MỐI QUAN HỆ GIỮA TÔN GIÁO VÀ VĂN HỌC ẤN ĐỘ, NHẬT BẢN - Pdf 27

1 hoaianhlya
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÔN GIÁO VÀ VĂN HỌC
ẤN ĐỘ, NHẬT BẢN
Cô: Mai Liên
Tài liệu tham khảo:
1. Lưu Đức Trung, Văn học Ấn Độ, G, H, 1997.
2. Cao Huy Đỉnh, Văn hóa Ấn Độ, Văn học, H.
3. Nguyễn Tấn Đắc, Văn học Ấn Độ, N Tổng hợp TPHCM, 2000.
4. Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu về thần thoại Ấn Độ.
5. Vanmiki, Ramayana, Văn học,
6. Vyasa, Mahabharata, Văn học.
7. Phan Thu Hiền, Sử thi Ấn Độ,
8. Lưu Đức Trung chủ biên, hợp tuyển văn học Ấn Độ.
9. Đọc thêm về phật giáo và thiền: Thiền luận- Suzuki, N Tổng hợp TPHCM.
10. Doãn Chính, Veda và Upanishad, ĐHQG.
11. Nhật Chiêu, Văn học Nhật bản từ khởi thủy đến 1868.
12. Nguyễn Thị Bích Hà, Truyện cổ tích Nhật Bản, ĐHQG.
13. Nhật Chiêu, Thơ Baso.
I. Lí do
- Ấn Độ là một trong 4 chiếc nôi văn hóa của nhân loại, có ảnh hưởng sâu sắc đến
toàn bộ văn học thế giới. Toàn bộ các nước trong khu vực Đông Nam Á (10 nước) chịu ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ. 1 nước chịu ảnh hưởng của Trung Quốc là Việt nam.
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học rất mật thiết: tôn giáo đọc cho văn học chép-
câu nói này thực ra chưa nói hết được mối quan hệ gần như là đồng nhất: Kinh Vê đa đồng thời là
sách văn học, các bộ sử thi đồng thời cũng là kinh, kinh sách Phật giáo đồng thời cũng là những
bài học dân gian.
 Tìm hiểu văn học Ấn Độ Nhật Bản mà không tìm về cội nguồn tôn giáo thì không
thấy hết được vẻ đẹp.
+ Những nhà thơ Haiku đồng thời cũng là những nhà sư (Basho sống cuộc đời của nhà sư).
Thần thoại Nhật Bản mang tư tưởng thần đạo.
- Khi giảng dạy văn học Ấn Độ, Nhật Bản: để các giáo viên nắm bắt ngọn nguồn của

3. Khí hậu
- Có 2 bộ mặt: có lúc mưa thuận gió hòa, gương mặt của 1 người mẹ hiền. Có khi
thời tiết nổi giận nắng nóng lên đến 50độ. Lũ lụt hạn hán cũng rất khắc nghiệt.
 Thái độ của con người với thiên nhiên có 2 mặt: chấp nhận thiên nhiên và chối bỏ
thiên nhiên. Họ hi vọng vào sự chinh phục và cải tạo thiên nhiên, xây dựng nhiều công trình thủy
lợi để bắt thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người, mặt khác họ cũng quay lưng lại với thiên
nhiên, theo đuổi chủ nghĩa khổ hạnh.
II. Lịch sử: 4 thời kì trải dài gần 5000 năm
1. Thời tiền sử: (- 2700 đến - 1700): nền văn minh sông Ấn.
- Được phát hiện trong những năm 20 của thế kỉ 20 sau những cuộc khai quật cổ
người Anh John Marshall ở Mohenjo- Daro và Harappa.
- Văn minh sông Ấn có tính chất đô thị, nhiều công trình phục vụ nhân sinh, hầu như
không có công trình kiến trúc tôn giáo nào. Phát hiện nhiều cửa hàng, thủy liệu viện, trong đó phát
hiện ra nhiều đồ vật tinh xảo. Thủy liệu viện là nơi chữa bệnh bằng nước.
- Thời kì này người Ấn đã có chữ viết.
 Phát hiện này làm đảo lộn quan niệm cố hữu cho rằng văn minh Ấn Độ là do người
Arya du nhập vào Ấn Độ vào khoảng -1500.
