MỐI LIÊN HỆ GIỮA TÔN GIÁO VÀ KHOA HỌC - Pdf 27


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÒNG ĐT SĐH – KHCN&QHĐN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

MỐI LIÊN HỆ GIỮA TÔN GIÁO VÀ KHOA
HỌC
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
Học viên thực hiện: Trần Khánh An
Mã học viên: CH1301076
TP.Hồ Chí Minh, tháng 08/2014
I. MỞ ĐẦU
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại khoa học mà trong đó mọi khía cạnh
của đời sống đều chịu ảnh hưởng của khoa học. Từ cuộc cách mạng khoa học suốt
thế kỷ 17, khoa học đã tiếp tục phát triển không ngừng cho đến ngày nay.
Nhờ sự tiến bộ của khoa học đã đưa con người đến một đời sống vật chất đầy đủ.
Khoa học đã mở rộng nhãn giới, phát minh ra những định luật, thay đổi những quan
niệm cũ, có thể làm thay đổi cả thế giới. Con người giờ chỉ cần hưởng thụ những
thành tựu đó của khoa học. Nhưng khi hưởng thụ một cách thái quá, cộng với sự yếu
đuối của thể xác làm họ quên mất đời sống tinh thần, đời sống thiêng liêng.
Thực trạng đó đưa ta đến một vấn đề, rằng liệu có phải khoa học đã phá vỡ tư
tưởng của tôn giáo không? Và khoa học càng phát triển thì tôn giáo càng mai một
không ?
Để trả lời về vấn đề này, bài tiểu luận sẽ đi tìm hiểu về mối liên hệ giữa tôn giáo
và khoa học bao gồm các nội dung chính:
1) Nguồn gốc và bản chất của tôn giáo và khoa học
2) Sự mâu thuẫn giữa tôn giáo và khoa học
3) Sự hòa hợp và bổ sung cùng phát triển giữa tôn giáo và khoa học
Bài viết có sử dụng tài liệu tham khảo từ một số sách, báo và các tài liệu trên
mạng, chi tiết được nêu rõ trong phần Tài liệu tham khảo cuối bài viết.
Bố cục bài viết được chia làm 3 phần Mở đầu, Nội dung và Kết luận.

Khi khoa học chưa phát triển, tôn giáo tín ngưỡng là nền tảng của sự tạo lập một
xã hội. Tôn giáo tạo nên một đường lối và lập ra những quy luật để con người noi
theo, nhờ đó mà sống hòa hợp với nhau trong xã hội. Các tôn giáo tạo ra quy luật
dựa trên sự sợ hãi của con người. Nó gò bó con người, làm cho con người lệ thuộc
bên ngoài. Làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tự chủ vươn lên, ý thức trách nhiệm
của con người, làm cho con người nghèo đi. Dễ bị lợi dụng vì mục đích đen tối.Sợ
bị phạt rơi xuống địa ngục, sợ không được cứu rỗi khi chết, sợ có một cuộc đời xui
xẻo… Muốn không bị phạt thì con người phải thờ phụng các vị thần linh, hay người
sáng lập tôn giáo và nghe lời các vị lãnh đạo tôn giáo. Vì con người không có khả
năng tiên đoán được tương lai nên lúc nào cũng phập phồng lo sợ. Lòng tin ở một
tôn giáo tạo nên một cảm giác chắc chắn trong cuộc sống bấp bênh. Lòng tin tạo ra
một tương lai sáng suốt được cứu rỗi nếu ta thực hành những quy luật tôn giáo ta
đưa ra. Tôn giáo dựng lên một đối tượng siêu nhiên vô hình, thí dụ như Thượng Đế,
vàsức mạnh của tôn giáo dựa trên sự tưởng tượng của con người. Thượng Đế có hay
không là do con người có tin hay không. Con người có lòng tin thì Thượng Đế sẽ
hiện diện trong tâm hồn người đó và sẽ linh thiên giúp đỡ người đó. Con người
không tin thì Thượng Đế sẽ im lặng.Tương tự với hình tượng Phật Thích ca trong
đạo Phật.
Khác với tôn giáo, khoa học lấy sự suy luận làm nền tảng.Khoa học là một tổng
thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết và thực tế về thế giới tự nhiên, do các nhà
nghiên cứu trên toàn thế giới phát triển với các phương phápkhoa học, trong đó đặc
biệt là sự quan sát, giải thích, và dự báo những hiện tượng của thế giới thực bằng
thực nghiệm.Nếu như tôn giáo cho rằng những hiểu biết tôn giáo có thể trả lời mọi
câu hỏi liên quan đến vũ trụ và đời sống con người thì khoa học cho rằng những
hiểu biết tôn giáo là mê tín, phi lý, hoang đường, chỉ có khoa học mới đưa ra được
câu trả lời đúng đắn.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một
thực thể xã hội. Song xét về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt, nó phản ánh một cách hoang đường, hư ảo, lệch lạc hiện thực khách quan vào
đầu óc con người. Sự hoang đường của tôn giáo do chính con người sáng tạo ra; cái

