Trường Đạ
i
học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp. HCM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Tên đề tà
i
:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN
GV duyệ
t:
PGS. TS. Đoàn Đức H
i
ếu
HVTH
:
Phạm Mạnh Trường
MSHV
:
09085204024
Lớp
:
Cao học chế
t
ạo máy khóa 09 - 11
Tp. HCM,
t
háng 11 năm 2009
Phạm
Mạnh
khoa
học
tự
nhiên
NHẬN
XÉT
CỦA
GIÁO
VIÊN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Tiểu
luận
triết
học
-
Mối
quan
hệ
giữa
triết
học
và
khoa
học
tự
HÌNH
VỚI
KHTN..................................
4
III.
MỐI
QUAN
HỆ
GIỮA
TRIẾT
HỌC
VÀ
KHTN................................................
7
IV.
KẾT
hệ
giữa
triết
học
và
khoa
học
tự
nhiên
I.
LỜI
GIỚI
THIỆU
Trong
những
bão,
cũng
như
những
biến
động
cách
mạng
lớn
lao
làm
thay
đổi
tận
gốc
các
nhà
khoa
học
chuyên
môn
giải
quyết
đúng
đắn
và
kịp
thời
những
yêu
cầu
hiện
được
trên
cơ
sở
nắm
vững
và
vận
dụng
một
cách
đúng
đắn
và
sáng
Lênin.
Do
đó
việc
nghiên
cứu
những
vấn
đề
về
mối
quan
hệ
giữa
triết
triết
học
đối
với
các
khoa
học
cụ
thể
có
ý
nghĩa
quan
trọng.
Vấn
đề
nhiên
(KHTN)
nói
riêng
hay
khoa
học
cụ
thể
nói
chung,
đặc
biệt
là
vấn
vốn
là
những
vấn
đề
hết
sức
quan
trọng
trong
di
sản
triết
học
của
đầu
nghiên
cứu
từ
những
năm
1960
–
1970.
Vào
hè
năm
1965,
nói
chuyện
“Các
đồng
chí
cần
tự
rèn
luyện
và
giúp
người
khác
rèn
luyện
phương
pháp
phương
pháp
làm
việc,
phương
pháp
nghiên
cứu,
phương
pháp
giải
quyết
vấn
đề,
phương
với
Nhà
trường
đồng
chí
nói:
“
Ở
trường
Đại
học,
điều
chủ
yếu
là
có
người
nói
là
sau
8
–
10
năm,
có
thể
là
sau
15
năm
vũ
trang
được
một
phương
pháp
vững
mạnh
thì
anh
dùng
nó suốt
đời
vì
anh
liên
hiệp
học
sinh
đại
học
Việt
Nam).
Như
vậy,
ngay
từ
những
thập
niên
được
tầm
quan
trọng
của
việc
nghiên
cứu
mối
quan
hệ
giữa
Triết
học
Mác
và
dụng
sáng
tạo
những
tư
tưởng
về
các
vấn
đề
này của
các
tác
gia
kinh
điển
các
đồng
chí
lãnh
đạo
đã
dặn
dò.
Triết
học
tác
động
vào
KHTN
trước
đã
biết,
V.I.Lênin
đã
nói
đến
ý
nghĩa
to
lớn
của
phương
pháp
biện
chứng
tính
cách
là
phương
pháp
luận
của
KHTN,
giúp
cho
việc
khái
quát
và
giải
khi
KHTN
đang
ra
sức
tìm
kiếm
một
lý
luận
khái
quát
mới,
những
tư
biệt
quan
trọng.
Con
đường
để
làm
phong
phú
và
phát
triển
chủ
nghĩa
duy
vật
sự
phát
triển
của
khoa
học
cũng
chính
là
ở
đây.
