Tiểu luận:
Triết học "Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam"
1
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I/ MÂU THUẪN LÀ NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC CỦA MỌI VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT
TRIỂN.
1. Nội dung của qui luật
2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con người
II/ Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
III/ Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Cơ chế thị trường và những mâu thuẫn xunh quanh nó
3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
4. Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ
nghĩa
5. Thực trạng và những mâu thuẫn nảy sinh giữa các thành phần kinh tế ở nước
ta
a) Thực trạng các thành phần kinh tế của nứơc ta hiện nay.
b) Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
6. Tính tự phát và tính tự giác là hai mặt đối lập trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2
7. Mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê mướn
4
B. NỘI DUNG
I/ MÂU THUẪN LÀ NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC CỦA MỌI VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT
TRIỂN
1. Nội dung của qui luật
Qui luật mâu thuẫn còn được gọi là qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, là một trong ba qui luật của phép biện chứng. Nghiên cứu qui luật này để thấy rõ
được nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển
Trong thế giới vô vàn sự vật hiện tượng, mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại được đều là
một thể thống nhất được tạo thành bởi các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối
lập nhau và phát triển ngược chiều nhau, tạo thành mâu thuẫn tồn tại trong lòng sự vật
hiện tượng đó.
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến sự vật kết thúc. Trong cùng một sự
vật, hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu thuẫn, khi mâu
thuẫn này được giải quyết thì mâu thuẫn khác lại hình thành và cứ như vậy thế giới
vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng.
a) Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến.
Trong quan điểm của triết học Mác thì rõ ràng vật chất tự thân vận động, nó hoàn
toàn không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào, kể cả con người.Chính vì vậy
mà khi thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động thì nó đã bao hàm mâu thuẫn
là một hiện tượng khách quan, nó không những không lệ thuộc vào ý thức của con
người mà còn chi phối, qui định cả hoạt động thực tiễn của con người.
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Trong xã hội, có những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
b) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
5
Đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, khuynh hướng phát triển ngược
chiều nhau, cùng tồn tại bên trong sự vật, hiện tượng và tạo nên sự vật hiện tượng đó.
Không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng hình thành nên mâu thuẫn. Bởi chính bên
đựng mâu thuẫn được thể hiện ở những mặt, những thuộc tính, khuynh hướng phát
triển trái ngược nhau. Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì sự vật mới ra đời kéo theo
mâu thuẫn mới tồn tại trong sự vật đó Cứ như vậy thế giới vật chất của chúng ta luôn
vận động biến đổi. Với câu nói nổi tiếng của Hêra crít càng minh chứng rõ điều này:
“Không ai có thể tắm trên cùng một dòng sông” .
2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con người
Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội dưới
nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn
cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu, mâu
thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, việc
phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng. Như chúng ta đã biết, trong mỗi một sự
vật, hiện tượng, không chỉ có một mâu thuẫn mà cùng một lúc có thể có rất nhiều mâu
thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là điều tất yếu, nhưng không thể cùng một lúc chúng
ta giải quyết được tất cả các mâu thuẫn. Chính vì thế mà phải xác định xem mâu thuẫn
nào cần phải giải quyết trước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Bất cứ địa phương nào, cơ
quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó,
lại có một công việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong
địa phương hoặc cơ quan đó phải xem xét kĩ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho
đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoặch,
gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có
ngăn nắp “
Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ ràng, đã có
7
sự phê phán đối với “sự trì trệ” nhưng không xác định được mâu thuẫn nào cần được
giải quyết trước, và chúng được thực hiện theo sự nhất quán nào, vào thời gian
nào,trong điều kiện nào. Từ đó dẫn đến hiện tượng luống cuống, hỗn độn, mất ổn định
của nhà nước và xã hội.
