ĐỀ TÀI
Sự giống và khác
nhau giữa mô hình
kinh tế thị trường
Thụy Điển và kinh tế
thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
1
MỤC LỤC
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3. Kết cấu của tiểu luận 5
1.1. Những vấn đề lý luận chung về nền kinh tế thị trường 6
1.1.1. Khái niệm: 6
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau
theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị
trường 6
1.1.2. Ưu điểm: 6
Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả
hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng
cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì có tỷ suất lợi nhuận cao
hơn cho phép tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía
những người sản xuất có hiệu quả. Ngược lại những người sản xuất có cơ chế sản xuất
kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức
cạnh tranh kém sẽ bị đào thải 6
1.1.3. Nhược điểm: 6
Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn tới bất bình đẳng. Đấy
là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không
hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt trong các khoảng thời
gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không linh hoạt dẫn tới khoảng cách
và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản nó vận động và phát triển ở mức
khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới
đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho
người ta nghĩ rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là
liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn
toàn khác nền kinh tế vận động theo các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội hay
không? Câu trả lời là không. Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII
(1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
hướng, xã hội chủ nghĩa” 9
Bước 3: 10
Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của
nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX(2001)của Đảng ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta
chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu,
quản lý và phân phối. Kinh tế thị trường có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các
thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản
nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10
Bước 4: 10
Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trường toàn cầu, hội nhập kinh tế
MỞ ĐẦU
Mỗi sinh viên khi nghiên cứu về đề tài kinh tế thì giúp trả lời được
những câu hỏi: Phải chăng mỗi một quốc gia muốn có được tăng trưởng kinh
tế và năng suất lao động cao, muốn sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã
hội thì nhất thiết phải sử dụng mô hình kinh tế thị trường? Vì sao mô hình
kinh tế thị trường lại đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia? Kinh tế thị trường hình thành và phát triển như thế nào? Bối cảnh
nền kinh tế thị trường Việt Nam ra đời và quá trình hoạt động của nó diễn ra
như thế nào? Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có đặc điểm gì giống và khác so với nền kinh tế thị trường của các nước khác
trên thế giới? hay cụ thể là với mô hình kinh tế thị trường Thụy Điển.
Tiểu luận kết thúc môn Kinh tế Chính trị với đề tài “Sự giống và khác
nhau giữa mô hình kinh tế thị trường Thụy Điển và kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” sẽ giúp cho chúng ta hiểu được
về nền kinh tế thị trường với những ưu điểm và nhược điểm của nó, đồng thời
thấy được thực tế của nền kinh tế thị trường qua những sự so sánh này, từ đó
có được cái nhìn tổng quát và thực tế hơn và nó dần hình thành cho chúng ta
một tư duy phân tích lôgic về những hiện tượng kinh tế xã hội và những biện
pháp cụ thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho đất nước.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu: Nghiên cứu được sự giống và khác nhau của kinh tế thị trường
Thụy Điển và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu về nền kinh tế thị trường;
Nhiệm vụ 2: Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa kinh tế thị trường ở
Thụy Điển và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chử nghĩa ở Việt
Nam.
3. Kết cấu của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm hai chương:
Chương 1: Nền kinh tế thị trường.
kiện thương mại giữa quốc gia.
1.2. Tính quy luật và sự hình thành kinh tế thị trường.
Trong kinh tế có các quy luật kinh tế khách quan như:
Quy luật giá trị
Quy luật cung-cầu
Quy luật ích dụng giảm biên
Quy luật hiệu suất giảm dần
6
Quy luật chi phí thay thế tăng
Quy luật ảnh hưởng nhất định của lượng tài nguyên tối thiểu
1.2.1. Các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Xu hướng bảo toàn cân bằng của hệ thống
Mâu thuẫn phát triển của hệ thống
Tính chu kỳ của hệ thống
Sức chứa biên của thị trường
Giá trị sử dụng của hàng hóa
Sự kích thích quyền lợi nhà sản xuất
Phân phối thu nhập theo lao động
Sự thay thế và tái tạo tài nguyên vật chất và tài nguyên lao động
Hiệu quả tối ưu của sở hữu hoàn toàn.
1.2.2. Các bước phát triển của nền kinh tế thị trường trong đổi mới tư duy.
Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản
chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về
bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân
phối và mục đích phát triển. Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy
luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các
quy luật của chủ nghĩa tư .
Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự thay đổi so với
trước. Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế
Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là
phân phối theo lao động đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân
phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng
thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh
doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội thể hiện
không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý
tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ
hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự làm
giàu mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp
luật, đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực.
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta
cũng được đổi mới qua nhiều bước.
Bước 1:
Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là kinh
tế thị trường. Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ
không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do
đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao
8
cấp và đề ra chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (một bộ phận của
đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế
mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển
thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta
là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”.
Bước 2:
Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản
đối lập với chủ nghĩa xã hội. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa
VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang hình
thành. Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả
ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Kinh tế thị trường có nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc. Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế
nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Bước 4:
Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trường toàn cầu,
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn. Đại hội X của Đảng
chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa”. Bốn nội dung quan trọng nhất là: nắm vững định hướng xã
hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta, nâng cao vai trò quản lý của Nhà
nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành
phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh với chủ đề: “Tích cực và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, Đại hội đã quyết định đẩy mạnh hoạt
động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh
tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục
tiêu cao nhất. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào
tháng 1-2007 đánh dấu một bước phát triển cao của quá trình hàng chục năm
thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
10
CHƯƠNG 2: SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA MÔ HÌNH KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở THỤY ĐIỂN VÀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.
đặt ra yêu cầu khách quan về sự can thiệp, điều tiết sâu, rộng hơn của Nhà
11
nước vào nền kinh tế. Và mô hình kinh tế mới xuất hiện – mô hình kinh tế thị
trường hiện đại, hay còn gọi là nền kinh tế “hỗn hợp“. Đặc trưng cơ bản của
kinh tế thị trường hiện đại là có “hai người“ tham gia điều tiết nền kinh tế, đó
là thị trường điều tiết ở tầm vi mô, Nhà nước điều tiết ở tầm vĩ mô; có “hai
người” thực hiện các hoạt động đầu tư là Nhà nước và tư nhân. Khó khăn lớn
nhất trong kinh tế thị trường hiện đại là xác định giới hạn sự can thiệp, điều
tiết giữa thị trường và Nhà nước với tính khoa học, khả thi trong những công
cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết kinh tế. Vì giới hạn sự can thiệp và điều
tiết của Nhà nước cũng như của thị trường ở những giai đoạn phát triển khác
nhau của nền kinh tế không phải là bất biến. Trong khi đó, nếu Nhà nước can
thiệp quá sâu, chính sách của Nhà nước không khoa học và thiếu khả thi thì sẽ
làm triệt tiêu những ưu thế, những động lực của thị trường. Ngược lại, nếu
Nhà nước can thiệp không đủ liều lượng thì sẽ tạo điều kiện cho những
khuyết tật của thị trường phát sinh tác động tiêu cực mạnh mẽ. Tương tự,
trong lĩnh vực đầu tư, nếu kinh tế Nhà nước và phạm vi độc quyền của kinh tế
Nhà nước quá rộng, sẽ hạn chế tính năng động, sáng tạo và khả năng thu hút
nguồn lực của kinh tế tư nhân. Ngược lại, nếu tiềm lực kinh tế của Nhà nước
quá yếu, cũng sẽ hạn chế hiệu quả can thiệp, điều tiết của Nhà nước khi cần
thiết và sự thiếu hụt hàng hóa công cộng sẽ trầm trọng.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường trong lịch sử kinh tế
thị trường nhân loại rất đa dạng, phong phú. Cụ thể có một số mô hình điển
hình sau:
- Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu.
- Mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản.
- Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á.
- Kinh tế thị trường ở Trung Quốc.
2.2. Sự giống nhau giữa kinh tế thị trường ở Thụy Điển và kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Có sự chi phối mạnh mẽ của phân công và hợp tác quốc tế trong sx và đời
sống, tạo ra 1 nền KTTT mang tính quốc tế, vượt ra khỏi biên giới quốc gia
động và mở, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2.3. Sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở Thụy Điển và kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam.
2.3.1. Kinh tế thị trường Thụy Điển.
2.3.1.1. Đặc trưng.
Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu có thể phân thành hai “nhánh”. Một
nhánh là kinh tế thị trường “Xã hội phúc lợi“ và “kinh tế thị trường thương
lượng”. Ở Thụy Điển tồn tại kinh tế thị trường “ xã hội phúc lợi” từ những
năm 30 của thế kỷ XX. Với các đặc trưng cơ bản:
13
- Ra đời trong bối cảnh của nước Đức sau chiến tranh thế giới thứ hai và là kết
quả của sự thỏa hiệp giữa 4 trường phái lớn theo đuổi những chủ trương khác
nhau về khôi phục nền kinh tế nước Đức thời hậu chiến.
