Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trong quá trình phát triển ở Vĩnh Phúc hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

PHẠM THỊ THƯƠNG
QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN Ở VĨNH PHÚC HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.1.1. Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 45
2.1.2. Tác động của hội nhập quốc tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh 51
2.2. Thực trạng quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở
Vĩnh Phúc hiện nay 54
2.2.1. Một số thành tựu trong quá trình kết hợp tăng trưởng kinh tế với
thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc hiện nay 54
2.2.2. Một số hạn chế trong quá trình kết hợp tăng trưởng kinh tế với
thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc hiện nay 64
2.3. Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế
và thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới 75
2.3.1. Một số phương hướng chủ yếu nhằm kết hợp tăng trưởng kinh
tế với chính sách xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa 75
2.3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện
chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới 77
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH: An sinh xã hội
CT: Chương trình
GDP: Gross demestic product
(Tổng sản phẩm quốc nội)
GNP: Gross national product
(Tổng sản phẩm quốc dân)
HDI: Human Deverlopman Index
(Chỉ số phát triển con người)
KHXH: Khoa học xã hội
UNDP: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

để cải thiện chất lượng cuộc sống, do đó chất lượng cuộc sống là mục tiêu của
phát triển và là thành quả của sự tăng trưởng kinh tế, ngược lại chất lượng
2

cuộc sống lại có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo đảm tăng trưởng
kinh tế cao hơn.
Hiện nay, bài toán lớn đặt ra cho con đường phát triển ở nước ta là các
vấn đề xã hội phức tạp như việc làm và thu nhập, giáo dục và y tế, vấn đề môi
trường cơ hội phát triển cho mọi đối tượng trong xã hội được giải quyết như
thế nào để thể hiện được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ngay
trong quá trình phát triển?
Là một tỉnh, Vĩnh Phúc cũng lớn mạnh cùng với sự phát triển kinh tế-
xã hội chung của cả nước. Năm 1997, khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (tách
khỏi tỉnh Phú Thọ do sát nhập năm 1968), với những chiến lược và bước đi
thích hợp đã thực hiện tốt việc khơi dậy các tiềm năng, phát huy nội lực và
ngoại lực cho đầu tư phát triển. Do vậy trong những năm qua Vĩnh Phúc đã
thu được nhiều kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân cao gấp 2
lần so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước, năm 1997 thu ngân sách đạt
gần 100 tỷ đồng thì đến năm 2006 đã đạt trên 4000 tỷ đồng và 14.505 tỷ đồng
vào năm 2010. Từ một tỉnh thuần nông nay đã chuyển dịch sang cơ cấu công
nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, các thành phần kinh tế đều phát triển mạnh
mẽ đóng vai trò quyết định tạo nên sự tăng trưởng nhanh trong những năm
gần đây. Có được kết quả ấn tượng đó, chắc chắn là do việc hoạch định và
thực hiện chính sách kinh tế và chính sách xã hội của tỉnh đã đạt được sự hợp
lý nhất định trong điều kiện lịch sử - cụ thể nên những năm qua đã khai thác
được tiềm năng kinh tế và sức mạnh nguồn lực con người ở đây.
Tuy nhiên, sức phát triển kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
của tỉnh. Cùng với đó, kết quả của các chính sách xã hội của tỉnh chưa tương
xứng với những thành tựu trong kinh tế mà tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được. Một
số vấn đề về mặt xã hội vẫn đang đặt ra một cách bức xúc, như: thiếu việc

tác giả đã chỉ ra ba nhóm giải pháp cho tăng trưởng kinh tế ở nước ta đó là:
giải pháp về lao động, vốn và giải pháp về công nghệ.
4