đề hiện có mà nó còn cho thấy rõ khuyết tật bên trong kìm hãm sự phát triển : nền kinh
tế không có động lực, không có sức đua cạnh tranh, không phát huy được tính chủ
động sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không
gắn với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn áp ý chí khách quan và triệt tiêu mọi động lực
và sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt
hiệu quả thấp, nhiếu mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không được thực hiện.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trường tự do chen lẫn thị trường có tổ chức, sự
lẳng lặng vi phạm các qui tắc, các chuẩn mực lúc bấy giờ là những phản ánh sự bất lực
của một cơ chế quản lý cứng nhắc. Đứng trước tình hình đó, Đảng đã kịp thời có những
chuyển biến, bắt đầu uốn nắn những lệch lạch trong phong trào hợp tác hoá, công
nghiệp hoá đến việc thay đổi thể chế chính sách. Nghị quyết Trung ương lần thứ VI
được đánh dấu như một cái mốc trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: cho
sản xuất bung ra, thừa nhận quan hệ hàng hoá - tiền tệ, cho tự do lưu thông. Và như thế
nền kimh tế hàng hoá nhiều thành phần ra đời, tạo tiền đề cần thiết để chuyển sang nền
kinh tế thị trường. Đó là một hệ quả tất yếu, là bước phát triển không thể thiếu trong
nền kinh tế
Trên con đường đi lên chủ ngihĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện
nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã
9
hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Đó chính là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó là
thước đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam, mặc dù nhà
nước đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho LLSX – QHSX phát triển song
song đồng bộ. Nhưng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường thì LLSX luôn tỏ ra mâu thuẫn với QHSX.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị
trường, thì ngược lại chúng ta lại chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách
để tạo động lực và điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động,
phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Việc thí điểm cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước còn làm chậm. Chưa quan tâm tổng kết thực tiễn, kịp thời chỉ ra
phương hướng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác, để hợp tác xã nhiều nơi tan rã hoặc
chỉ còn là hình thức, cản trở sản xuất phát triển, chưa kịp thời đúc kết kinh nghiêm,
giúp đỡ các hình thức kinh tế hợp tác mới phát triển. Chưa giải quyết tốt một số chính
sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt
thành phần kimh tế này. Quản lý kinh tế hợp tác liên doanh với nước ngoài còn nhiều
sơ hở. Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Công tác tài chính, ngân hàng,
giá cả, kế hoạch hoá, qui hoạch xây dựng, quản lý đất đai còn yếu kém, thủ tục đổi mới
hành chính chậm. Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng, chưa
phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thị trường. Quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở,
tiêu cực, một số trường hợp gây ra tác động xấu với sản xuất. Chế độ phân phối thu
11
nhập còn bất hợp lý, bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn Đó là một số hạn chế
của QHSX kìm hãm LLSX phát triển và điều đó làm cho quá trình xây dựng đất nước
của ta gặp nhiều khó khăn.
Một trong những vấn đề bức xúc đối với chúng ta hiện nay đó là việc làm, tình trạng
thất nghiệp là một biểu hiện rõ ràng để chứng tỏ được rằng giữa LLSX – QHSX có sự
mất cân đối.
Khi QHSX phù hợp, nó không những giải phóng được sức sản xuất mà còn tạo tiền đề
để thúc đẩy bước phát triển của LLSX. Vì vậy vấn đề đặt ra cần đặt ra là làm thế nào
để giải quyết được mâu thuẫn này?
chứng khoán, thị trường bảo hiểm, Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, thị
trường lao động. Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân, từ đó nâng cao đời
sống xã hội.
Và điều cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng nhất
trong việc cân bằng mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. . Hiện nay ở nước ta, một số
hình thức sở hữu đã được hình thành, một số hình thức khác đang được khôi phục hoặc
mới bắt đầu hình thành. Chế độ nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là hoàn toàn
có cơ sở khách quan. Đó là những thay đổi diễn ra trong suốt quá trình phát triển kinh
tế. Trình độ phát triển LLSX và xã hội hoá sản xuất trong các khu vực kinh tế quốc dân
không giống nhau. Có những khoảng cách đáng kể trong phát triển kỹ thuật ở các xí
nghiệp, các ngành, các vùng khác nhau. Chính vì vậy mà cần điều chỉnh lại cơ cấu
QHSH.
