ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************ NGUYỄN THỊ LAN
T¦ T¦ëNG CñA KHæNG Tö VÒ “NH¢N”
QUA MèI QUAN HÖ GI÷A “¸I NH¢N” Vµ “TRI NH¢N”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT
HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHỔNG TỬ - NGƯỜI SÁNG LẬP TRƯỜNG PHÁI NHO GIA
10
1.1. Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc và sự ra đời
của Nho gia
1.2. Khổng Tử - người thầy đầu tiên của thiên hạ
1.3. Những nội dung cơ bản trong học thuyết của Khổng Tử
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước, Đảng ta đã chỉ ra
sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới tư duy, “Kế thừa các giá trị truyền thống của
dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài người…Xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [24, tr. 213]
1
. Song, theo
Ph.Ăngghen: “Muốn hoàn thiện tư duy lý luận thì cho tới nay, không có một
cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [50, tr. 487].
Trong lịch sử tư tưởng dân tộc, Nho giáo cùng với các học thuyết khác
trong tam giáo là Phật giáo và đạo Lão-Trang đã có đóng góp không nhỏ vào
sự hình thành các giá trị truyền thống. Đó là một thực tế lịch sử cho tới nay
không thể phủ nhận. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tư tưởng của tam
giáo nói chung và của Nho giáo nói riêng, từ đó làm rõ những giá trị tích cực
cũng như chỉ ra những hạn chế của nó là hết sức cần thiết.
Như chúng ta đều biết, Nho giáo là một học thuyết chính trị – xã hội
với nội dung tư tưởng căn bản về thiết lập và duy trì trật tự xã hội. Để thực
hiện mục đích này, các nhà sáng lập Nho giáo đã chủ trương dùng đạo đức để
cảm hoá con người, giáo dục con người thành những chủ thể có đủ phẩm cách
đạo đức của xã hội lý tưởng. Vì vậy, nội dung tư tưởng của Nho gia tập trung
vào việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xã hội loạn lạc và con
đường thiết lập, duy trì xã hội lý tưởng theo mô hình xã hội của những ông
vua huyền thoại trong dã sử của Trung Quốc là Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.
Trong tư tưởng của Khổng Tử (551 - 479 trước CN), người sáng lập
trường phái Nho gia, Nhân là phạm trù đạo đức bao trùm nhất và được ông lý
giải theo nhiều phương diện khác nhau. Trong tác phẩm Luận Ngữ, Khổng Tử
hơn trăm lần đề cập đến “chữ nhân”, do đó người đời sau mỗi khi nghiên cứu
tư tưởng của Khổng Tử, lại tìm đến cách tiếp cận khác nhau theo cách hiểu
của mình đối với “chữ nhân” đó.
Thứ nhất, một số nhà nghiên cứu tiếp cận phạm trù nhân với ý nghĩa là
phẩm chất đạo đức cơ bản của người quân tử - mẫu người lý tưởng theo quan
điểm của Nho gia.