2. Thời cổ đại (-1700 đến -700): các cuộc xâm nhập.
- Đó là cuộc xâm nhập của chủng tộc Airyana. Bản quán của họ có lẽ là vùng mà
người Iran gọi là Airyana- yoyo.
- Văn minh Arya là bán du mục. Đây là cuộc xâm nhập chứ không phải xâm lược.
Họ vào Ấn Độ với mục đích đi tìm cỏ cho gia súc. Nhưng về sau hộ xung đột với dân bản địa. Họ
chiến thắng và làm chủ phía Bắc, rồi chinh phục phương Nam bằng sức mạnh tôn giáo.
- Văn hóa Arya+ văn minh Dravidia= nền móng chủng tộc và văn hóa Ấn Độ.
 Quá trình mở rộng địa bàn từ phía Bắc xuống phía Nam phản ánh trong hình tượng
hoàng tử Rama.
3 hoaianhlya
3. Thời trung đại (700 đến 1700): tổng hợp văn hóa Ấn- Hồi
- 711, Arab xâm lược Ấn Độ.
- 1206, Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược Ấn Độ.

vệ vương quốc.
+ Vaishya: thương nhân, thợ thủ công, thương nhân, địa chủ => chăm lo đời sống vật chất.
+ Shudra: tôi tớ=> phục dịch cho 3 đẳng cấp trên.
Tại sao AD phải phân chia đẳng cấp:
- Do ảnh hưởng của đạo Hindu, do người Arya sáng lập. Khi vào AD, họ muốn bảo
vệ sự thuần túy cao quý của nòi giống của họ. Họ không muốn dòng máu cao quý của họ bị trộn
lẫn với các dòng máu khác cho nên phân ra đẳng cấp cao quý và đẳng cấp thấp hèn.
- Đẳng cấp (Vacna) có nghĩa là màu da.
- Xuất phát từ mục đích phân chia như vậy, biểu hiện của phân biệt đẳng cấp là hôn
nhân và ăn uống. Chỉ có những người cùng đẳng cấp được kết hôn với nhau. Chỉ những người
cùng đẳng cấp mới ăn chung mâm. Người đẳng cấp dưới không được quyền tiếp xúc với người
4 hoaianhlya
đẳng cấp trên. Ánh nhìn, cái bóng của người đẳng cấp dưới rơi vào thức ăn thì người đẳng cấp trên
không ăn.
Truyện: Chúa trời của những chuyện vặt.
- Phân biệt giai cấp trên cơ sở kinh tế, giữa đời cha ông và đời con cháu có sự thay
đổi về giai cấp.
- Phân biệt đẳng cấp tiêu chí không phải là tài sản mà là dòng dõi, huyết thống.
Không có sự thay đổi về đẳng cấp giữa con cháu đời đời kiếp kiếp cũng giống như cái cây không
có quyền lựa chọn cái hạt mà nó sinh ra.
- Tích cực: nhờ phân biệt đẳng cấp mà xã hội tương đối bình ổn. Do dòng dõi quy
định thì không có đấu tranh đẳng cấp. Đây là công cụ hữu hiệu sử dụng để cai trị xã hội, giai cấp
thống trị đã thần thánh hóa nguồn gốc của việc phân chia đẳng cấp.
- Hạn chế: có những lạm dụng bất công, hố sâu ngăn cách mỗi người một sâu hơn,
những người thuộc đẳng cấp dưới bị chà đạp. Nhiều tư tưởng gia lỗi lạc đều lên tiếng phản đối.
+ Đức Phật: Không có đẳng cấp trong những dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng
cấp trong những giọt nước mắt cùng mặn. Tình thương là sợi dây liên hệ giữa mọi người.
+ M. Gandhi: Chế độ đẳng cấp như chúng ta biết là một điều lỗi thời. Nosihair ra đi nếu
cả Ấn Độ giáo và AD muốn tồn tại và phát triển.
C. Tôn giáo- Triết học

II. Phật giáo
- Là một trong 2 tôn giáo lớn nhất ở AD và là một trong số những tôn giáo lớn trên
thế giới.
- Đây là 1 tôn giáo, cũng là một hệ thống triết học nhân sinh sâu sắc nhất được biết
đến trong lịch sử tinh thần nhân loại.
- Phật giáo thịnh đạt và tỏa bóng rộng lớn trên thế giới suốt 2500 qua.
- Phật giáo có tam bảo: phật, pháp, tăng (quy y tam bảo).