Về chính sách xã hội và quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách
xã hội. Có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Trong công
trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Chính sách xã hội - một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, PGS Bùi Đình Thanh có đưa ra khái niệm cụ thể về chính
sách xã hội. Một số tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và các vấn đề xã hội như: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề việc
làm ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Hường (Tạp chí Lý luận chính trị, số 7,
2008), “Tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hoá, xã hội theo định
hướng xã hội chủ nghĩa” của PGS, TS Vũ Văn Phúc (Tạp chí Lý luận chính
trị, số 1, 2005), “Xoá đói giảm nghèo: nhìn từ góc độ kết hợp tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Cộng sản - chuyên
đề cơ sở, số 5, tháng 5-2007) của TS Nguyễn Thị Nga, “Phối hợp chặt chẽ
giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội ở nước ta” của PGS, TS Nguyễn
Viết Vượng (Tạp chí Cộng sản, số 5, tháng 3- 2006). Trong cuốn sách “Tăng
trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ
1991 đến nay - Kinh nghiệm của các nước ASEAN” (Nxb Lao động, Hà Nội
2001), TS. Lê Đăng Doanh và TS. Nguyễn Minh Trí đã phân tích sự tác động
của các chính sách xã hội với tăng trưởng kinh tế, cụ thể như: chính sách bảo
hiểm xã hội; chính sách bảo hiểm y tế; chính sách việc làm, thất nghiệp và dôi
dư; chính sách bảo trợ xã hội; chính sách bồi thường lao động và bảo hiểm tai
nạn lao động. Các chính sách này có sự tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, tạo cho mọi người có sự
bình đẳng nhất định trong việc tiếp cận với các cơ hội xã hội. Tác giả Nguyễn
Thị Thanh trong luận án tiến sĩ “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển các quan hệ xã hội lành mạnh ở nước ta hiện nay” có chỉ ra quan hệ biện
chứng giữa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và phát

chính sách xã hội ở Hà Tây hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ triết học, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2007).
6

Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với các vấn đề xã hội, chính sách xã hội từ đó đi đến việc giải quyết mâu
thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; trong đó một số tác giả
chỉ ra vai trò của chính sách xã hội để đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên để phân tích rõ thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm
kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội trên cơ sở nghiên cứu
tình hình cụ thể ở tỉnh Vĩnh Phúc và với nhãn quan mới về mối quan hệ giữa
chúng trong điều kiện chuyển sang mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâu
thì hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
chính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh
Phúc thời gian vừa qua, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu
nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc
trong thời gian tới để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình
phát triển.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục đích trên đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Hệ thống hóa quan niệm tăng trưởng kinh tế, chính sách xã hội và mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc thực hiện mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc thời gian vừa qua.
- Xác định phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc trong


- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh
việc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tốt chính sách xã hội theo yêu cầu
của một xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Vĩnh Phúc trong
thời gian tới.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy một số
chuyên đề như: chính sách xã hội dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, đường lối
chính sách kinh tế, tăng trưởng và phát triển kinh tế (tiếp cận ở góc độ kinh tế
chính trị học) ở các trường chuyên nghiệp.
- Có thể nói, trong một chừng mực nào đó đề tài nêu được một cách
khái quát và tổng thể mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính
sách xã hội ở Vĩnh Phúc nên đề tài có thể được dùng làm tư liệu tham khảo
cho việc hoạch định và thực thi chính sách xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết:
Chƣơng 1: Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và chính
sách xã hội.
Chƣơng 2: Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội ở
Vĩnh Phúc - thực trạng, phương hướng và giải pháp.
9

Chƣơng 1
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1. Quan niệm về tăng trƣởng kinh tế, chính sách xã hội
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế và các yếu tố cơ bản quyết định sự tăng
trưởng kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế

D. Ricardo (1772-1823), kế thừa Adam Smít nhưng ông mở rộng sang vấn
đề phân phối, thu nhập, chú trọng đến phân tích tỷ lệ phân phối của các loại thu
nhập và ảnh hưởng đến tích luỹ tư bản từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Ngày nay, theo nghĩa chung nhất tăng trưởng là khái niệm dùng để chỉ
quá trình vận động, tăng thêm, mở rộng về quy mô của sự vật hay một hệ
thống các sự vật. Trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày chúng ta có thể dùng
khái niệm "tăng”, “sự gia tăng”, "sự tăng lên”… để chỉ sự tăng trưởng.
Trong kinh tế học, thuật ngữ tăng trưởng kinh tế được sử dụng rộng rãi
và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: là “sự gia tăng sản lượng thực tế của một
nền kinh tế theo thời gian”; là “mức tăng quy mô và tốc độ sản phẩm”; là “sự
tăng thêm về quy mô sản xuất mà từ đó tăng lượng sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Nếu tổng sản
phẩm hàng hoá của một quốc gia tăng lên, nó được coi là tăng trưởng kinh tế”
[48, tr.12]; là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian
nhất định (thường là một năm) [51, tr.14].
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu
tổng hợp chủ yếu là: tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product -
GDP)
1
và tổng sản phẩm quốc dân (Gross national product - GNP)
2
.

