tính xã hội đối với tự nhiên nhằm thỏa mãn
các nhu cầu người được trung giới bởi việc đặt ra các nhiệm vụ có ý thức và
các phương tiện nhân tạo nhằm đạt tới các mục đích sản xuất của nhân loại -
bằng kỹ thuật mà con người đặt giữa mình với giới tự nhiên. Từ 3 điểm cơ
bản đó của sản xuất vật chất phát sinh ra một loạt các điểm đặc biệt của nó
như một hình thức thực tiễn xã hội làm cơ sở của tất cả các hình thức còn lại
của nó. Tuy nhiên, luận văn chỉ khảo sát một số trong các điểm đặc biệt đó –
chỉ những điểm liên quan trực tiếp tới chuỗi “sự cải biến sản xuất - thực tiễn
đối với tự nhiên” – “sự cải biến thực nghiệm - thực tiễn đối với tự nhiên” –
“khoa học tự nhiên”. Nói khác đi, ở đây chỉ phân tích những điểm đặc thù của
thực tiễn sản xuất vốn trực tiếp hay gián tiếp thông qua thực tiễn khoa học -
thực nghiệm quyết định tính chất mối liên hệ biện chứng giữa sản xuất vật
chất và khoa học tự nhiên, sự phát triển của cái sau trên cơ sở sự phát triển
của cái trước.
Tính chất xã hội của sản xuất vật chất con người quy định tính phổ
quát, tính vô hạn của sự cải biến sản xuất - thực tiễn đối với tự nhiên bởi con
người khác với tính chất hạn chế của sự cải biến thế giới bên ngoài bởi con
vật. Theo Ăngghen: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã

hóa” trong tiến trình lịch sử vô hạn của mình. Tính đa năng phổ quát đó của
con người như sinh thể cải biến giới tự nhiên một cách thực tiễn, là cơ sở cho
tính đa năng của con người như sinh thể phản ánh, nhận thức giới tự nhiên,

10
tức là cơ sở của khả năng loài người nhận thức toàn bộ hiện thực tự nhiên
trong toàn bộ tính đa dạng vô hạn các khách thể vật chất và các thuộc tính
khách quan của chúng trong tiến trình lịch sử vô hạn của mình.
Sự phát triển không giới hạn các mục đích cải biến sản xuất - thực tiễn
của con người đối với tự nhiên đòi hỏi sự phát triển ở quy mô tương ứng các
phương tiện nhằm đạt các mục đích đó. Các khí quan tự nhiên của con người
như là phương tiện hiện thực hóa các chức năng sản xuất này hay khác - các
chức năng mà việc thực hiện chúng là thiết yếu để cải biến tự nhiên thành đối
tượng tiêu dùng của con người là quá hạn chế. Tuy nhiên, khi sở hữu các
phương tiện kỹ thuật nhân tạo để thực hiện các chức năng sản xuất, nhân loại
bằng cách đó sở hữu luôn cả các phương tiện sản xuất phổ quát ở cái nghĩa là
chúng có khả năng phát triển không giới hạn phù hợp với sự tăng cường vô
hạn trong lịch sử các mục đích cải biến mang tính sản xuất - xã hội đối với tự
nhiên bởi con người. Sự phát triển không giới hạn đó của kỹ thuật cải biến sản
xuất - thực tiễn đối với tự nhiên trở thành cơ sở cho sự phát triển tương ứng
của kỹ thuật biến đổi thực nghiệm - thực tiễn, tức là của sự biến đổi vật chất
đối với tự nhiên nhằm mục đích nhận thức nó.
Sản xuất vật chất có kỹ thuật chế tạo các sản phẩm tiêu dùng từ các đối
tượng tự nhiên - kỹ thuật sản xuất – tự thân là thiết bị khổng lồ cho các nghiên
cứu khoa học tự nhiên, là phòng thí nghiệm đặc thù của khoa học tự nhiên. Ở
những thời kỳ sơ khởi của lịch sử nhân loại, sản xuất vật chất trong quan hệ
với khoa học tự nhiên thể hiện là phương tiện duy nhất đặt ra cho tự nhiên
(thường không có chủ định) những câu hỏi xác định và cũng là phương tiện
trả lời cho các câu hỏi đó. Ở các nấc thang phát triển cao hơn, sản xuất vật
chất cho phép tạo ra các phương tiện chuyên môn dành cho việc nhận thức

lực của sự phát triển tiếp theo của mình.
Mâu thuẫn giữa hình thức sản xuất đã có và các đối tượng với sự biến
đổi bản chất sản xuất - xã hội của con người vốn do chính sản xuất đó quy