3
Tác giả Trần Trọng Kim trong cuốn Nho giáo đã nghiên cứu sự hình
thành, phát triển của Nho gia qua các thời kỳ lịch sử, từ khi ra đời thời
Xuân Thu - Chiến Quốc phát triển qua các giai đoạn Tần, Hán, Đường,
Tống, Nguyên, Minh, Thanh và Nho giáo ở Việt Nam. Trong đó, ông đã
trình bày những nội dung cơ bản của Nho giáo thông qua các đại biểu xuất
sắc của Nho giáo qua từng thời kỳ. Bàn đến nhân, Trần Trọng Kim cho
rằng: “Nhân là đầu của điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh của trời đất”
[40, tr. 50]; “Nhân là cái đích tu dưỡng của Nho học” [40, tr. 55]; “Nhân
với Trung cũng đồng một nghĩa”, “Chữ nhân bao hàm cả nghĩa chữ ái” [40,
tr. 52]. Tuy nhiên, trong cuốn sách này, Trần Trọng Kim mới chỉ dừng lại ở
việc lý giải một cách khái quát nhất nội hàm của của chữ nhân mà chưa
đặt nó trong quan hệ với ái nhân và tri nhân.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong cuốn Các bài giảng về tư
tưởng phương Đông (sách do các học trò ghi chép, biên tập lại sau khi
ông mất), đã thừa nhận nhân là hạt nhân trung tâm trong học thuyết của
Khổng Tử. Ông cho rằng, "nhân" là trung thứ; khắc kỷ phục lễ là "nhân";
hiếu đễ là gốc của "nhân", nhân là đức mục thuộc phạm trù quân tử và
bao gồm các đức mục khác; “Nhân bao gồm: dũng (tinh thần dám làm
việc nghĩa); thanh (trong sạch); đức (giữ mình đến mức không hiếu thắng,
không khoe khoang, không oán giận); tài (tài năng)” [33, tr. 53], Trần
Đình Hượu còn nhấn mạnh: “nhân là đức mục thuộc phạm trù quân tử,
đức mục của người có địa vị trị nước, chăn dân chứ không phải một đức
mục con người phổ biến” [33, tr. 53 ]. Cách tiếp cận như vậy của Trần
Đình Hượu là đi từ diễn giải đến qui nạp để làm rõ nội hàm người quân
tử. Tuy vậy, Trần Đình Hượu cũng mới chỉ lý giải một cách khái lược về
tương đối toàn diện những nội dung tư tưởng cơ bản của Khổng Tử như: tư
tưởng chính trị, chính sách trị dân và đạo làm người. Trong đó, tác giả đã đề
cập đến nhân với ý nghĩa là đạo làm người. Ông cho rằng, “nhân vừa là tu
5
thân, vừa là ái nhân, vừa là xử kỷ vừa là tiếp vật. Nó là trung tâm của đạo
đức theo Khổng Tử, từ đó mà phát ra các đức khác và các đức khác tụ cả về
nó” [44, tr. 193]. Từ đó, Nguyễn Hiến Lê cho rằng, “nhân trong tư tưởng của
Khổng Tử bao gồm cả hiếu đễ, trung, nghĩa, lễ, trí và dũng, nhưng ngược lại,
không một đức nào đủ coi là nhân được” [44, tr. 198]. Trong sách “Khổng
Tử”, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến nhân với nghĩa là ái nhân, ở đó, ông ít
nhiều đã đề cập đến mối quan hệ giữa nhân và trí, tuy nhiên, tác giả cũng chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu khái quát, do đó cũng chưa lấy ái nhân và tri nhân
làm cơ sở để xem xét các vấn đề liên quan đến phạm trù nhân.
Hoàng Thị Bình trong luận văn thạc sĩ triết học Tư tưởng nhân chính
qua các tác phẩm Luận ngữ và Mạnh Tử đã đề cập đến phạm trù nhân với ý
nghĩa là “nền tảng xuất phát của Khổng giáo trong quan niệm về đạo trị nước
và trong chính sách cai trị của nhà cầm quyền” [2, tr. 14]. Theo tác giả, Nhân là
cơ sở chỉ đạo học thuyết của Khổng Tử trên mọi bình diện. Nhân vừa là tiền đề,
vừa là kết quả của mọi hành động, mọi quan hệ. "Nhân tỏa sáng lời nói, việc
làm, suy nghĩ của con người và chỉ đạo con người hành động. "Nhân" chẳng
những là nội dung cơ bản tự rèn luyện của con người mà còn đưa xã hội đến ổn
định. Đó là những mục đích mà Khổng Tử muốn đạt tới” [2, tr. 17, 18).
Thứ ba, cụ thể là Lý Tường Hải (Trung Quốc) trong cuốn sách giới
thiệu thân thế và những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Khổng Tử nhan
đề Khổng Tử lại cho rằng, “Khổng Tử đã đem chữ “Nhân” trong văn hiến
cổ đại như Kinh Thi, Kinh Thư, phú cho nó một hàm nghĩa phổ thông, sâu
sắc hơn nữa, không chỉ xem nó là căn cứ nội tại để hình thành nên lễ nhạc
mà còn xem nó là bản tính của người ta nói chung” [26, tr. 24]. Ông còn
nhấn mạnh, "Nhân" mà Khổng Tử nói đến “làm thành bản chất nội tại của
"ái nhân" và "tri nhân" làm cơ sở, nền tảng để xem xét các phạm trù liên quan
đến "nhân" trong học thuyết của Khổng Tử.