1
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị của toàn bộ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trong
một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, không phân biệt nguồn
vốn và chủ sở hữu trong nước hay nước ngoài.
2
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ được tạo ra bởi các công dân của một quốc
gia, bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành ở trong nước hay ở nước ngoài, và được tính trong

Chúng ta có thể tham khảo quan niệm của Kuznets (người đã được
nhận giải thưởng Nobel về khoa học kinh tế năm 1971 do có công đem đến 12

một sự hiểu biết mới và sâu sắc hơn đối với cấu trúc kinh tế-xã hội và với quá
trình biến đổi, phát triển). Ông chỉ ra sáu đặc trưng của tăng trưởng kinh tế
mà ngày nay vẫn có giá trị ứng dụng thực tiễn.
Thứ nhất là GDP bình quân đầu người
Thứ hai là tốc độ tăng năng suất lao động, tức là sản phẩm đầu ra trên
mỗi đơn vị của tất cả đầu vào (ngày nay thường được tính bằng hệ số vốn đầu
tư ICOR). Vận dụng vào Việt Nam có thể nói, mặc dù những năm qua tỉ lệ
tăng trưởng GDP cao nhưng ICOR của Việt Nam thuộc loại thấp. Do đó, để
phát triển bền vững, cần phải tập trung tăng năng suất lao động và tăng hiệu
suất vốn đầu tư.
Thứ ba là tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế (từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp, đồng thời chuyển dịch cả quy mô các đơn vị sản xuất trong khu
vực nhà nước và tư nhân theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại).
Thứ tư là tốc độ đô thị hóa với sự hình thành và phát triển những giai
tầng xã hội như doanh nhân, kinh doanh, dịch vụ, trí thức và những nghề
nghiệp đặc trưng cho thành thị.
Thứ năm là tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông và truyền
thông.
Thứ sáu là tốc độ hội nhập kinh tế thế giới.
Căn cứ vào 6 đặc trưng của sự tăng trưởng kinh tế hiện đại, có thể nói
Việt Nam đã bước vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Một số lĩnh vực tốc độ tăng trưởng thể hiện rất rõ như tăng trưởng GDP và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Nhưng Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn
trong các lĩnh vực như năng suất lao động, giáo dục - đào tạo, cơ sở hạ tầng

thác có hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn lực để thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.1.2. Các yếu tố cơ bản quyết định sự tăng trưởng kinh tế
14

Trước đây, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tiết kiệm, tích luỹ tư bản và
vốn hiện vật, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công
nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hoá Nghĩa là, có nhiều nhân tố
khác nhau tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế. Trong đó có các nhân tố
cơ bản sau:
Nguồn lực vốn. Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, tác động
trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên
quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích
luỹ lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và
các trang bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất. Ở các
nước đang phát triển, sự đóng góp của vốn vào tăng trưởng kinh tế thường
chiếm tỷ trọng cao nhất. Tuy nhiên, chính ở những nước này do nền kinh tế
còn nghèo, thu nhập thấp nên mức độ tích luỹ vốn còn nhiều hạn chế. Do vậy,
nhiều quốc gia đang phát triển đã mạnh dạn vay vốn nước ngoài, có chính
sách thu hút vốn đầu tư để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo khó, lạc hậu. Tác động của nguồn vốn
đối với tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng giảm dần và được thay thế bằng
các yếu tố khác.
Nguồn lực lao động. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế từ trước đến nay
đều khẳng định vai trò quyết định của lao động, đây là một yếu tố đầu vào của
sản xuất. Các lý thuyết đề cập đến yếu tố lao động theo hai nội dung: Khả
năng của người lao động và khả năng sử dụng hợp lý nguồn lao động. Một
trong những chiều cạnh của chính sách xã hội chính là tác động nhằm khai
thác, nâng cao khả năng của người lao động.
Nguồn lực lao động được đề cập ở đây bao gồm cả số lượng và chất

có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng kinh tế trong điều kiện của nền kinh tế
tri thức. Yếu tố này bao gồm những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng như về
quản lý. Hiểu một cách đầy đủ, đó là thành tựu tri thức cao, là sự nắm bắt kiến
16

thức khoa học, nghiên cứu, thử nghiệm về cải tiến sản phảm, quy trình công
nghệ hay thiết bị kỹ thuật, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử
nghiệm vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao trình độ phát triển kinh tế xã
hội.
Như vậy, nếu xem xét các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất ta thấy:
Một mặt, đất đai, tài nguyên thiên nhiên đang có xu hướng giảm dần sự khai
thác trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, những yếu tài nguyên và
đất đai lại đang được sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất.
Như vậy, đất đai và tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố ngưng đọng
mà luôn biến đổi trong sự vận động biện chứng của tăng trưởng kinh tế. Vốn
lao động được coi là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng, còn khoa
học-công nghệ được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu. Những yếu tố
này có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Vì vậy, để có tăng trưởng đạt
hiệu quả cao, cần phải có sự lựa chọn, kết hợp hợp lý những yếu tố này.
Ngoài những yếu tố trên, vấn đề tăng trưởng kinh tế có diễn ra thuận lợi
hay không còn phụ thuộc vào yếu tố mang tính chất phi kinh tế. Đó là thể chế
chính trị và đường lối phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm dân tộc, đặc điểm
tôn giáo, đặc điểm văn hoá.
Thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế-xã hội tác động đến
tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc
gia trong mọi thời đại đều chịu tác động của các quy luật khách quan, trong
đó rõ nét nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng. Theo đó sự tác động của ý chí, thể chế thông qua hệ
thống pháp luật do thượng tầng kiến trúc sinh ra, sẽ tác động thúc đẩy hoặc