+ Phật: là toàn bộ cuộc đời của đức Phật, tọa trên tòa sen. Vì hoa sen là biểu tượng của
năng lực trí tuệ bừng nở. Đây là một con người có thật, vốn là một hoàng tử của nước Sakya. Tên
thật của ngài là Siddhartaha Gautama (Tất đạt đa cồ đạt- có nghĩa là người đã đạt được nhiều mục
đích). Sinh vào thế kỉ 5trcn.
+ Pháp: là căn bản tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy. Tứ diệu đế là 4 chân lý cao cả.
1. Khổ đế: là chân lý về bản chất của sự khổ trên đời. Trong bài thuyết pháp đầu tiên
ngài giảng: sinh là khổ, lão là khổ, bênh là khổ, tử là khổ. Phải kết hợp với cái mình bất ưng là
khổ, phải chia lìa với cái mình yêu quý là khổ, và bất cứ cái gì ta ham muốn mà không đạt được là
khổ.4 cái khổ đầu tiên là mặt sinh học, 3 cái khổ sau là mặt tâm lý học. Lời giảng của Đức Phật
không có gì xa lạ với chúng ta. => đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước của 4
đại dương cộng lại.
Tìm hiểu: ngũ uẩn là khổ. Ngũ uẩn chính là cái tôi cá nhân được tạo bởi ngũ uẩn: 5 nhóm
các năng lực vật chất và tinh thần để tạo nên cái tôi cá nhân. Cụ thể: Sắc uẩn: tập hơp yếu tố vật
chất tạo thành thân thể (giác quan, tay chân, ngũ tạng), Thụ uẩn: gồm các cảm thụ nảy sinh khi
ngũ quan tiếp xúc với thế giới bên ngoài, Tưởng uẩn: nhóm các tri giác tưởng tượng nảy sinh khi
con người tiếp xúc với thế giới, Hành uẩn: nhóm tập hợp các hành vi ý muốn, Thức uẩn: ý thức,
hiểu biết. Tại sao ngũ uẩn là khổ: vì mỗi uẩn đều thay đổi từng phút từng giây, cơ thể chúng ta
không phải là cơ thể tĩnh tại mà luôn luôn vận động, ngũ uẩn đều thay đổi từng giây, từ đây, Phật
đi đến hai pháp ấn (lý thuyết được cho là xác đáng, không chút sai lầm):+ Vô thường: tất cả hành
(mọi hành vi, sự vật, con người) đều thay đổi liên tục theo quy luật, Vô ngã: tất cả các pháp (mọi
sự vật) đều không có thực thể độc lập, bất biến, vĩnh hằng. Chữ khổ (dukkha) có nhiều nghĩa:
đau khổ, phiền não, khổ cực, đối lập với hạnh phúc sung sướng (dukka-dukka); hoại khổ
(viparinama-dukkha): đau khổ do thay đổi gây lên, hành khổ (samkhara-dukkha): trạng thái bị

chánh nghiệp: hành động đúng đắn, không giết người, trộm cướp, buông thả trong nghiện ngập,
dục lạc; chánh mạng: kiếm sống bằng nghề đúng đắn, không buôn bán vũ khí, ma túy, nô lệ và
những kiểu làm ăn gây gian dối đau khổ cho người khác; chánh tinh tiến: siêng phấn đấu để tiến
bộ; chánh niệm: luôn tâm niệm điều thiện; chánh định: tập trung tinh thần vào 1 mục tiêu để giác
ngộ. 8 ngả đường Phật chỉ ra là trung đạo : ở giữa: không hưởng lạc cũng chẳng khổ hạnh . Trung
đạo thực chất là: tránh xa điều tội lỗi, công đức xây đắp nhiều, thanh tịnh cho đầu óc, đó là lời
Phật dạy. Lí tưởng của Phật giáo về đời sống hoàn thiện có giá trị giáo huấn vĩnh cửu.
=>Phật đem đến cho chúng ta cái nhìn cuộc đời như bản chất vốn có của nó chứ không bi
quan về cuộc sống. Phật hướng chúng ta đi đến hạnh phúc bằng con đường ở giữa. Phật giáo là tôn
giáo không bi quan mà cũng chẳng lạc quan. Cái tài của đức Phật là hiểu sâu sắc tâm lý của con
người.
+ tăng (tên đầy đủ là tăng già- Shangha: cộng hòa).
