Báo cáo khoa học: "Mối quan hệ giữa kế hoạch và thị tr-ờng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" - Pdf 20


Mối quan hệ giữa kế hoạch v thị trờng
trong nền kinh tế thị trờng định hớng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

CN. Phạm thị xuân
Bộ môn Kinh tế chính trị
Khoa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Trờng Đại học GTVT

Tóm tắt: Vấn đề kế hoạch v thị trờng l mối quan tâm hng đầu của nhiều nh nghiên
cứu hiện nay, không những ở nớc ta m cả nhiều nớc trên thế giới. Vì muốn tìm tòi mô hình
quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp v có hiệu quả hơn, kế hoạch hóa v cơ chế thị trờng cần đợc
kết hợp với nhau trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Nội dung của mối quan hệ ny
l kết hợp tính định hớng, cân đối của kế hoạch với tính năng động, nhạy bén của thị trờng
nhằm tạo động lực phát triển nền kinh tế.
Summary: Nowadays, market and planning are of most interest to researchers, in our
country and also in many countries in the world. As we would like to seek a more suitable and
effective model of macroeconomic management, market mechanism and planning should
coordinate in the socialist oriented market economy. The content of this relationship is to
combine orientation, balance of plans with dynamics, sensitivity of markets to create a driving
force for the economy's development.

KT-ML
i. đặt vấn đề
Lâu nay, ở nớc ta cũng nh các nớc xã
hội chủ nghĩa trớc đây có những mơ hồ trong
một số lý luận quan trọng nh: quan hệ của
các nớc xã hội chủ nghĩa đối với kế hoạch và
thị trờng, quan hệ giữa kinh tế kế hoạch và
kinh tế thị trờng; các nớc xã hội chủ nghĩa

phải là kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa nh
Trung Quốc, bởi vì nớc ta còn đang trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự
đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới,
vừa có vừa cha có đầy đủ yếu tố chủ nghĩa
xã hội.
Phù hợp với những điểm nói trên, có thể
nói rằng: kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh
tế xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và
quy luật của kinh tế thị trờng, vừa dựa trên cơ
sở và đợc dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên
tắc, bản chất của chủ nghĩa xã hội trên cả ba
mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Do
đó, kinh tế thi trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại
trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho
nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế thị
trờng và nhóm của xã hội đang định hớng
xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất,
đóngvai trò nh là động lực thúc đẩy sản
xuất xã hội phát triển nhanh, nhóm thứ hai
đóng vai trò hớng dẫn chế định sự vận động
của nền kinh tế theo những mục tiêu đã đợc
xác định. Do đó, có thể nói rằng nền kinh tế
thị trờng ở nớc ta vừa mang những đặc
trng chung của kinh tế thị trờng, vừa mang
tính đặc thù định hớng xã hội chủ nghĩa. Một
trong những đặc trng bản chất của kinh tế thi
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa: cơ chế

thiệp vào nền kinh tế và kế hoạch hoá vĩ mô
của nhà nớc cũng không cần thiết nữa. Quan
niệm đó là đơn giản, hoàn toàn sai lầm và
không có căn cứ lý luận và thực tiễn.
Ngày nay, trên thế giới hầu nh ở tất cá
các nớc, nhà nớc đều quản lý nền kinh tế
thị trờng. Kể cả trong lý thuyết và trên thực
tiễn, không có nền kinh tế thị trờng nào có
thể hoạt động mà không có sự đều tiết của cả
thị trờng, cơ chế thị trờng và nhà nớc. Vì
thế, cái gọi là vấn đề nhà nớc và cơ chế thị
trờng thực ra không phải là vấn đề lựa chọn
giữa nhà nớc và cơ chế thị trờng, càng
không phải là đã chọn nhà nớc thì thôi cơ
chế thị trờng và ngợc lại, mà vấn đề là xác

định phạm vị hợp lý cho cả nhà nớc và cơ
chế thị trờng. Điều này hàm ý là:
Trong điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh
tế nhà nớc cần hạn chế tối đa những mệnh
lệnh hành chính để cho các hoạt động thị
trờng đợc diễn ra chủ yếu theo sự hớng
dẫn của các quy luật kinh tế thị trờng; quy
luật giá trị; quan hệ cung cầu và cạch tranh
v.v đảm bảo nguyên tắc vận hành nền kinh
tế là nguyên tắc thị trờng, cơ chế thị trờng
tự điều chỉnh. Mặt khác, do thị trờng trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa không phải là thị trờng tự điều tiết hoàn
toàn mà còn phải phục vụ các mục tiêu kinh

kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Một trong những lý do cho sự cần thiết
khách quan của kế hoạch hóa kinh tế vĩ mô là
sự thất bại của thị trờng. ở nớc ta, thị trờng
cha phát triển đầy đủ, đồng bộ những thành
tố chủ yếu của nó. Do vậy, giá cả trên thị
trờng nh vậy dễ bị xuyên tạc vì ngời sản
xuất và ngời tiêu dùng thiếu những thông tin
cần thiết, sự điều tiết của thị trờng và cơ chế
thị trờng trong điều kiện nh vậy sẽ có nhiều
khả năng dẫn đến những quyết định sai lầm
và kém hiệu quả của sản xuất và lu thông.
Đặc biệt là thị trờng vốn còn sơ khai cha
đảm bảo đợc vai trò trung gian cần thiết cho
quá trình phát triển. Trong điều kiện ấy, nếu
không có sự can thiệp của Chính phủ thông
qua kế hoạch hoá thì những nguồn lực kinh tế,
nhất là những nguồn lực khan hiếm dễ bị phân
bổ một cách sai lệch, không đạt hiệu quả kinh
tế xã hội mong muốn. Năm 1970, tổ chức
phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
(UNIDO) cũng đã đa ra lập luận sau đây về
thất bại của thị trờng nh một lý do cho sự
cần thiết kế hoạch hoá ở các nớc đang phát
triển: Chính phủ không thể và không nên chỉ
đóng vai trò thụ động trong quá trình mở rộng
công nghiệp. Kế hoạch hoá đã trở thành một
bộ phận chủ yếu và cần thiết của các chơng
trình phát triển công nghiệp, về bản thân các
tác nhân của thị trờng không thể không khắc

KT-ML
Tuy vậy, cũng cần thấy rằng, kế hoạch
hoá có những hạn chế của nó, khi áp đặt chủ
quan duy ý chí trong công tác kế hoạch hoá
và trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng,
kế hoạch hoá thờng không đợc nhanh,
nhay. Ngời ta thờng nói tới hai nhóm
nguyên nhân hạn chế của kế hoạch hoá là:
1. Khoảng cách giữa các lợi ích kinh tế
trên lý và kết quả đạt đợc trong thực tế kế
hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội.
2. Nhợc điểm cơ bản trong quá trình kế
hoạch hoá, đặc biệt là những khiếm khuyết
liên quan đến năng lực, chất lợng bộ máy và
thực thi kế hoạch. Chính vì thế, cần phải đợc
bổ sung bởi thị trờng và cơ chế thị trờng
trong việc quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô.
Nền kinh tế thị trờng tất yếu vận động
theo cơ chế thị trờng. Thị trờng và cơ chế
thị trờng là những phạm trù kinh tế khách
quan và là phơng tiện để đạt mục tiêu kinh
tế. Một mặt, nó có tác dụng tích cực, kích thích
các nhà kinh doanh cạnh tranh, cải tiến sản
xuất, kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến mặt
hàng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả
kinh tế lợi nhuận. Song mặt khác, thị trờng
và cơ chế thị trờng có những hạn chế. Các
nghiên cứu đã tổng thể kết thành 5 mặt hạn
chế và khuyết tật của cơ chế thị trờng nh
sau:

nớc thông qua các công cụ và biện pháp,
trong đó kế hoạch hoá mang tính tổng hợp và
định hớng. Các nhà kinh tế học Phơng Tây,
khi phân tích cơ chế thị trờng cũng phải thừa
nhận rằng, song song với việc mở rộng thị
trờng cần phải có sự can thiệp của nhà nớc
thông qua kế hoạch hoá. Điều đó không phải
chỉ vì thị trờng, cơ chế thị trờng có khuyết
tật, mà còn vì xã hội đặt ra những mục tiêu mà
thị trờng và cơ chế thị trờng dù có hoạt
động tốt cũng không đáp ứng đợc.
Nh vậy, có thể nói rằng, thực chất mối
liên hệ giữa kế hoạch hoá và cơ chế thị trờng
là mối quan hệ hữu cơ, nội tại của hai bộ phận
hợp thành cơ chế vận hành nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, là mối
quan hệ giữa quản lý nhà nớc và sự điều tiết
của cơ chế thị trờng.
KT-ML
Thứ hai, thực chất của mối quan hệ kế
hoạch và cơ chế thị trờng có thể đợc hiểu là
sự kết hợp điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch
và điều khiển gián tiếp thông qua cơ chế thị
trờng các hoạt động kinh tế trong xã hội.
Chúng ta đều biết rằng, trong tất cả mô
hình kinh tế đợc đúc kết đến nay trên thế giới
đều có hai dạng điều tiết kinh tế; một là, điều
khiển trực tiếp bằng kế hoạch và các biện
pháp hành chính. Hai là; điều khiển gián tiếp
thông qua thị trờng, vận dụng cơ chế thị