Một số nhà chức trách tôn giáo chọn cách làm ngơ trước những khám phá khoa
học mâu thuẫn với những giáo lý của tôn giáo họ. Những thói quen tâm lý cứng
nhắc ấy đúng là gây trở ngại cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ khi con người hiện đại
từ chối việc tin tưởng mọi thứ một cách mù quáng, thậm chí đối với những điều vốn
đã được chấp nhận, thì những nhà chức trách tôn giáo ấy chỉ còn có thể thành công
trong việc nâng cao tỷ lệ của những người không tin tưởng đối với những học thuyết
sai lầm của họ mà thôi.
Do tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và thuộc kiến trúc thượng tầng nên tôn
giáo đóng vai trò lớn đến đời sống chính trị. Trong thời trung cổ, đã từng có sự xung
đột căng thẳng giữa tôn giáo và khoa học, tôn giáo gây trở ngại cho khoa học. Điển
hình là đối với ngành vật lý thiên văn học (Nicolaus Copernicus-Sự chuyển động
của các thiên thể, Galileo-Thuyết nhật tâm), sinh học (Darwin-thuyết tiến hóa)
3. Tính thống nhất và bổ sung lẫn nhau giữa tôn giáo và khoa học
Trước hết phải thấy rằng, mặc dù là một nhân tố nhận thức và là một động lực
hành động quan trọng vào bậc nhất của con người, khoa học không phải là một sức
mạnh vạn năng có thể giải quyết bất cứ vấn đề nào của nhân loại, nhất là những vấn
đề có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến ý nghĩa sinh tồn của con người. Sự thành
công của khoa học trong công cuộc khám phá, chinh phục thế giới vật chất hoàn
toàn không có nghĩa là khoa học cũng sẽ thành công trong lĩnh vực tâm linh, hoặc
trong việc truy tìm và thăng hoa các giá trị và ý nghĩa cuộc sống con người.
Mặt khác, một số nhà chức trách tôn giáo đã nhận thấy được sự cần thiết phải
điều chỉnh cho phù hợp với những học thuyết khoa học đã được mọi người chấp
nhận bằng cách đưa ra những lời diễn dịch mới cho những giáo điều của tôn giáo
họ. Một trường hợp minh họa cho điểm này đó là thuyết Tiến hóa của Darwin.
Nhiều nhà chức trách tôn giáo vẫn cố chấp rằng con người là do chính Thượng đế
tạo ra. Trong khi đó Darwin thì cho rằng con người được tiến hóa từ vượn người,
học thuyết này đã đánh đổ những học thuyết về sự sáng tạo của đấng siêu nhiên và
sự đoạ lạc của con người. Tại vì tất cả những triết gia đã được khai sáng đều chấp
nhận học thuyết Darwin, cho nên ngày nay những nhà thần học chỉ còn một lựa
chọn duy nhất là đưa ra lời diễn giải mới cho những học thuyết của họ để làm cho

học đã giúp cho con người sống một cuộc sống thoải mái và trải nghiệm những điều
tuyệt vời mà trước đây không hề mơ tưởng đến. Khoa học đã khiến cho con người
có thể bơi tốt hơn cả loài cá, bay cao hơn loài chim, và đi trên mặt trăng. Tuy nhiên,
phạm vi của kiến thức có thể chấp nhận đối với tri thức khoa học và tri thức thông
thường nó bị giới hạn trong phạm vi kiểm chứng thực nghiệm. Và chân lý của khoa
học thì thay đổi liên tục. Khoa học không thể nào giúp con người làm chủ tâm của
họ và chắc chắn nó không hỗ trợ gì trong việc tuân thủ các chuẩn mực, nguyên tắc
đạo đức.
Sự đối lập giữa tôn giáo và khoa học như đã từng xảy ra trong lịch sử thật ra chỉ
là một sự đối lập giả tạo khi tôn giáo không có thẩm quyền lại lên tiếng về những
vấn đề thuộc phạm vi riêng của khoa học, và khoa học lại can thiệp vào những vấn
đề thuộc vào bản chất và đặc trưng của tôn giáo, điều đó không có nghĩa là đem tôn
giáo đối lập với khoa học, mà là để trả lại tôn giáo và khoa học những chức năng và
vai trò mà chúng vốn có.
Trong một thời đại mà khoa học-kỹ thuật phát triển như vũ bão và mang một ý
nghĩa có tính chất quyết định cho sự phát triển của nhân loại như thời đại hiện nay,
nhu cầu tâm linh của con người không những không giảm đi, trái lại, còn trở nên
mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Và để thỏa mãn nhu cầu tâm linh không ngừng lớn mạnh
này, con người đã vận dụng và sáng tạo nhiều hình thức truyền thống cho đến những
hình thức đã được "đổi mới" để phù hợp hơn với những điều kiện của một thế giới
hiện đại.
Albert Einstein có nói “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà
không có khoa học thì mù quáng.”.Khoa học mà không chú trọng đến đạo đức thì
chỉ dẫn đến sự hủy diệt. Nó trở thành con quái vật cuồng bạo mà con người đã khám
phá ra. Và thật là không may mắn, con quái vật này đang ngày càng trở nên mạnh
mẽ hơn cả chính con người. Trừ khi con người học cách hạn chế và kìm hãm con
quái vật ấy thông qua việc thực tập đạo đức tôn giáo, nếu không thì nó sẽ chế ngự
luôn cả con ngườì. Không có sự hướng dẫn của tôn giáo thì khoa học sẽ đe dọa thế
giới với sự hủy diệt. Ngược lại, khi khoa học kết hợp với tôn giáo thì có thể chuyển
đổi thế giới này thành một thiên đường bình an và hạnh phúc.

[6] Tôn Giáo Trong Thời Ðại Khoa Học
/>[7] Tôn giáo và khoa học

Phụ lục
*Giải thưởng Templeton, do Sir John Templeton thành lập năm 1972, để tôn vinh
những cá nhân “có những đóng góp đặc biệt để khẳng định chiều kích tâm linh của
cuộc sống”.Giải thưởng bao gồm tiền mặt trị giá 1,7 triệu đô-la Mỹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status