7
Duy có Phan Bội Châu trong Khổng học đăng đã phân tích, lý giải
nội dung của nhân một cách tương đối đầy đủ, chi tiết qua sự đối đáp của
Khổng Tử với học trò. Trong đó, Phan Bội Châu đi sâu lý giải nhân ở các
góc độ “khắc kỷ phục lễ”, “trung thứ”. Ông còn làm rõ “các bộ phận và các
chi tiết ở trong chữ nhân”, Ông cho rằng nhân bao gồm ái nhân; bao gồm
cung, khoan, tín, mẫn, huệ [13, tr. 45, 46]. Khi phân tích mối quan hệ nhân,
trí, dũng, Phan Bội Châu cho rằng, nhân là ái nhân, nhưng nhờ có tri nhân
nên nhân đó càng thêm trọn vẹn. Ông cũng cho rằng, ái nhân và tri nhân
có mối quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau: “Yêu người với biết người, vẫn
hai thủ đoạn nhưng chỉ là một đạo lý mà thôi” [13, tr. 67]. Mặc dù Phan
Bội Châu cũng chưa lấy mệnh đề ái nhân và tri nhân làm cơ sở, nền tảng
để xem xét các phạm trù liên quan đến nhân, song chúng tôi cho rằng, ông
đã ít nhiều lưu ý tới mối quan hệ giữa hai mệnh đề này của nhân. Điều đó
đã tạo đà cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vấn đề này.
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên đây,
chúng tôi thấy rằng, hầu hết các tác giả nghiên cứu học thuyết Nho gia đều
đề cập đến nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau xuất phát từ đối tượng, mục
đích nghiên cứu của họ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ấy chưa làm
rõ được nội hàm của “nhân” là ái nhân và tri nhân (yêu thương con người
và biết người), cũng chưa thấy được nhân chính là cơ sở, nền tảng để xem
xét các phạm trù đạo đức khác trong tư tưởng của Khổng Tử. Mặt khác,
Khổng Tử khi nói đến “nhân” là nói đến phẩm chất cao quí của người quân
tử trong quan hệ ứng xử với người khác, vì thế mà ông đã đồng nhất “trí”
và “tri”, nghĩa là sự “biết người” phải cần đến năng lực tư duy. Từ thực tế
đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những học giả đi
trước, tác giả luận văn mong muốn đi sâu phân tích, làm rõ hơn nội dung
trong Luận Ngữ, trong một số tác phẩm kinh điển của Nho gia và trong một
9
số công trình nghiên cứu cơ bản về Nho giáo trong và ngoài nước từ trước
đến nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc làm rõ hơn tư
tưởng của Khổng Tử về nhân qua mối quan hệ giữa ái nhân và tri nhân,
những giá trị tích cực và những hạn chế trong tư tưởng của Khổng Tử khi giải
quyết mối quan hệ giữa con người với con người.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
giảng dạy và học tập môn lịch sử triết học phương Đông.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương 6 tiết. 10
Chương 1
KHỔNG TỬ - NGƯỜI SÁNG LẬP TRƯỜNG PHÁI NHO GIA
1.1. Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc và sự ra đời
của Nho gia
Trung Quốc thời kỳ cổ đại đến cuối xã hội nguyên thủy, ở lưu vực sông
Hoàng Hà có nhiều thủ lĩnh bộ lạc nối tiếp nhau. Đó là Hoàng Đế, Thiếu Hiệu,
Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ [54, tr. 124).