III. Hindu giáo
1. Thời tiền sử
- Đã có mầm mống của Hindu giáo, có tín ngưỡng thần linh đối với một số động vật,
thực vật. (VD: bò cái tượng trưng cho đất mầm nuôi dưỡng. Đầu voi mình người biểu tượng cho
sự hợp nhất giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ; rắn là con vật linh thiêng tượng trưng cho tri thức.)
- Tượng phụ nữ liên quan đến sự thờ phụng thần Mẹ và tượng yogi có thể liên quan
đến việc thờ thần Shiva.
- Thờ Yoni (âm lịch) và linga (dương lịch)- âm dương hòa hợp.
7 hoaianhlya
2. Thời Veda (-1500 đến -800)
- Là một bộ kinh vĩ đại của Ấn Độ, là những kinh điển sớm nhất của người Arya, đặt
nền móng cho Hindu giáo về thần phả, giáo lý, nghi thức. Đó là những lời tụng ca các thần, cầu
xin ân phước vật chất của các tu sĩ đọc trong lễ hiến tế.
- Như vậy giai đoạn đầu bản chất là tôn giáo hiến tế.
- Nguyên nhân người Arya tổ chức lễ hiến tế vì họ có quan niệm về Rta hay Rita:
+ Rita nghĩa đen là qui luật vận hành của các khớp xương để cơ thể chuyển động nhịp
nhàng.
+ Nghĩa bóng là quy luật vận hành của vạn vật trong vũ trụ để vũ trụ trở thành một đại hòa

=> Hidu giáo: sống tức là quá trình khắc phục cái tôi cá nhân để hòa nhập với cái ta
rộng lớn. Tư tưởng từ bi của Phật giáo chính là kế thừa tư tưởng Ahimsa của Hindu giáo.
Chi phối đến:
8 hoaianhlya
+ Nhân sinh quan: người Ấn Đồ đề cao lối sống từ bi, hòa hợp. Làm tổn hại đến người
khác cũng chính là làm tổn hại đến bản thân chúng ta.
Chuông nguyện hồn ai: chuông cầu hồn gióng lên cho ai? Chuông cầu hồn gióng cho chính
anh đó. Đây cũng là triết lí về cá thể và cộng động.
+ Vũ trụ quan: con người gắn bó với vũ trụ, là một phần của vũ trụ (giống với Đạo giáo).
+ Nhận thức luận: đề cao hiểu biết viên mãn (Vijnana) vượt lên trên hiểu biết phân biệt
(Jnana). Hiểu biết viên mãn là đồng nhất chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức (Ví dụ: em bé
gái chơi trò chơi làm mẹ. sau này cảm nhận thơ Haiku: ta phải lặng sâu vào lòng sự vật, hóa thân
vào bài thơ).
b.Dharma và Moksha
- Dharma (bổn phận) là nguyên lý, quy luật khách quan đem lại sự điều hòa cho vũ trụ và
xã hội về mọi phương diện. Quy luật đó là mỗi người đều có bổn phận và phải hoàn thành để đảm
bảo sự vận hành có trật tự của xã hội. Bằng cách đó, họ cũng sẽ được hưởng hạnh phúc. Dharma
của mỗi người phụ thuộc vào:
+ Địa vị trong gia đình: là con, anh, là cha, mẹ… Xita thủy chung với Rama như hình với
bóng cũng vì bổn phận này.
+ Đẳng cấp trong xã hội.
+ Giai đoạn trong đời: mỗi giai đoạn có bổn phận khác nhau. Cuộc đời người đàn ông có 4
giai đoạn: 1-Braman: thời thơ ấu, trau dồi tri thức; 2- Grahasthya: trưởng thành, thi hành bổn phận
gia đình và xã hội Dharma, hưởng thụ của cải artha, lạc thú trần gian kama; 3- Vanaprastha: khổ
hạnh; 4- Sannyasa: từ bỏ gia đình, xã hội, vào rừng giải thoát.