12
định chính là nguồn gốc bên trong thúc đẩy sự phát triển không giới hạn của
sản xuất vật chất. Và nếu sản xuất vật chất luôn phát triển tiếp là nhờ tính tất
yếu khách quan bên trong của nó, thì tính tất yếu khách quan của sự phát triển
của tất cả các hình thức thực tiễn khác, bao gồm cả của sự cải biến thực
nghiệm - thực tiễn đối với tự nhiên, là bên ngoài đối với chúng. Xét đến cùng,
tính quy luật khách quan của sự phát triển mọi hình thức thực tiễn đều bắt
nguồn từ tính quy luật khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất. Ngày
nay cũng như trước kia, động lực đích thực của sự phát triển này, nói cho
cùng, thì đã và vẫn là thực tiễn vật chất, tức đòi hỏi của sản xuất, nhu cầu của
kỹ thuật. Nhờ đó, sản xuất vật chất mới biểu hiện với tư cách là cơ sở khách
quan của lịch sử nhân loại: tính quy luật của sự phát triển lịch sử nhân loại rốt
cuộc do tính quy luật phát triển của sản xuất vật chất quy định.
1.1.2. Logic khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất
Nguồn gốc bên trong của sự phát triển sản xuất vật chất luôn gây “áp
lực” lên trình độ sản xuất đã đạt được, không ngừng sinh ra những nhu cầu
mới cho con người. Khi đã đạt đến mức độ nhất định, “áp lực” đó tất yếu đòi
hỏi phải cải biến hình thức sản xuất vật chất đã có thành hình thức mới, năng
suất và hiệu quả hơn cho việc thỏa mãn các nhu cầu của con người. Và tại đây
người ta có thể đặt câu hỏi mang tính nguyên tắc và rất quan trọng về mặt
thực tiễn là, sự phát triển của sản xuất vật chất từ hình thức này sang hình
thức khác diễn ra theo chiều hướng nào, dưới dạng nào?
Hiện nay, khi khoa học giữ vai trò sản xuất ngày càng tăng, một số nhà
triết học mácxít, trong việc luận giải quan điểm của Mác về khả năng khoa
học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã hiểu vai trò sản xuất của nó
theo kiểu, giờ đây chính nó - khoa học - xác định xu hướng phát triển của sản

cầu riêng của kỹ thuật, của sản xuất vật chất. Và nếu nhất quán trên quan
điểm đó, thì sẽ buộc phải kết luận, sự phát triển của sản xuất vật chất diễn ra
dưới hình thức các phát minh khoa học và sự vật chất hóa chúng thành các

14
kết quả kỹ thuật và sản xuất, là do chính nội dung các phát minh đó quy định
hoàn toàn, do chính các phát minh đó tạo ra. Và như thế thì logic phát triển
của sản xuất vật chất sẽ là như thế nào? Rõ ràng, sẽ chính là logic nội tại của
sự phát triển khoa học.
Liên quan tới việc, trong những điều kiện cách mạng khoa học - kỹ
thuật, sự phát triển của khoa học hiển nhiên là đi trước, theo một ý nghĩa xác
định, so với sự phát triển của kỹ thuật và sản xuất. Từ đây có thể nảy ra vấn
đề: liệu nói chung, vai trò động lực của toàn bộ sự tiến bộ của khoa học, kỹ
thuật và sản xuất có phải đã chuyển sang cho khoa học không? Nhà xã hội
học Mỹ Đa-ni-en Ben mưu toan luận giải cho quan điểm trên bằng cách xây
dựng “một nguyên lý về vai trò trung tâm của nhận thức lý luận”.
Tuy nhiên, hiểu vai trò sản xuất của khoa học theo kiếu biến sản xuất
vật chất thành sản phẩm phát triển theo logic riêng của khoa học là không hẳn
chính xác dưới ánh sáng luận điểm của Mác rằng, sản xuất vật chất phát triển,
cải biến từ hình thức này thành hình thức khác hoàn toàn không phải do khoa
học làm ra các phát minh mà nội dung riêng của chúng xác định sự biến đổi
đó, mà trước hết là do các mâu thuẫn bên trong của chính hình thức sản xuất
vật chất đã chín muồi. Với lý do đó, Mác rất có lý khi cho rằng, sự phát triển
các mâu thuẫn của hình thức sản xuất lịch sử đã biết - là con đường lịch sử
duy nhất làm tan rã nó và hình thành hình thức mới…
Như vậy, theo Mác, sự phát triển của sản xuất vật chất từ một hình thái
này sang hình thái khác là do sự phát triển các mâu thuẫn riêng của sản xuất
vật chất. Chính sự đặc thù của chúng xác định hướng cải biến sản xuất vật
chất từ hình thức đã có sang hình thức mới. Vì thế phải khảo sát sự phát triển
của sản xuất vật chất như quá trình diễn ra dưới hình thức nảy sinh và giải

nghệ, hay phương thức (phương pháp) công nghệ của sản xuất. Luận giải về
điều này, X.V. Sukharđin viết: “Phương pháp công nghệ của sản xuất là tập
hợp của ba yếu tố: 1, Tổ chức sử dụng các phương tiện kỹ thuật; 2, Phương