Năm Nghiêu 72 tuổi, Nghiêu đề nghị cử người khác làm thủ lĩnh liên minh bộ
lạc, vì Nghiêu đã già, hội nghị liên minh bộ lạc đã bầu Ngu Thuấn, một người
có tinh thần trách nhiệm lên thay. Đến khi Thuấn già, hội nghị lại bầu Hạ Vũ,
là người có công trong việc trị thuỷ lên làm thủ lĩnh liên minh bộ lạc. Phản
thực nhi trí hiếu hồ quỷ thần, ố y phục nhi trí mỹ hồ phất miện, ti cung thất
nhi tận lực hồ câu hức. Vũ, ngô vô gián nhiên hĩ) [35, tr. 394]. Xó hi tt p
m phn ln nh vo li sng v cỏch tr thiờn h ca nhng v vua sỏng y ó
tr thnh mc tiờu phn u ca Khng T cho mt xó hi tng lai, v
nhng tm gng sỏng ca cỏc vua hin chỳa thỏnh minh thi y ó tỏc
ng khụng nh n vic hỡnh thnh t tng ca Khng T, c bit v
nhõn, ỏi nhõn v tri nhõn. ễng mong mun mt xó hi tt p nh
ng, Ngu, trong ú, tr nh c thng yờu, ngi gi c nuụi dng.
Bn thõn Khng T sau ny cng rt chỳ ý giỳp ngi tn tt, cụ n.
Sau khi vua V cht, con ca vua V l Khi lờn thay, ch bu c
th lnh liờn minh b lc n õy chm dt. S kin ú t du chm ht cho
xó hi th tc, giai on lch s m s sỏch Trung Quc gi l thi i ng.
Vua Khi ni chc th lnh ca cha, m u triu i nh H, nh nc
chim hu nụ l u tiờn Trung Quc (khong th k XXI n th k XVI
trc CN). n cui nh H, vua Kit l mt bo chỳa ni ting, ỏp bc búc
lt nhõn dõn thm t, c nc oỏn hn. Vỡ th m Thnh Thang ó lt vua
12
Kiệt, lập lên nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI đến 1066 trước CN). Đến cuối
đời Thương, vua Trụ dâm loạn bạo ngược, dùng hình phạt tàn khốc để trừng
phạt nhân dân. Như một tất yếu lịch sử, “kẻ tàn tặc” sẽ bị lật đổ bởi một thế
lực khác để quốc gia, xã tắc được tồn tại. Nước Chu vốn là một nước phụ
thuộc của Thương do Chu Vũ Vương đứng đầu đã đem quân lật đổ nhà
Thương, lập ra nhà Chu, nhà Chu đóng đô ở phía Tây, đất Cảo, nên được gọi
là Tây Chu (khoảng 1066 – 771 trước CN).
Năm 770 trước CN, do bị các thế lực phía Tây là Nhung, Địch tấn
công, vua Tây Chu là Chu Bình Vương buộc phải dời đô sang Lạc ấp ở phía
Đông, bắt đầu giai đoạn thứ hai của nhà Chu là Đông Chu. Đến năm 256
trước CN, nước Chu bị nước Tần thôn tính, nhà Chu diệt vong.
Giai đoạn Đông Chu tương đương với 2 thời Xuân Thu và Chiến Quốc.
Chế độ “phong hầu kiến địa” của nhà Chu khi đó có tác dụng tích cực
bảo vệ mọi quyền lợi của giai cấp quý tộc thống trị về tất cả các mặt kinh tế,
chính trị và huyết thống.
Sau khi Bình Vương dời đô về Lạc Ấp không lâu, trong cung đình đã
xảy ra việc cha con tranh nhau ngôi vua làm cho thế lực nhà Chu ngày càng
suy yếu. Mặt khác, do uy thế chính trị của nhà Chu bị giảm sút, nhiều nước
chư hầu không chịu triều cống cho vua Chu như trước nữa.
Vì vậy, về danh nghĩa, vua nhà Chu vẫn là vua chung, nhưng trên thực
tế, vị thế “đỉnh tháp” này đã không đủ sức để điều khiển các chư hầu nữa.
Trong khi đó, trên lãnh thổ Trung Quốc có rất nhiều nước nhỏ, phần lớn là
những quốc gia được hình thành do chính sách phân phong thời Tây Chu.