Tại sao Hindu giáo yêu cầu cuộc đời con người thực hiện 4 mục tiêu như vậy? Như
vậy cuộc đời con người là hành trình tìm kiếm 4 mục tiêu: của cải artha, tình yêu kama, bổn phận
dharma, giải thoát moksha. Ba mục tiêu đầu chỉ như ga xép, cứu cánh cuối cùng là giải thoát. Một
đời sống như vậy, Hindu giáo gọi là đời sống toàn diện. Nguyên nhân của đời sống toàn diện: phải
thực nghiệm đời sống trần tục mới hiểu thế nào là khổ đau, ngay cả cái gọi là lạc thú trong đời

+ Karma nghĩa gốc là hành động. Nhưng hành động nào cũng gây ra hậu quả mà chính
ngời đó phải chịu trách nhiệm, nghĩa là tạo nghiệp. Định mệnh là cái mà mỗi người tự tạo ra cho
chính mình.
Khác: Heghen: định mệnh là do thế lực bên ngoài chi phối.
+ Samsara: là tư tưởng cho rằng cuộc sống hiện tại chỉ là một vòng quay trong một chuỗi
vòng quay những cuộc đời kế tiếp nhay từ quá khứ tới tương lai. Gieo gió gặt báo, Đời cha ăn
mặn đời con khát nước là những câu thể hiện triết lí nghiệp báo. Trong các đền thờ Hindu giáo có
những bánh xe tượng trưng cho vòng quay luân hồi. Thời gian theo quan niệm phương Đông là
thời gian vòng tròn. Khác phương Tây: thời gian là một đường thẳng, ngọn nến tượng trưng cho
thời gian đường thẳng có thủy có chung, đời ngắn ngủi nên con người phải giục giã sống. Đây
mùa thu tới mùa thu tới: là lời cấp báo khi mùa thu đến, nên Xuân Diệu tinh tế chú ý đến sự thay
đổi của sự vật.
4. Thời sử thi (-400 đến Thế kỉ X)
- Là thời đại của các anh hung ca. Tư tưởng của Hindu giáo gửi vào trong 2 bộ sử thi
Mahabharata và Ramayana mà các học giả Hindu gọi là các Dharmal sastra tức sách dạy về bổn
phận. Chủ yếu là bổn phận của Kshatriya- chiến binh, vua chúa. Đẳng cấp này chủ yếu đạt đến
giải thoát bằng thực hiện hành động vô cầu.
5. Thời trung đại (Thế kỉ X đến XVIII)
- Nhấn mạnh giá trị đạt tới giải thoát bằng con đường sùng tín.
- Trước sức tấn công mạnh mẽ của Hồi giáo, Hindu giáo tự mình canh tân bằng cách
cởi mở, nhấn mạnh con đường dễ đi nhất. Thơ sùng tín là tiếng nói của tôn giáo phóng khoáng
này.
6. Thời cận hiện đại (thế kỉ 18 đến nay): thể kỉ 19 xuất hiện những phong trào cải
cách Hindu giáo nhằm chắt lọc để hồi sinh những giá trị đích thực của nó, gạt gỏ những hủ tục lỗi
thời. Ví dụ: Raja Ramohan Roy
=>Hinđu giáo là tôn giáo có sức mạnh chi phối toàn bộ nền văn hóa của Ấn Độ. Sức
mạnh của nó là sự linh hoạt trong việc canh tân thích hợp trước sự thay đổi của từng giai
10 hoaianhlya
đoạn lịch sử. Hiện có khoảng 83,7% người theo đạo Hindu, sau đó là đạo hồi khoảng 13%,
đạo Phật cáo chung.

những thần thoại Ấn Độ.
3. Tuy nhiên, thần thoại Ấn Độ cũng rất giàu giá trị hiện thực. Tước bỏ ánh hào
quang huyền thoại, có thể thấy cuộc sống của người Arya cổ đại. VD: thần thoại về nữ thần rạng
đông Usa, hay thần mặt trăng Roma.
4. Thời kì đầu, các thần có vai trò như nhau trong việc sáng tạo ra thế giới và ban ân
phước cho con người. Đây là thời kì đa thần giáo (polytheism) trong thần thoại Ấn Độ.
Thời kì cuối, trong một số thần thoại như Prajapati, Rurusa, quyền lực sáng tạo được quy
vào một đấng tối cao là Prajapati hoặc Purusa (tụng ca khổng lồ Purusa). Các thần cụ thể chỉ là
hiện thân của một đấng tối cáo trừu tượng giống như những tia nắng thể hiện một mặt trời, giống
như những con sóng thể hiện đại dương. Đặc điểm này được gọi là Marx Muller gọi là Tối thượng
11 hoaianhlya
thần giáo (Henotheism hay Kathenotheism)- tôn giáo thờ một vị thần tối thượng nhưng vị thần tối
thượng ấy có nhiều hiện thân.
