I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Tôn giáo và thơ ca là những hình thái ý thức xã hội đặc thù,
cùng với sự xuất hiện và phát triển của loài người, tôn giáo và thơ ca
đã ra đời rất sớm trở thành nhu cầu tinh thần quan trọng của con
người. Theo quan điểm của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh
(Đại học Vinh), “Trong đời sống tinh thần nhân loại, ít có lĩnh vực nào
lại có điểm gặp gỡ, tương đồng như tôn giáo và thơ ca. Ngay từ khi
con người chưa có được một ý thức đầy đủ về mình, cùng với ý niệm
về vũ trụ bao la, thần bí là sự xuất hiện một niềm tin và những tưởng
tượng hồn nhiên, ngây thơ về những quyền năng của một đấng sáng
thế vô ảnh vô hình. Đó là sự khởi đầu cho mối tương giao giữa tôn
giáo và thơ ca.” (“Tôn giáo và thơ ca – nhìn từ phương Đông”, Tạp
chí Nghiên cứu Văn học số 2 - 2006). Mối quan hệ tương giao đó
chính là cơ sở tạo nên những thế giới thơ đặc sắc và huyền bí, đến
mức nhiều khi người ta xem các thi nhân là những vị thánh sống.
1.2. Đầu thế kỷ XX, (cụ thể từ 1932 - 1945) ở Việt Nam đã xuất
hiện phong trào Thơ mới và Hàn Mặc Tử là một trong những đại diện
nổi bật của phong trào thơ đó. Với quãng đời ngắn ngủi (28 tuổi), thi sĩ
1
đã để lại một số lượng tác phẩm lớn có giá trị. Nghiên cứu về cuộc đời
và thơ ca của người nghệ sĩ tài năng mà bất hạnh này là niềm đam mê
của nhiều người. Đã có hàng trăm bài phê bình, tiểu luận lớn nhỏ, đã có
hàng mấy chục luận án tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu về Hàn Mặc Tử với
những đánh giá độc đáo và sâu sắc. Song điều đáng nói là trong thế
giới thơ Hàn Mặc Tử luôn có sự gặp gỡ giữa tôn giáo và thi ca, đúng
như nhận xét của Hoài Thanh: "Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi
đền để thờ Chúa". "Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại
những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ.". Và đó cũng
là điều tôi muốn trình bày ở bài viết này.
I.2. Thực trạng vấn đề
một số bài thơ cụ thể và nổi bật dựa vào các tập thơ quen thuộc của tác
giả như Gái quê, Thơ điên (được đổi thành Đau thương) và xem các tác
phẩm ấy là tư liệu tham khảo quan trọng.
3.2.Tôi không có tham vọng nghiên cứu thật kĩ thế giới thơ Hàn
Mặc Tử trên tất cả mọi bình diện, mà chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ là
màu sắc tôn giáo được thể hiện trong sáng tác của nhà thơ này với
mong muốn góp phần chỉ ra sự phong phú cũng như vẻ đẹp độc đáo
trong thơ Hàn Mặc Tử nói riêng trong thơ Việt Nam nói chung nhằm
giúp học sinh hiểu sâu hơn, bản chất hơn về một nhà thơ cụ thể.
I.4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
4.1. Mục đích:
a) Thông qua việc tìm hiểu, phân tích và sắp xếp theo một hệ
thống có thể, giúp người đọc nhận thấy sự xuất hiện với một tần số
khá lớn những từ ngữ mang màu sắc tôn giáo, cũng như những cảm
quan về thế giới siêu hình, siêu tưởng trong thơ Hàn Mặc Tử.
b) Thơ Hàn Mặc Tử thực sự là một trong những đỉnh cao của thơ
lãng mạn Việt Nam, việc tìm hiểu thêm một số biểu hiện cụ thể trong
thế giới nghệ thuật của nhà thơ là nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp, cũng
4
như sự lung linh kì diệu của những thi phẩm đã từng đi sâu vào lòng
người từ hơn nửa thế kỷ qua, cũng từ đó góp phần nhỏ bé trong việc
thể hiện tình cảm đậm đà sâu sắc đối với nhà thơ tài năng nhưng hết
sức đau thương này.
c) Dù chưa phải thật nhiều, nhưng thơ Hàn Mặc Tử từ trước đến
nay luôn là một bộ phận quan trọng được giảng dạy trong nhà trường,
bởi vậy tôi có mộng tưởng rằng bài viết này sẽ góp một phần nhỏ bé
trong việc cung cấp thêm chút ít vốn liếng về thế giới thơ Hàn Mặc Tử
để phục vụ cho việc dạy và học trong các trường phổ thông đặc biệt là
đối tượng học sinh mũi nhọn.