Trước kia, một trong những mục đích của việc phân phong chư hầu là để các
nước này làm phên giậu bảo vệ nhà Chu. Nhưng đến lúc này, nhân lúc thế lực
nhà Chu suy yếu, một số nước không những không tuân theo mệnh lệnh của
thiên tử mà còn xâm phạm lãnh địa nhà Chu, thậm chí còn muốn khống chế
thiên tử để chỉ huy các nước chư hầu. Đến giai đoạn này, chế độ “phong hầu
14
kiến địa” của nhà Chu đã không còn được tuân thủ răm rắp như trước. Vua
nhà Chu không còn đủ thế và lực để nắm được toàn bộ đất đai, thần dân cũng
như các nước chư hầu nữa, các vương hầu tự xưng hùng, xưng bá, lợi dụng
danh nghĩa bảo vệ tôn vinh nhà Chu, tập hợp lực lượng để xâm lược, trừng
phạt và tiêu diệt nước khác, mà thực chất là từng bước tiếm quyền, chiếm giữ
địa vị thiên tử nhà chu để cai trị thiên hạ. Do vậy, từ đầu thế kỷ VII đến thế kỷ
V trước CN, trong đời sống chính trị ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc chiến
tranh giữa các nước để tranh quyền bá chủ thiên hạ. Nước đầu tiên giành được
quyền bá chủ là Tề (656 trước CN), sau đó là Tấn (632 trước CN), Sở (597
trước CN), sau này là Tần, Ngô, Việt cũng trở thành những nước lớn tranh
giành quyền bá chủ.
Sống trong thời kỳ lịch sử đó, Khổng Tử luyến tiếc và muốn khôi phục
thống nhất.
Về kinh tế
Tiến bộ mới quan trọng nhất của thời kỳ này trong lĩnh vực kinh tế là
sự ra đời của đồ sắt. Giữa thời Xuân Thu, trên một chiếc chuông của nước Tề
có khắc một đoạn chữ trong đó có câu “người luyện sắt bốn nghìn”. Ở nước
Tần năm 513 trước CN, nhà nước đã dùng sắt để đúc đỉnh. Các nhà khảo cổ
học cũng phát hiện được đồ sắt cuối thời Xuân Thu trong một ngôi mộ cổ ở
Hồ Nam, thuộc đất Sở trước đây [54, tr. 140]. Đến thời chiến Quốc, đồ sắt
được sử dụng phổ biến, sắt được dùng để làm ra các công cụ lao động như
lưỡi cày, lưỡi cuốc, liềm, hái…để sử dụng trên đồng ruộng; làm ra các thứ đồ
dùng trong gia đình như dao, cưa, đục, búa; làm ra trục và bánh xe để chuyên
chở hàng hoá từ chỗ này sang chỗ khác, v.v. Từ đó trâu bò được đưa vào cày
bừa thay cho sức kéo của người, ngựa được đưa vào kéo xe thay cho sức đẩy
của người. Nhờ đó nhiều ruộng đất hoang được nông dân khai khẩn, thủy lợi
được coi trọng, làm cho năng suất lao động trong nông nghiệp ngày càng
tăng, của cải làm ra ngày một nhiều. Trong thời kỳ này, thủ công nghiệp và
16
thương nghiệp cũng có những bước phát triển mới, xuất hiện những xưởng
sản xuất thủ công như xưởng đồng, sắt, dệt, gốm, mộc, v.v. Thương nghiệp
cũng phát triển khá mạnh, trong xã hội đã xuất hiện một số lái buôn lớn có số
vốn hàng ngàn lạng vàng, tiền đồng ra đời vào cuối thời Xuân thu, đến thời
Chiến Quốc, tiền được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở sự
phát triển của lực lượng sản xuất (công cụ sản xuất mới, kỹ thuật canh tác
mới, sự xuất hiện của tiền tệ và sự phát triển của thương nghiệp) thì quan hệ
sản xuất chiếm hữu nô lệ với chế độ kinh tế “tỉnh điền” bóc lột nhân dân theo
kiểu cuả thiên tử, quý tộc nhà Chu quy định trước đây đã trở nên lạc hậu,
không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải thay thế bằng phương thức bóc lột khác.