Nếu
chúng
ta
không
hiểu
của
triết
học
cũng
như
về
con
đường
phát
triển
của
nó
một
cách
sáng
hệ
giữa
triết
học
và
các
khoa
học
cụ
thể
nói
chung
hay
KHTN
nói
thập
lại
một
số
kết
quả
của
những
người
đi
trước
với
ý
tưởng
nêu
lớn
–
mối
liên
hệ
giữa
triết
học
và
KHTN.
Phạm
Mạnh
Trường
–
MSHV:
tự
nhiên
II.
PHÉP
BIỆN
CHỨNG
VÀ
PHÉP
SIÊU
HÌNH
VỚI
KHTN
Vào
thế
kỷ
XIX,
hình
là
một
phương
pháp
nhận
thức
khoa
học,
được
đưa
vào
khoa
học
từ
của
khoa
học.
Đó
là
phương
pháp
nhận
thức
áp
dụng
trong
khoa
học
với
tích
chia
ra
từng
loại,
từng
hạng
và
tìm
mối
quan
hệ
giữa
các
đối
đồng
thời
cũng
truyền
lại
cho
chúng
ta
thói
quen
là
xem
xét
các
sự
bên
ngoài mối
liên
hệ
to
lớn
chung,
và
do
đó
không
xem
xét
chúng
trong
vận
hóa
mà
lại
vĩnh
viễn
cố
định; không
xem
xét
chúng
trong
trạng
thái
sống
mà
lại
và
Lốccơ
đem
từ
KHTN
sang
triết
học
thì
nó
đã tạo
ra
một
sự
hạn
chế
Như
vậy,
từ
một
phương
pháp
nhận
thức
khoa
học,
khi
chuyển
sang
triết
học,
đã
động
khoa
học
thời
bấy
giờ,
và
cả
trong
mọi
hoạt
động
khác
của
con
triết
học
trong
việc
xem
xét
trạng
thái
tồn
tại
của
thế
giới
–
quan
Quan
điểm
biện
chứng
và
quan
điểm
siêu
hình
là
hai
cách
xem
xét
trạng
tiếp
cận
thế
giới
khác
nhau:
cách
tiếp
cận
toàn
bộ
và
cách
tiếp
cận
giới,
lịch
sử
triết
học
cũng
đã
biết
đến
nhiều
người
thời
cổ
Hy
Lạp,
Ph.Ăngghen
đã
tóm
tắt
như
sau:
“mọi
vật
đều tồn
tại
nhưng
đồng
thời
lại
không
vật
đều
luôn
luôn
ở
trong
quá
trình
xuất
hiện
và
biến
đi”.
Và
tiếp
điểm
nói
trên
trong
việc
nhận
thức
thế
giới:
“Nhưng
dù
đã
nắm
đúng
tính
chất
điểm
ấy
vẫn
không
đủ
để
giải
thích
những
chi
tiết kêt
thành
toàn
bộ
bức
tranh
ta
cũng
chưa
thể
có
một
quan
niệm
rõ
rệt
về
bức
tranh
chung
được”.
hóa
đó, Arixtốt
đã
đề
ra
nguyên
tắc
đồng
nhất
trừu
tượng,
cơ
sở
của
cách
Tình
hình
đó
nói
rằng,
để nhận
thức
được
đúng
đắn
thế
giới
vốn
diễn
biến
tiếp
cận
nhận
thức
toàn
bộ
-
biện
chứng
và
trừu
tượng
–
siêu
hình.
cách
tiếp
cận
mà
Ph.Ăng
ghen
cũng
đã
nói:
“Nếu
về
chi
tiết,
chủ
nghĩa
siêu
người
Hy
Lạp
lại
đúng
hơn
so với
chủ
nghĩa
siêu
hình”.
Trong
thực
tế
cuộc
sống
sử
dụng
cả
hai
cách
tiếp
cận
trên.
Trong
khoa
học,
tình
hình
cũng
như
vậy,
hơn.