16
pháp kỹ thuật để gắn bó người sản xuất với các phương tiện kỹ thuật; 3, Phân
công lao động. Cả ba yếu tố này đều gắn bó với nhau” [42, tr. 16].
Như Mác đã chỉ ra trong Tư bản, cũng như trong các bản thảo chuẩn bị
cho tác phẩm đồ sộ đó, hình thái lịch sử mới của sản xuất được xác định bởi
đặc thù của mâu thuẫn giữa các phương thức công nghệ của sản xuất, giữa lực
lượng sản xuất đặc trưng cho phương thức công nghệ đó với các quan hệ sản
xuất đang được hình thành trên cơ sở của chúng. Trong đó vai trò làm cơ sở
cho sự phát triển của sản xuất vật chất, làm điều kiện cho sự hiện thực hóa nó,
theo Mác, là thuộc về lực lượng sản xuất, thuộc phương thức công nghệ của
sản xuất. Các mâu thuẫn giữa các phương thức công nghệ của sản xuất
thường chín muồi chính trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của lực lượng sản
xuất, của phương thức công nghệ sản xuất. Những mâu thuẫn đó nói chung,
bằng đặc thù của mình, quyết định hình thái lịch sử sản xuất mới. Các mâu
thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất một cách trực tiếp chỉ quyết định hình
thức công nghệ của sản xuất, đó là những mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải
nâng cao hiệu quả sự vận hành của chúng với kết cấu hiện tồn của chúng vốn
không đủ khả năng cải tạo căn bản, đảm bảo cho những chức năng sản xuất
mới tất yếu một cách khách quan. Những nhu cầu mới xuất hiện ở con người
đòi hỏi lực lượng sản xuất hiện tồn một sự vận hành hiệu quả hơn, là điều chỉ
có thể đạt được nhờ sự cải biến tương ứng các yếu tố thực hiện chức năng sản
xuất, tức là của kết cấu lực lượng sản xuất.
Mâu thuẫn giữa sự vận hành và kết cấu của lực lượng sản xuất - động
lực bên trong cải biến chúng thành lực lượng sản xuất mới - đã được hình
thành như thế. Quá trình xuất hiện và giải quyết mâu thuẫn đó cũng chính là
biện chứng, là logic khách quan của sự phát triển của sản xuất vật chất. Biện

trưng cho phương thức công nghệ của nền sản xuất đó

. Chẳng hạn, cho đến 
Đây là nói rõ các nhóm chức năng sản xuất, giao thông, công nghệ và năng lượng vốn cùng nhau
tạo thành các chức năng cải biến chất tự nhiên trong tiến hành sản xuất vật chất cũng như các chức

18
tận giữa thế kỷ XVIII, đường hướng tiến bộ kỹ thuật chung vẫn gắn liền với
sự giải quyết mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải tiếp tục nâng cao các năng lực
sản xuất của các dụng cụ thủ công với những hình thức đã được tìm ra của
chúng. Mâu thuẫn đó được khắc phục nhờ sự tạo lập ráo riết các dụng cụ mới
bằng các cách chuyên môn hóa và phân tách chúng. Và sự phát triển như thế
của kỹ thuật dụng cụ vẫn còn lại trong phạm vi đặc thù của phương thức sản
xuất thủ công và chưa dẫn đến việc biến đổi sự phân chia các nhóm chức
năng sản xuất khác nhau giữa các thành tố con người và kỹ thuật của lực
lượng sản xuất. Cho dù kỹ thuật dụng cụ có phát triển thế nào đi chăng nữa thì
con người vẫn buộc phải thực hiện tất cả các nhóm chức năng sản xuất, ngoài
các chức năng vốn gắn với sự tiếp xúc trực tiếp của các công cụ cải biến và
vật chất tự nhiên bị cải biến.
Tuy nhiên, các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất có thể đòi hỏi cả sự
tái phân chia căn bản các nhóm chức năng sản xuất giữa các thành tố người và
kỹ thuật của lực lượng sản xuất. Sự tái phân chia như vậy luôn gắn liền với
việc tạo lập kỹ thuật mới hẳn giành về mình việc thực hiện trên quy mô toàn
bộ nền sản xuất vật chất các nhóm chức năng sản xuất, mà sự hiện thực hóa
nó ở quy mô đó trước đây là đặc quyền tuyệt đối của con người. Việc tạo ra
kỹ thuật như thế, trong khi, dĩ nhiên, là cuộc cách mạng kỹ thuật, đồng thời
cũng là cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất. Điều này

như là cơ sở của tiến bộ xã hội. Sự phân tích logic biện chứng các mâu thuẫn
riêng của lực lượng sản xuất của một hình thái sản xuất vật chất tạo thành bản
chất cô đọng của phương pháp đó. Sự phân tích đó cho phép vạch ra tính quy
luật khách quan của sự xuất hiện bất kỳ cuộc cách mạng kỹ thuật nào. Tuy
nhiên, luận văn chỉ khảo sát lịch sử phát triển của kỹ thuật, của sản xuất vật
chất từ giác độ những mâu thuẫn của lực lượng sản xuất đã khơi mào các cuộc
cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất tương ứng với đặc thù
của chúng.
1.1.3. Tính bị quyết định kép của sự phát triển sản xuất vật chất
Các con đường phát triển sản xuất vật chất, trong khi trước hết là các
con đường tiến bộ kỹ thuật như là phương tiện chủ yếu giải quyết các mâu

Trích đoạn Cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ sản xuất vật chất Sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên với sản xuất vật chất trong thế Sự kết hợp hiện nay giữa khoa học tự nhiên và sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status