Trong việc đổi mới các quan hệ sở hữu, xác lập nhiều hình thức sở hữu, cần phải xem
xét, đánh giá đúng, tăng cường vai trò chủ đạo của các hình thức sở hữu nhà nước,
bằng cách cải tổ khu vực này: những xí nghiệp nào cần được duy trì, những xí nghiệp
nào cần được giải thể và việc giải thể đó ra sao, là những vấn đề hết sức phức tạp.
Chính vì thế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa càng đòi hỏi phải có sự điều hành hợp lý của Nhà nước.
13
2. Cơ chế thị trường và những mâu thuẫn xunh quanh nó
Thị trường là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, do vậy kinh tế hàng hoá
càng phát triển thì thị trường càng được mở rộng, ngược lại, thị trường càng được mở
rộng thì càng thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đó là mối quan hệ biện chứng gắn
bó hữu cơ với nhau. Và xunh quanh mối quan hệ biện chứng đó là những mâu thuẫn
khách quan, tồn tại trong cơ chế thị trường.
Các bộ phận hợp thành cơ ché thị trường là :
Giá cả thị trường: là thứ giá cả hình thành trên thị trường bởi sự tác động của các lực
thị trường. Trên mỗi thị trường, mỗi hàng hoá, dịch vụ đều có một giá nhất định và
toàn bộ những giá cả đó tạo thành hệ thống giá cả thị trường
Cầu hàng hoá: là số lượng hàng hoá mà người mua mong muốn mua và có khả năng
quyền đa phương còn có cạnh tranh, nên giá cả cũng luôn biến đổi
Thị trường cạnh tranh độc quyền: là thị trường, trong đó, có nhiều người bán hàng
cùng một sản phẩm, nhưng sản phẩm của mỗi người có ít nhiều khác nhau về chất
lượng, mẫu mã và giá cả ( ví dụ thị trường sản phẩm ngành dệt, thị trường sản phẩm
ngành giày dép ).
Thực tế trong nền KTTT, thì cạnh tranh mang tính mâu thuẫn, nó vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, vừa là yếu tố kìm hãm, sự phá sản, tình trạng thất nghiệp, sự
phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân cư, và nhất là không thể tránh
khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của KTTT gây ra.
Thực tế cho thấy, sản phẩm hàng ngoại tràn lan trên thị trường Việt nam, lấn áp hoàn
toàn hàng hoá trong nước. Nguyên nhân chủ yếu, đó là do sức cạnh tranh của nước ta
còn yếu, tâm lý người dân muốn dùng hàng ngoại. Mặc dù hàng ngoại bán trên thị
trường có thể đắt hơn so với giá trị thực của nó, song những người mua hàng luôn có
suy nghĩ rằng giữa hàng ngoại và hàng trong nước luôn có sự khác nhau cả về chất
lượng lẫn mẫu mã của sản phẩm. Một số doanh nghiệp nhà nước bị phá sản, phải đóng
cửa vì không đủ sức để có thể cạnh tranh được trên thị trường. Hàng hoá trong nước
15
không được ưa chuộng, do mẫu mã cũng như chất lượng sản phẩm không thể cạnh
tranh được với hàng ngoại được sản xuất với dây truyền công nghệ hiện đại.
16
3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng trưởng
kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vầ lợi ích xã hội.
Trong nền KTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chẳng những không
bị mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Trước hết là phải nói đến ưu điểm
của nền KTTT, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát huy năng lực, trí tuệ, thị trường
được tạo ra là một thị trường tự do, tự do giao dịch KTTT có sự quản lý của nhà
nước, một mặt nó đảm bảo tính ổn định của thị trường, mặt khác nó lại tạo điều kiện tốt
cho hoạt động tham nhũng, buôn lậu của một số người lạm dụng chức trách của
thật kiên quyết.
Một số quan điểm, chủ trương chưa rõ, chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa
được thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chínhtiến hành chậm, thiếu kiên
quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy nhà nước còn công kềnh, trùng lặp chức năng
với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà, không ít trường
hợp trên và dưới, trung ương và địa phương hành động không thống nhất, gây khó
khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảm động lực phát triển. Một số người và
cơ quan do lợi ích cá nhân, cục bộ không muốn đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách
tổ chức bộ máy nhà nước
Trên đây là những tiêu cực của một số cá nhân có chức quyền và lạm dụng nó để tiến
hành mưu lợi riêng cho mình, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế quốc dân. Còn đối
với các chủ thể sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật để chạy theo lợi nhuận. Hiện
tượng làm hàng giả, hàng lậu vẫn tiếp tục phát triển làm ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm.