Tuy nhiên trong Rig Veda, người ta cũng thấy thấp thoáng bóng dáng của một thuyết
phiếm thần tế nhị (trong Bài ca khởi nguyên vũ trụ). Thuở ấy chưa phân biệt hữu và vô. Từ không
trung xuất hiện một sức nóng=> Đấng Một được sinh ra=> Sinh ra các thần (phủ nhận vai trò sáng
tạo thế giới của các thần- là biểu hiện của thuyết phiếm thần luận).
5. Thần thoại Ấn Độ trong Veda giàu Ấn Dụ, biểu tượng, phóng đại, nhân hóa. Thiên
nhiên được tả rất thơ mộng. Hình tượng các thần hay được miêu tả dị dạng (thần đất có 4 tay, nữ
thần sông Hằng có 4 tay, thần lửa có 3 đầu 7 lưỡi, thần mặt trời 4 tay, thần gió 4 tay cưỡi linh
dương trắng, thần going tố có 1000 mắt, thần sáng tạo có 4 đầu 3 mắt, Visnu có 4 tay. Khác các
thần của thần thoại Hi Lạp được miêu tả như những người đẹp nhất. Vì thần thoại Ấn Độ muốn
sùng tín thần linh, coi thần linh là đấng siêu nhiên, không thể giống con người, phải có đặc điểm
khác người, siêu phàm.
6. Hệ thống thần thoại Rig Veda: 3 hệ thống. Thần thoại, ngụ ngôn, sử thi, sách y học
là đều là thơ.
a/ Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ và những hiện tượng thiên nhiên.
* Thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ: có 3 ngôi tối linh.
- Trời cha Dyaus
- Đất mẹ Aditi: một người phụ nữ xinh đẹp có 4 tay. Câu chuyện về nữ thần Đất sinh ra

về Manu giống câu chuyện về đại hồng thủy trong kinh thánh.
c/ Thần thoại về các thần tinh thần tình cảm.
- Thuộc hệ thống này có các thần như Thần Tình Yêu Kama, nàng Say Đắm Rati (vợ
Kama), Vũ nữ thiên thần Apsara, Chúa Xuân Vasanta (Bạn của Kama). Thần Tình Yêu của các
dân tộc trên thế giới đều cầm cung tên. Kinnara là thần đầu người cánh chim.
- Thần Tình Yêu Kama:
+ quá trình hình thành: thoạt kỳ thủy, Kama có nghĩa là ý muốn tự nhiên. Đây là ý muốn tự
nhiên của 2 giống đực purusa và cái prakriti trong vũ trụ, muốn tìm đến với nhau, phối hợp với
nhau để làm sinh sôi nảy nở vạn vật trong trời đất.=> nhận thức này có tính duy vật, người
Dravidia cổ nhận thấy trong thực tế, các hiện tượng đối cực hòa hợp mà sinh ra các thế hệ sau.
Xuất phát từ quan niệm này mà họ thờ dương vật và âm vật.
+ khi người Arya định cư ở Tây Bắc Ấn, họ cũng chịu ảnh hưởng của quan niệm này. Họ
cho rằng: kama là sự vận động đầu tiên của vũ trụ, sau đó chuyển vào cuộc sống, làm phấn chấn
và lôi cuốn muôn vật, muôn loài.
+ về sau trong cuốn Atharva Veda, Kama trở thành một biểu tượng thần linh tự tại: Kama
có trước tất cả, chẳng do ai sinh ra cả nên gọi là Aja, thần thánh, tổ tiên, loài người đều ở dưới,
sau Kama, do Kama sinh ra.
+ đây là một chàng trai tuấn tú. Ngồi trên xe do chim vẹt kéo, cung của thần là cây mía uốn
cong, dây là đàn ong kết cánh, mũi tên bằng hoa xoài. So sánh với Cupidon
Kama Cupidon, Eros
- Chàng trai khôi ngô tuấn tú:
tình yêu thuộc về 1 quãng đời tươi
đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi
chúng ta.
- Di chuyển bằng chim vẹt: ở
Ấn Độ tượng trưng cho sự thông
minh. Tình yêu phải được sự dẫn dắt
của trí tuệ. Vợ của thần Tình Yêu là
nàng Say Đắm: dù say đắm đến đâu
cũng có phần lí trí. Hơn nữa: chim vẹt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status