đề rộng lớn. Nó bao hàm nhiều mặt: Tri thức phổ thông, khoa học, nghệ thuật,
lối sống, tập quán, cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp được hình thành và
tích luỹ suốt quá trình sinh tồn và phát triển Có thể nói trình độ văn hoá của
18

dân tộc là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng đội ngũ người lao động, đặc
biệt trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Do vậy việc giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc kết hợp hiện đại hoá truyền thống đó là nhân tố có ý nghĩa
quyết định sự tăng trưởng kinh tế.
Với mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâu thì các yếu tố: nguồn lực
lao động (vốn con người), nguồn lực khoa học, công nghệ và thể chế chính
trị, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của chính thể là những yếu tố quan
trọng nhất.
Tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt - là yếu tố cơ bản, nền
tảng cho sự phát triển xã hội, tuy nhiên mục đích cuối cùng của tăng trưởng
kinh tế là vì con người, vì sự phát triển của xã hội và tiến bộ xã hội. Vì vậy,
trong xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì tăng trưởng kinh tế
phải đi đôi với việc thực hiện chính sách xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã
hội, đem lại sự công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.2. Chính sách xã hội và cơ sở hình thành chính sách xã hội
1.1.2.1. Khái niệm chính sách xã hội
Ở nước ta thuật ngữ “chính sách xã hội” xuất hiện khá muộn, Đảng ta
sử dụng lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) và
hiện nay nó đã trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi.
Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiến
khác nhau về khái niệm chính sách xã hội.
PGS.TS Bùi Đình Thanh (Viện KHXH) cho rằng “Chính sách xã hội là
cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những
biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm
của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị,

Từ các quan niệm về chính sách xã hội đã trình bày ở trên, có thể hiểu
chính sách xã hội ở những nội dung cơ bản sau:
20

Theo nghĩa rộng, chính sách xã hội là bộ phận cấu thành trong chính
sách chung của chính đảng hay một chính quyền nhà nước hướng tới lĩnh vực
xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, nhu
cầu lợi ích của các nhóm người, các tầng lớp xã hội, các giai cấp, các dân tộc,
các tôn giáo trong xã hội, đồng thời góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội
phù hợp với bản chất giai cấp và những mục tiêu của chính đảng hay chính
quyền đó.
Theo nghĩa hẹp, chính sách xã hội được hiểu là những chính sách nhằm
tác động vào đối tượng cụ thể. Đối tượng của chính sách xã hội là những người
tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người về hưu, gia đình liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng những người chịu thiệt
thòi trong xã hội về mặt hình thể, điều kiện sống, về cơ hội. Vậy nên, chính
sách xã hội rất cụ thể, tác động trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người.
Phạm vi chính sách xã hội phải giải quyết bao hàm mọi mặt của cuộc
sống con người như: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá,
quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ tôn giáo, quan hệ
nghề nghiệp
Đặc trưng cơ bản của chính sách xã hội là lấy việc phục vụ con người
làm mục đích cao nhất và nhằm phát huy nhân tố con người một cách toàn
diện. Vì vậy chính sách xã hội là một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy
con người hoạt động.
Chính sách xã hội luôn gắn với chế độ chính trị - xã hội, thể hiện bản
chất của chế độ xã hội. Về thực chất, mỗi chính sách xã hội đều là sản phẩm
của đường lối chính trị trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Đảng cầm
quyền, Nhà nước, với tư cách là chủ thể ban hành chính sách bao giờ cũng
hướng những nội dung chính sách vào việc thực hiện và bảo vệ lợi ích của

sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng phải thể hiện đầy đủ, nổi bật
những bản chất đó. Mục tiêu cuối cùng của chính sách xã hội trong điều kiện

Trích đoạn Một số thành tựu trong quá trình kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúchiện nay Một số phương hướng chủ yếu nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội ở Vĩnh Phúc trong thời gian tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status