Như vậy, chính mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nảy sinh trong nền
kinh tế thị trường, càng cho thấy rõ được tầm quan trọng trong vai trò quản lý của nhà
nước đối với việc phát triển kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tiêu cực
trong xã hội đó là sự quản lý yếu kém, không đồng bộ của nhà nước. Chính vì vậy mà
trong nghị quyết trung ương Đảng lần thứ IX, chủ trương chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự
thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng, lãnh đạo tổ chức thực
18
hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Cần nhận thức
rằng: “Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp
đổi mới”.
4. Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ
nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có
con người XHCN. Yêu tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng, bởi con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và
văn hoá. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phung phú về
không làm cho con người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược lại, còn làm tha hoá
bản chất con người, biến con người thành kẻ sùng bái đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả
chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lơị ích cá nhân, sẵn sàng trà đạp lên nhân phẩm, đạo đức
Bên cạnh những tác động tích cực, KTTT còn có nhiều khuyết tật, gây ra những tác
động xấu. Quan hệ hàng hoá, tiền tệ làm sôi động thị trường, nhưng cũng làm sói mòn
nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra đi kèm với nền kinh tế thị trường là hàng
loạt các tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, ma tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng đó là
những vấn đề nổi cộm nhất trong nền KTTT mà không rễ ràng khắc phục.
Những phân tích trên đây cho thấy, KTTT là mục tiêu con người XHCN, là một mâu
thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây thực chất là hai mặt đối lập của
mâu thuẫn xã hội. Giữa KTTT và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất,
vừa có sự đấu tranh. KTTT vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng và phát huy con
người, vừa tạo ra những độc tố để huỷ hoại con người. Việc giải quyết mâu thuẫn này
là một việc không hề đơn giản. Đối với nước ta, mâu thuẫn giữa KTTT và quá trình
xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, bằng sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đảng ta xác định “ sản xuất hàng hoá không
đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách
quan, cần thiết cho công cuộc xây XHCN và cả khi CNXH được xây dựng” . Như vậy
Đảng vạch rõ sự thống nhất giữa KTTT và mục tiêu xây dựng con người của CNXH.
20
Việc áp dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm vĩ mô của
Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh
doanh. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ phát huy được những tác động tích cực to lớn, cũng
như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu cực, khiếm khuyết của nền KTTT. Các
hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực
con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hoá, giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý
sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn, phải ra sức phát
huy các giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc.
Đây chính là công cụ, phương tiện quan trọng để tác động góp phần giải quyết những
mâu thuẫn nêu trên.
gồm: các xí nghiệp tư nhân, hộ tư nhân và cá thể, tuy nhiên việc phân loại này chưa có
sự thống nhất. Mặc dù thành phần kinh tế này mới được hồi sinh và mở rộng, nhưng
cho đến nay đã thực sự phát triển mạnh. Đặc biệt Nhà nước lại tạo môi trường thuận lợi
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cả về chính sách và pháp lý. Các doanh nghiệp
có thể liên doanh, liên kết với nhau, kể cả đầu tư ra nước ngoài, chuyển thành doanh
nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động
Kinh tế cá thể, tiểu thủ: thành phần kinh tế này có thể kinh doanh như các tác nhân
kinh tế độc lập, nhưng cũng có thể là các vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay
hợp tác xã. Ơ đây chúng ta cũng thấy chính sách kinh tế cũng đan xen với nhau, về bản
chất là kinh tế cá thể, tiểu chủ, nhưng biểu hiện ra là các cơ sở gia công cho doanh
nghiệp hoặc hợp tác xã. Kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển trong các ngành cả
ở thành thị lẫn nông thôn, không bị hạn chế mở rộng kinh doanh, có thể tồn tại độc lập,
tham gia các loại hình hợp tác xã, liên kết với các doanh nghiệp lớn bằng nhiều hình
thức. Thành phần kinh tế này dựa trên sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất và lao động
trực tiếp của bản thân người lao động. Kinh tế cá thể có đặc điểm kỹ thuật thủ công,
năng suất lao động thấp, sản xuất nhỏ phân tách, nhưng khi có chính sách kinh tế đúng,
kinh tế cá thể có khả năng đóng góp nhiều cho lợi ích xã hội như : tiền vốn, sức lao
22
động, kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhiên Nhà nước cũng cần có những biện pháp
quản lý thị trường chặt chẽ để hạn chế khắc phục tính tự phát của nó.