4.2. Nhiệm vụ:
ca một mặt chịu sự tác động của tồn tại xã hội, mặt khác chịu sự tương
tác của các hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt như chính trị và nhà
nước. Tuy nhiên tôn giáo và thi ca là những hình thái ý thức xã hội
đặc thù, chúng có một lãnh địa tinh thần thuần khiết, một mặt chúng
phụ thuộc vào kinh tế xã hội, mặt khác chúng phụ thuộc thiết chế xã
hội và ý thức cộng đồng.
Cùng với sự ra đời của xã hội có giai cấp, con người dần dần mất
đi sự hồn nhiên vốn có và thay vào đó là tính vụ lợi, tôn giáo và thi ca
đã trở thành bộ phận trong thượng tầng kiến trúc, nó tác động mạnh
mẽ đến đời sống xã hội và mối quan hệ tôn giáo thơ ca đã phụ thuộc
nhiều vào ý thức xã hội mà trước hết là ý thức thống trị. Do bị chính
trị hoá nên mối quan hệ giữa tôn giáo và thi ca ở các thời đại khác
nhau, ở các dân tộc khác nhau diễn ra không đồng điều.
1.3. Trong tư cách những hình thái ý thức xã hội, tôn giáo và thơ
ca đều có khả năng nhận thức và tái hiện đời sống thực tại. Nói cách
7
khác chúng đều hàm chứa một khả năng phản ánh. Như vậy sự khác
biệt giữa tôn giáo và thi ca chỉ là cách nhận thức và hình thức biểu
hiện.
Nét tương đồng nổi bật trước hết giữa tôn giáo và thi ca trong việc
nhận thức và tái hiện xã hội là hình thức tư duy hướng nội (bản chất
của tôn giáo là đi tìm sự giải thoát ngay từ bên trong con người, còn
bản chất của thơ ca là trữ tình: rút tình cảm của mình ra để phô bày).
Tôn giáo và thơ ca đều gắn liền với con người bản thân cá thể.
Trong bản chất sáng tạo, thơ ca là sự trở về với chính mình, thành thật
với chính mình, giải toả những cảm xức dồn nén trước một hiện tượng
nào đó của cuộc sống hiện tại. Nó là cuộc hành trình đơn độc, lẻ loi
của cá nhân người nghệ sĩ. Trong giây phút sáng tạo nhà thơ như một
kẻ tu hành, một ẩn sĩ cô đơn tìm kiếm. Mọi liên hệ với thế giới bên
ngoài bị loại bở, thế giới nội tâm là thực tại duy nhất. Gianh giới giữa
cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử", nhưng cuối đời,
Chế vẫn cứ ôm theo nguyên vẹn một câu hỏi đầy trăn trở: Hàn Mặc
Tử, anh là ai? Thơ Hàn Mặc Tử vẫn cứ như một kí tự lạ lùng mà mỗi
cách đọc, cách giải được đưa ra chỉ xem như một giả thuyết không ít
vu vơ. Nội điều ấy đủ thấy Hàn là một thiên tài cô đơn biết bao.” Quả
đúng như vậy, cuộc đời và thơ văn của Hàn Mặc Tử luôn luôn là một
thế giới đầy bí ẩn. Cuộc sống của nhà thơ là một cuộc vật lộn suốt đời
với bệnh tật hiểm nghèo, dai dẳng, bất phân thắng bại. Sự đau thương
về bệnh tật đã đày đọa nhà thơ lên đến tột đỉnh, tưởng như tất cả nỗi
khổ của thế gian hội tụ đầy đủ để trút ngập lên một thi mệnh thiên tài
mỏng manh yếu ớt và yểu mệnh, nhưng cũng để từ đó chói sáng
những vần thơ quằn quại đớn đau. Cuộc đời và thân phận thơ Hàn
Mặc Tử gắn chặt chẽ với dải đất miền Trung khắc nghiệt, đói nghèo
và rất nhiều thi sĩ. Ông sinh ra ở thị xã Đồng Hới - giữa miền Trung,
10
nhưng nguyên quán là Thanh Hoá. Theo một số tư liệu của ông
Nguyễn Bá Tín, hiệu Thiện Nam, hiện ở trong một ngõ hẻm trên
đường Kỳ Đồng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh, là em ruột của Hàn Mặc Tử.