Trong giai đoạn trước, toàn bộ đất đai, nhân dân ở Trung Quốc đều
thuộc quyền sở hữu của nhà vua, nhà nước. “Dưới gầm trời không đâu không
trị có sự phân hoá. Do có ruộng đất riêng, một số khanh, đại phu, sĩ đã biến
thành địa chủ mới. Đến thời chiến Quốc, không những quan lại nhà nước mà
một số nhà giầu có cũng mua được nhiều ruộng đất, trở thành những thương
nhân kiêm địa chủ. Từ tầng lớp này xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực
kinh tế ngày càng mạnh, chiếm địa vị cao trong xã hội như Huyền Cao ở nước
Tấn, Tử Cống ở nước Lỗ, sau này có Lã Bất Vi ở nước Tần. Họ tìm cách leo
lên, tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ.
Sự tan rã của chế độ tỉnh điền đã làm cho giai cấp nông dân bị phân
hoá, một bộ phận nông dân vẫn giữ được 100 mẫu ruộng như trước kia, cộng
với ruộng đất khai khẩn thêm, trở thành nông dân tự canh, một bộ phận khác
hoàn toàn “không có tấc đất cắm dùi”, buộc phải làm tá điền hoặc cày thuê
cho địa chủ.
Sự phân hoá giai cấp đó dẫn đến sự xuất hiện những mâu thuẫn giai cấp
trong xã hội mà khởi nguồn của nó là những mâu thuẫn từ lợi ích kinh tế của
các giai cấp đối lập nhau. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến
mới nổi lên với giai cấp quý tộc đang nắm quyền lực chính trị nhưng địa vị và
18
sức mạnh kinh tế đã suy yếu; mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp quý tộc, giữa bộ
phận quý tộc bảo thủ với bộ phận quý tộc muốn thực hiện đổi mới bằng
những chính sách kinh tế xã hội có tính chất cải lương nhằm duy trì quyền lợi
và địa vị của mình, mâu thuẫn giữa quý tộc nhỏ với đại quý tộc thống trị; mâu
thuẫn giữa nông dân, nông nô với giai cấp địa chủ mới và quý tộc.
Sang thời Chiến Quốc, những mâu thuẫn trên vẫn tiếp tục phát triển,
thêm nữa, chiến tranh giữa các nước vẫn không ngừng xảy ra và ngày càng
tàn bạo, khốc liệt hơn. Tình hình ấy đã làm cho xã hội hết sức rối loạn, sản
xuất bị đình trệ, ruộng vườn bị bỏ hoang, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực,
gia đình ly tán. Trong xã hội thường xuyên diễn ra “hiện tượng bề tôi giết
vua, con giết cha, em giết anh”. Đây là thời kỳ trật tự xã hội bị đảo lộn, đạo
đức suy đồi, các quy chế thời Tây Chu bị phá hoại [54, tr. 147]. Sự mục ruỗng
mình và tiêu diệt các nước khác, thực hiện giấc mộng bá chủ. Việc coi trọng
kẻ sĩ của các nước vương hầu quý tộc ở các nước chư hầu đã làm cho Trung
Quốc lúc đó xuất hiện nhiều trung tâm học thuật. Ở đó, các học giả được tự
do tranh luận về đường lối trị nước, còn việc đường lối đó có được dùng hay
không lại phụ thuộc vào các minh chủ. Ví dụ, trung tâm chính trị của Tắc Hạ,
Bình Nguyên Quân ở nước Triệu, Tín Lăng Quân ở nước Nguỵ. Trong thái ấp
của Mạnh Thường Quân có lúc nuôi tới 3000 kẻ sĩ. Những người này đều
đứng trên lập trường giai cấp của mình để phê phán trật tự xã hội cũ, đề xuất
việc xây dựng xã hội tương lai. Nhiều học thuyết ra đời như vậy nên người ta
gọi thời kỳ này là “Bách gia chư tử” (“trăm nhà trăm thầy”), “Bách gia tề
phóng”, “Bách gia tranh minh”, (“trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”). Đây
là thời kỳ có một không hai trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, bởi có quá
nhiều học thuyết chính trị xã hội khác nhau xuất hiện. Tuy nhiên, theo Sử ký
của Tư Mã Thiên, chỉ có 9 phái cơ bản, nhưng trong số các học thuyết đó, nổi
bật và có ảnh hưởng lớn nhất đến đời sống chính trị - xã hội là Nho gia, Đạo
gia, Mặc gia, Pháp gia.