Kinh tế quốc doanh: dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, theo số liệu thống
kê năm 1989, cả nước có 12080 xí nghiệp quốc doanh với vốn tương ứng là 10 tỉ đồng
USD. Trong đó công nghiệp chiếm 49,3% tổng số vốn, xây dựng chiếm 9% tổng số
vốn, nông nghiệp chiếm 8,1% tổng số vốn, lâm nghiệp chiếm 1,2% tổng số vốn,
thương nghiệp chiếm 11,6%, các nghành khác chiếm 5,93% tông số vốn. Hàng năm
thành phần kinh tế này tạo ra khoảng 35 – 40% GDP và từ 22 – 30% thu nhập quốc
dân, đóng góp vào ngân sách từ 60 – 80% số thu của ngân sách Nhà nước. Thành phần
kinh tế này nắm giữ toàn bộ công nghiệp nặng, hàng tiêu dùng chiếm tỉ trọng phần lớn
những sản phẩm chủ yếu. Trong tất cả các thành phần kinh tế, thì thành phần kinh tế
này đống vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế. Tuy đã đạt được một số thành tích,
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trường trong điều kiện sản xuất nhỏ là phổ biến, bởi thị trường hàng
hoá luôn luôn biến động, đòi hỏi phải có sự thay đổi nhanh chóng về mẫu mã cũng như
chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng. Đối với đất nước ta
trong điều kiện kinh tế như vậy thì tất nhiên chưa thể thoát khỏi tính tự phát TBCN.
Ngay cả việc chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trường cũng không phải là sự phát triển tự phát, mà là kết quả của sự
nhận thức và vận dụng một cách tự giác xu hướng và quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội trong thời đại ngày nay. Như vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tồn tại sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đó là
tính tự phát và tính tự giác.
Chúng ta thừa nhận rằng, trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay thì tính tự phát vẫn
còn là cái cần thiết và không trành khỏi trong việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa sản
xuất và tiêu dùng, trong vấn đề giải quyết những khó khăn về việc làm, trong lưu thông
hàng hoá Tuy nhiên, nếu để nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tính tự phát thì
24
không thể thực hiện được mục tiêu của CNXH. Còn hoạt động tự giác là hoạt động dựa
trên sự nhận thức đúng đắn xu thế tất yếu và quy luật khách quan của đời sống xã hội,
nhưng nếu có sai lầm trong nhận thức và nhất là sai lầm trên bình diện quốc gia thì, thì
hậu quả của nó thật khôn lường. Trong hoạt động kinh tế cũng vậy, nếu nhận thức sai
về quan điểm, đường lối phát triển, thì rất dễ rơi vào tình trạng phá sản, thất thoát tài
sản quốc gia Việc giải quyết mâu thuẫn giữa tính tự giác và tính tự phát trong phát
triển kinh tế – xã hội là hết sức khó khăn và phức tạp. Không thể một lúc có thể xoá bỏ
hoàn toàn tính tự phát, biến mọi hoạt động của con ngườithành hoạt động tự giác. Phải
phát huy ngày càng cao tính tự giác trên cơ sở nâng cao năng lực nhận thức khoa học
cũng như năng lực tổ chức, quản lý phối hợp hoạt động trên bình diện xã hội, hạn chế
dần tính tự phát trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
7. Mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê mướn lao
động.
Chúng ta phát triển KTTT trong thời kỳ quá độ tức là chấp nhận tồn tại nhiều thành