(Chính ông từng viết mấy tập hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi (Nxb Tp.
Hồ Chí Minh 1991) và Hàn Mạc Tử trong riêng tư (NXB Hội nhà văn
1994) gây xôn xao một thuở) đã kể lại rằng: “Từ nhỏ, không nghe ai
nói đến dòng họ của cha tôi, tuy vẫn biết nội tổ là Phạm Bồi, quê ở
Thanh Hóa, lập nghiệp tại làng Thanh Tân (Thừa Thiên). Cũng không
ai tìm hiểu vì sao cha tôi mang họ Nguyễn mà chú tôi đều giữ họ
Phạm. Mãi đến năm 1933, mới gặp bà chị thúc bá với cha tôi là Phạm
Thị Nhàn tại Quy Nhơn và người cháu họ là Phạm Long đều cùng quê
quán ở Thanh Hóa. Từ đó mới biết được tông tích dòng họ. Đến năm
1934, anh cả tôi là Nguyễn Bá Nhân tức là Mộng Châu, đem tôi đi Hà
Nội tìm tộc trưởng là Phạm Thành tức là Phạm Bá Thành, tòng sự tại
Sở Nội dịch toàn quyền. Theo gia phả bằng chữ Hán thì dưới thời
cha công chức và người mẹ ngoan đạo của miền Trung ấy không thể
tiên liệu được rằng Nguyễn Trọng Trí sau này sẽ thành thi sĩ Hàn Mặc
Tử lừng danh, người sẽ "cai trị Trường thơ Loạn" của các nhà thơ
Bình Định và đẩy Thơ Mới đến một bờ bến lạ. Và khi làm lễ rửa tội,
rồi lấy tên thánh Phanxicô đặt cho đứa hài nhi Nguyễn Trọng Trí, hẳn
cha xứ thuộc giáo xứ Tam Toà của thị xã miền Trung kia cũng không
thể tiên cảm được mai này hài nhi ấy sẽ thành “thi sĩ của đạo quân
thánh giá” với tiếng “thơ cầu nguyện” kì dị, và càng không thể hình
dung được tiếng thơ của nó cất lên từ Qui nhơn một dẻo đất ven biển
miền Trung sẽ siêu vượt ra ngoài đạo giới Kitô. Mà điều không một ai
có thể ngờ nhất vẫn là: tại sao căn bệnh phong quái ác lại chọn đúng
thi sĩ ấy để giáng hoạ và rồi cướp đi một tài năng lớn vào cái tuổi 28.
Ngày 11-11-1940, Hàn Mặc Tử tạ thế, kết thúc một cuộc đời đầy đau
13
thương bất hạnh tại trại phong Quy Hoà. Lại cũng là một trong những
bãi biển êm đềm vào bậc nhất của miền Trung.