Tư
duy
lý
luận
trong
khoa
học
bao
giờ
cũng
phải
dựa
trên
các
khái
đối
tượng
khách
quan,
nằm
trong
mối
quan
hệ
chằng
chịt
với
những
đối
tượng
khác,
-
Mối
quan
hệ
giữa
triết
học
và
khoa
học
tự
nhiên
ở
trong
trạng
hiện
trên
cơ
sở
của
cách
tiếp
cận
trừu
tượng
–
siêu
hình.
Cách
tiếp
cận
tác
động
qua
lại
không
ảnh
hưởng
lớn
đến
trạng
thái
tồn
tại
của
đối
tượng
một
hòn
bi
thép
khác
đang
đứng
yên,
làm
cho
hòn
này
chuyển
động.
Trong
thực
dạng
và tỏa
nhiệt.
Có
nghĩa
là
năng
lượng
cơ
học
từ
hòn
bi
thứ
nhất
một
phần
cơ
năng
biến
thành
nhiệt
năng.
Tuy
vậy,
những
sự
biến
dạng
và
có
thể
bỏ
qua,
coi
như
không
có
–
trừu
tượng
hóa
–
mà
việc
là
đúng,
vì
khi
áp
dụng
vào
các
tính
toán
kỹ
thuật
vẫn
đem
lại
kết
cách
tiếp
cận
này
đưa
đến
những
khái
niệm
chỉ
phản
ánh
gần
đúng
những
tắc
siêu
hình.
Rõ
ràng
là
cái
khuôn
siêu
hình
này,
tức
là
quan
điểm
của
thế
giới
xét
toàn
bộ,
nhưng
ở
trong
một
phạm
vi
nào
đó
thì
nó
quan
điểm
siêu
hình
vẫn
được
sử
dụng
làm
bậc
thang
của
quá
trình
nhận
thức
thế
giới
trung
bình
(thế
giới
trung
bình
là
thế
giới
nằm
giữa
thế
giới
hiện
tượng
của
thế
giới
trung
bình
mà
con
người
có
thể
trực
quan được
là
rất
không nhiều,
nhưng
để
có
được
các
khái
niệm,
con
người
đã
phải
áp
dụng
cách
siêu
hình
về
trạng
thái thế
giới.
Trong
thí
dụ
nói
ở
đoạn
trên,
khi
trừu
sự
nghiên
cứu
sẽ
đơn
giản
hơn
rất
nhiều,
mặt
khác
sự
trừu
tượng
hóa
vận
chất
và
vận
động
là
tách
rời
nhau.
Trong
giai
đoạn
đầu
của
sự
phát
nghiên
cứu
là
các
sự
vật
của
thế
giới
trung
bình,
đã
tạo
ra
sự
cận
nhận
thức
và
quan
điểm
về
trạng
thái
–
nhờ
đó
đã
thúc
đẩy
sự
hiện
tích
cực
của
chủ
nghĩa
duy
vật
siêu
hình,
trong
giai
đoạn
đầu
của
sự
từ
giai
đoạn
sau
cơ
học,
với
các
đối
tượng
nghiên
cứu
là
hình
thức
vận
cơ
học
(nhiệt,
quang,
điện
từ),
cách
tiếp
cận
nhận
thức
trừu
tượng
–
siêu
hình,
phải
chuyển
mạnh
sang
cách
tiếp
cận
nhận
thức
toàn
bộ
-
biện
chứng
ở
thuẫn
giữa
một
bên
là
đối
tượng
nhận
thức
giai
đoạn
sau
cơ
học,
đòi
siêu
hình
mang
tính
tương
đối
không
đáp
ứng
được)
và
một
bên
là
quan
của
các
nguyên
tắc
siêu
hình).
Về
mâu
thuẫn
này,
Ăngghen
cũng
đã
đề
cập
và
cần
thiết
đến
đâu
đi
nữa
trong
nhiều
lĩnh
vực,
thì
sớm
hay
muộn
thế