Adam Smith cũng nhận thấy rằng đôi khi nhà
nớc cũng có nhiệm vụ kinh tế nhất định; đó
là trờng hợp các nhiệm vụ kinh tế vợt quá
khả năng của một doanh nghiệp nh: làm
đờng giao thông, xây dựng bến cảng, đào
các con kênh lớn lĩnh vực của ngoài nhà
nớc ra, không ai đảm nhận đợc. Nh vậy, rõ
ràng là kinh tế càng phát triển, xã hội hoá sản
xuất càng mở rộng, thị trờng càng phát triển
càng cần có sự quản lý của nhà nớc đối với
nền kinh tế. Tuy vậy, nhìn chung các nhà kinh
tế vẫn coi tự do kinh tế là sức mạnh của nền
kinh tế thị trờng, quy luật kinh tế là vô địch,
mặc dù chính sách kinh tế có thể kìm hãm hay
thúc đẩy ở một mức độ nhất định sự hoạt
động của nó.
Vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX,
nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra thờng
xuyên, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới những năm 1929 1933, cho thấy,

bàn tay vô hình không thể đảm bảo cho nền
kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa phát triển
ổn định. Hơn nữa, trình độ xã hội hoá sản xuất
phát triển cao đã làm cho các nhà kinh tế thấy
rõ là cần có một lực lợng nhân danh xã hội
can thiệp vào quá trình hoạt động của thị
trờng, góp phần điều tiết kinh tế. Từ đó, nhà
kinh tế học ngời Anh John May nard Keynes
(1884 - 1946) đã đa ra lý thuyết nhà nớc

rằng: thực chất của vấn đề kế hoạch hoá và
thị trờng, cơ chế thị trờng, xét từ góc độ nhà
nớc, có thể đợc coi là sự kết hợp giữa điều
khiển trực tiếp của nhà n
ớc bằng kế hoạch
và điều khiển gián tiếp thông qua cơ chế thị
trờng đối với các hoạt động kinh tế. Thực tế
ngày càng chứng tỏ, sẽ hợp lý và hiệu quả
hơn nếu thông qua công cụ kế hoạch hoá mà
nhà nớc điều tiết thị trờng để thị trờng điều
tiết sản xuất và điều chỉnh các hàng vi của
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh
tế theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị
trờng (kế hoạch hoá và cơ chế thị trờng) sẽ
càng có thêm điều kiện giải phóng, phát huy
lực lợng sản xuất, đẩy nhanh sự phát triển
kinh tế xã hội.
Mối quan hệ giữa kế hoạch hoá và cơ
chế thị trờng (giữa kế hoạch và thị trờng)
đợc thực hiện ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô và ở
trong tất cả các khâu của quá trình tái sản
xuất xã hội - sản xuất phân phối - trao đổi và
tiêu dùng và cả trong kế hoạch phát triển kinh
tế lẫn trong kế hoạch phát triển xã hội.
Mối quan hệ giữa kế hoạch hoá và cơ
chế thị trờng trong phát triển kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa theo nội
dung định hớng chung là: Kết hợp tính định
hớng và cân đối của kế hoạch với tính năng

cận và tạo môi trờng cho thị trờng vận động
phù hợp với quy luật, chứ không thể áp đặt
quyền lực hành chính lên thị trờng.
- Phải xuất phát từ nhu cầu thị trờng,
nghiên cứu thị trờng để lựa chọn các mục
tiêu và phải hợp lý.
- Trong điều kiện nớc ta, khi nền kinh tế
thị trờng trong quá trình hình thành và phát
triển thì kế hoạch hoá có nhiệm vụ góp phần
tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trờng,
hoàn thiện các loại thị trờng đi đôi với việc
xây dựng khung khổ pháp lý và thể chế, tăng
cờng sự kiểm tra, giám sát của nhà nớc để
thị trờng hoạt động năng động, có hiệu quả,
có trật tự kỷ cơng trong môi trờng cạnh
tranh lành mạnh.
KT-ML
- Kế hoạch hoá nhằm xây dựng các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội, các cân đối lớn
của nền kinh tế, tính toán sức mua trên thị
trờng, các biện pháp bảo đảm cân đối cung
cầu để định hớng cho sự vận động của thị
trờng, bảo đảm cho nền kinh tế ổn định, tăng
trởng và có hiệu quả.
- Kế hoạch hoá cần nắm chắc và sử
dụng linh hoạt các công cụ kinh tế, các chính
sách tài chính, tiền tệ, thuế, lãi suất, tỷ giá
để điều chỉnh sự hoạt động của thị trờng
hớng theo mục tiêu đã xác định.
iii. Kết luận

xuất bản chính trị Quốc gia. Hà nội, 1999.
[4]. GS.TS. Lơng Xuân Quý (chủ biên). Cơ chế thị
trờng và vai trò của nhà nớc trong nền kinh tế
Việt Nam. NXB thống kê. Hà nội,1994
[5]. Mã Hồng ( chủ biên). Kinh tế thị trờng XHCN,
Nhà xuất bản chính trị Quốc gia. Hà nội,1995


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status