2.3. Có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, để dẫn đến một nhà
thơ rất tài năng và rất độc đáo ở Hàn Mặc Tử, nhưng trước hết theo
quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại thì nguồn ảnh hưởng
cuối cùng đến thơ Hàn Mặc Tử là tôn giáo. Trong công trình nghiên
cứu của mình, tuy không để tôn giáo là một tiểu mục riêng, nhưng ông
phân tích tác động của Kitô giáo đến Hàn Mặc Tử ở nhiều nơi, nhiều
chỗ. Theo ông Trí là người rất ngoan đạo, nên thơ Tử không thể
không có tôn giáo như: Thánh nữ đồng trinh Maria, một phần thơ
trong Thượng thanh khí
Nhân bình luận bài Xuân đầu tiên, Trần Thanh Mại viết: “Những tư
tưởng cao siêu thanh khiết đã tạo ra những lời thơ cao siêu thanh khiết
ấy phần nhiều là ảnh hưởng ở nguồn tư tưởng vô cùng nơi đạo Thiên
Chúa. Hàn Mặc Tử bảo Bích Khê rằng: “Sáng tạo là điều kiện cần nhất,
tối yếu của thơ, mà muốn tìm nguồn cảm xúc mới lạ, không chi bằng
và chính cái chất thơ tôn giáo ấy đã tạo ra một vẻ đẹp riêng vừa lung
linh vừa huyền bí trong thế giới thơ Hàn Mặc Tử.
II.3. Giúp học sinh tìm hiểu “Sự gặp gỡ giữa tôn giáo và thi ca
trong thế giới thơ Hàn Mặc Tử”.
Đây là mục đích cơ bản mà tôi hướng tới. Để thực hiện nội dung
này, tôi đã giúp học sinh (tất nhiên là đối tượng học sinh mũi nhọn)
làm rõ các vấn đề sau:
3.1. Trong cuộc đời hai tám năm ngắn ngủi, chỉ chưa đầy mười
hai năm làm thơ, nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một khối lượng thơ khá
phong phú, đa dạng. Thơ ông là một thứ Kinh thánh thấm đẫm tinh
thần tôn giáo, thăm thẳm lời cầu nguyện đến vĩnh hằng và thượng đế.
Trong thơ của Hàn Mặc Tử nhiều chỗ hình ảnh Chúa được bao bọc,
tôn vinh bằng ngôn ngữ nhà Phật, làm cho nội dung câu thơ vượt khỏi
16
giới hạn một tôn giáo để trở thành nhân loại, trở thành tiếng nói chung
về tinh thần nhân bản, tính nhân văn, khát vọng vượt lên bể khổ trầm
luân để tìm nguồn vui sống của con người. Ở thi sĩ này luôn có sự
thống nhất giữa thi nhân và tín đồ trong cái tôi trữ tình nhà thơ. Thực
ra bàn về vấn đề tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử là một vấn đề thú vị
nhưng không hề đơn giản. Không ít người khi thấy trong các tập thơ
của Tử xuất hiện nhiều yếu tố Phật giáo, Đạo giáo đã cho rằng: thơ
Hàn thực chất là thuộc về các tôn giáo ấy. Lại có người bám vào cái lí
lịch Công giáo và những thi liệu Kitô rậm rịt của Hàn Mặc Tử để cho
rằng ảnh hưởng lớn nhất trong thơ ông là Kitô giáo. Người thì cho nó
thuộc phạm trù tình cảm, đức tin, phạm trù tư duy, người thì coi toàn
bộ thơ ông là tiếng vọng của Thánh Tự, người lại coi hành trình thơ
Hàn Mặc Tử là từ một người Công giáo làm thơ đến nhà thơ Công
giáo… Người này nghiêng về phía tìm kiếm một tôn giáo thuần tuý,
người kia coi là sự tích hợp nhiều tôn giáo khác nhau Tất cả những
điều đó có thể đúng hoặc đúng một phần nhưng quan trọng hơn là nó
Mặc Tử, tôn giáo với nghĩa ấy chính là cái cõi bờ mà một thi sĩ chân
chính rồi sẽ phải tìm đến như một điều tất yếu. Đó là cõi giới đáp ứng
được cả quan niệm nhân sinh của một con người lãng mạn về hạnh
phúc, cả quan niệm thẩm mĩ của nghệ sĩ lãng mạn về cái đẹp. Đến
được chốn ấy là cõi cực lạc, đến được chốn ấy cũng là đến với cõi
đẹp. Như thế, có thể thấy trong Hàn Mặc Tử, ý thức Thiên chúa giáo
đã tự nguyện tan thấm vào một quan niệm tôn giáo khác, bao trùm
hơn. Quan niệm này, một mặt: là hệ qui chiếu đóng vai trò đồng hoá