20
Nho gia
Khổng Tử (551 - 479 trước CN) là người sáng lập Nho gia. Ông chủ
trương khôi phục lại xã hội theo khuôn mẫu nhà Chu, tức là muốn duy trì một
xã hội có trật tự, đẳng cấp, có lễ nghĩa, làm sống dậy tinh thần đạo lý truyền
thống, điều hoà những mâu thuẫn của xã hội theo tinh thần cải lương nhằm
bảo vệ quyền lợi của giai cấp chủ nô quý tộc. Biện pháp mà Khổng Tử đưa ra
để đạt được mục đích đó là “đức trị” và “lễ trị”. Cơ sở của đường lối “đức trị”
đó là lòng nhân, tức là lòng thương người và phải làm theo đúng Lễ, phải
“chính danh”. Nhưng đường lối chính trị lấy đạo đức làm cơ sở ấy của Khổng
Tử không phải là liều thuốc hữu hiệu đối với căn bệnh của xã hội Trung Quốc
thời bấy giờ. Vì vậy, học thuyết của ông không được giai cấp thống trị các
nước chư hầu chấp nhận.
[54, tr. 147] và Trang Tử (thế kỷ IV – III trước CN). Đây là học phái đưa ra
nhiều vấn đề triết học sâu sắc nhất thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Nội dung cơ
bản của Đạo gia là học thuyết về “Đạo” và “Đức”. “Đạo” vừa là bản nguyên
của thế giới, vừa là phương pháp của hoạt động nhận thức. “Đức” là sự biểu
hiện của “Đạo”. Về phương diện chính trị - xã hội, các nhà sáng lập Đạo gia
chủ trương “vô vi nhi trị” (không làm mà vẫn cai trị được), nghĩa là giai cấp
thống trị không can thiệp đến đời sống của nhân dân. Lão Tử phê phán sự bóc
lột thậm tệ của giai cấp thống trị đối với nhân dân, chủ trương thực hiện
“nước nhỏ dân ít”, không cần chữ viết, không cần giáo dục. Sau này Trang Tử
kế thừa tư tưởng “vô vi” của Lão Tử và cho rằng, xã hội muốn yên ổn thì con
người phải chất phác, quay về sống với tự nhiên như thời nguyên thủy. Chủ
trương của phái Đạo gia là không tưởng, trái với tiến trình lịch sử nên không
được giai cấp thống trị đương thời chấp nhận.
Mặc gia
Người sáng lập Mặc gia là Mặc Địch (468 – 376 trước CN). Về chính
trị, hạt nhân tư tưởng của Mặc Tử là thuyết “kiêm ái” (yêu thương mọi
22
người). Ông cho rằng: “Nếu mọi người trong thiên hạ thương yêu nhau, giữa
các nước không tấn công nhau, giữa các nhà này với nhà khác không có chuyện
rắc rối thì giặc giã trộm cướp không có, vua tôi cha con đều có thể trên dưới
yêu thương lẫn nhau, và như vậy thì cả thiên hạ sẽ ổn định” [54, tr. 151]. Vì
vậy, Mặc Tử phản đối chiến tranh, chủ trương tiêu dùng tiết kiệm, đề cao
người có tài đức (thượng hiền) trong đường lối trị nước. Ông cho rằng,
người làm vua không nhất thiết phải thuộc dòng dõi quý tộc mà cần phải có
tài, có đức.
Ngoài thuyết “kiêm ái”, tư tưởng về tiết dụng, tiết táng, phi nhạc của
Mặc Tử là khác biệt với tư tưởng của Khổng Tử, vì thế mà Trần Đình Hượu
đã đưa ra nhận xét cho rằng, “Mặc Tử xuất hiện như một kẻ phản đồ, chống
lại Nho gia về mọi phương diện, mở đầu học phong Chiến Quốc, vứt bỏ ràng