các yếu tố tôn giáo khác nhau vốn ràng rịt trong thơ Hàn vào một ý
niệm chung nhất, mặt khác: cũng đồng hoá cả chính tôn giáo với thi
ca. Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó tôi lại cho rằng Thơ, đó mới
thực sự là Tôn giáo của Hàn Mặc Tử. (Tất nhiên, phải là Thơ với
19
nghĩa tuyệt đối của nó và với những gì huyền nhiệm nhất của nó). Hàn
Mặc Tử đã tuyệt đối hoá thơ, đã tôn sùng thơ, đã tô vẽ thơ như một
nguồn sống, nguồn sáng, nguồn đạo hạnh, thơ là ánh sáng thiêng
liêng, thần diệu tột cùng “Thơ trắng trong như một khối băng tâm /
Luôn luôn reo trong hồn trong mạch máu”, “Lời thơ ta sáng trưng như
thất bảo / ý tứ ta chói sáng như sao sa”, “Trên lụa sáng mười hai hàng
chữ ngọc / Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa” Thơ, ánh sáng,
thiên ân, tất cả đã hoà vào nhau, thậm chí đồng thể. Đó là tam vị nhất
thể của Thượng đế riêng của thi sĩ này. Thơ Tử là sự ca tụng ánh sáng
thuần linh với tất cả những dạng biểu hiện vừa thống nhất vừa đầy
xung đột của nó. Bởi không gì giản đơn như ánh sáng, cũng không gì
huyền nhiệm hơn ánh sáng. Thơ là phương cách giải thoát, là hình thái
thăng hoa của thi sĩ. Thơ là lời nguyện cầu cứu chuộc, thơ cũng là hi
vọng cứu rỗi. Thơ là vẻ đẹp, thơ cũng là vẻ thiêng. Hàn đã sống cho
thơ và Hàn cũng chết cho thơ. Đối với Hàn Mặc Tử, thơ thực sự là
một lẽ huyền nhiệm tột cùng của tồn tại, của sáng tạo và của giải
thoát. Khao khát cái Tột cùng, do đó, vừa là Quan niệm Mĩ học vừa là
Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh
Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của
Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có
tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Mà bài Thánh Nữ Đồng Trinh
là một minh chứng thuyết phục. Bài này là những lời Tử dâng lên Đức
Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong
“cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “từ bi”, “ba ngàn thế giới”, là
chữ của nhà Phật
“Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi”
Hai chữ "Từ bi", còn thấy dùng trong nhiều bài khác:
Thơ tôi thường huyền diệu
22
Mọc lên đạo từ bi
(Cao Hứng)
Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
(Hãy Nhập Hồn Em)
Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như "hằng hà sa số" "mười
phương" cũng thường gặp trong thơ Tử :
Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
(Cuối Thu)
Đóng cửa mười phương lại
Dồn ánh sáng vào đây
(Điềm lạ)
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười
phương
(Nguồn thơm)
cách mô tả thuyền trăng, bến trăng, sông trăng: “Thuyền ai đậu bến
sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay”. Quả thực với Hàn Mặc
Tử cuộc sống của ông là cuộc sống của Trăng: "Ngả nghiêng đồi cao
bọc trăng ngủ /Đầy mình lốm đốm những hào quang" (Ngủ với trăng)
với màu sắc Liêu trai lúc nào cũng "Lâng lâng mây khói quyện trăng
đêm" để bay lên "Nguyệt thềm" cùng tôn giáo của riêng ông. Ông
chứng kiến "Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu", chứng kiến sự hồi
hộp khát khao của chị Hằng hay của chính mình: "Ô kìa bóng nguyệt
trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe"(Bẽn lẽn) rồi cùng
"Trăng xuân tràn trề say chới với" để lại cái ánh sáng ma quái ghê rợn
"lờn lợt" như kim đâm nhoi nhói vào trái tim người đọc. Mối quan hệ
đặc biệt giữa trăng và nhà thơ nhất là một người mang bệnh phong ác
25