- Mô hình kinh tế thị trường xã hội là một dạng biến thể của mô hình kinh tế thị
trường tự do. Nhưng nó có nội dung thực chất là sự gắn kết trên cơ sở thị
trường một cách hợp lý giữa các mặt kinh tế - xã hội và chính trị.
- Coi các thị trường chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ và coi
luật pháp, nhà nước, đạo đức, không hề kém quan trọng hơn so với các chính
sách kinh tế, tài chính.
- Coi trọng vai trò điều tiết của nhà nước và phúc lợi xã hội.
2.3.1.2. Chính sách thực hiện.
Mô hình này được xây dựng dựa trên lý thuyết “Ngôi nhà chung cho mọi
người“ của phái Xã hội-Dân chủ, mà đại diện là cựu Thủ tướng Thụy Điển
P.A.Hanson; xuất phát từ mục tiêu của “Chủ nghĩa xã hội chức năng“, với
khẩu hiệu: ”bình đẳng, đảm bảo xã hội, hợp tác và sẵn sàng giúp đỡ“. Trong
mô hình này, sự phát triển được thực hiện kết hợp hài hòa giữa mở rộng phúc
lợi xã hội với kinh tế thị trường tư nhân. Thực hiện mô hình này, Thụy Điển
đã đạt được những thành công nhất định, đưa Thụy Điển từ một trong những
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng các thể chế cho hệ thống này hoạt
động vẫn chưa có đầy đủ. Mãi tới hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Đảng mới ra nghị quyết số 21-
NQ/TW ngày 30 tháng 1 năm 2008 về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Và, mãi tới ngày 23 tháng 9 năm
2008, Chính phủ Việt Nam mới có nghị quyết số 22/2008/NQ-CP ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện nghị quyết 21-NQ/TW.
2.3.2.2. Đặc trưng.
Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc
trưng sau:
• Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị
trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. Các quy luật khách quan của nền
kinh tế thị trường được tôn trọng, các mạch máu kinh tế và các ngành trọng
yếu (khai mỏ, ngân hàng, quốc phòng ) được nhà nước quản lý. Các thông
lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp
lý. Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa.
• Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế. Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân.
15
• Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội
nhập kinh tế thành công.
• Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn. Chú trọng phân
phối lại qua phúc lợi xã hội. Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến
hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công
bằng xã hội; công bằng xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách
phát triển.
loạn và nhiều yếu tố tự phát (mới chỉ có thị trường hàng hoá, còn thị trường
tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động chưa hoặc mới ở dạng manh
nha). thị trường tiền tệ và thị trường vốn vẫn tách biệt. Thị trường sức lao
động có phần chưa thoát khỏi chế độ biên chế, hoặc tự phát. Thị trường thiếu
và còn những rối loạn, cùng với tình trạng luật lệ Nhà nước vừa thiếu vừa bất
hợp lý: còn những gò bó và cả những sơ hở, thủ tục hành chính phiền hà, nạn
tham nhũng tràn lan là môi trường bất lợi cho thị trường phát triển. Trong khi
đó, để đánh giá mức độ phát triển của bất kì nền kinh tế nào, trước hết người
ta nhìn vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Tuy đã có định hướng để xây
dựng một thị trường đồng bộ, nhưng trên thực tế chuyển biến rất chậm.
Nguyên nhân chủ yếu là sự thiếu nhất quán về chính sách, thể chế, nhất là
trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đầu tư, thương mại, tỷ giá, lãi suất. Chúng ta
chủ trương xây dựng một thị trường thống nhất, thông suốt, nhanh chóng hoà
nhập với thị trường thế giới, song nhiều thủ tục hành chính phiền hà còn gây
khá nhiều cản trở. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trước hết là do hậu
quả của cơ chế cũ để lại, từ những quan niệm giản đơn trong việc bố trí cơ
cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cho đến việc duy ý chí trong việc hoạch định chính
sách kinh tế, đặt ý chí chủ quan vào đời sống kinh tế - xã hội không phù hợp
với lợi ích của quần chúng. Tuy có những bước tiến, nhưng về cơ bản các
chính sách kinh tế vĩ mô chưa theo kịp sự phát triển.
Mặt khác phải thừa nhận một thực tế, đây là một sự chuyển đổi khá phức
tạp, là quá trình mà độ dài phải tính bằng thập kỉ mới có thể đi vào quỹ đạo.
Do đó không tránh khỏi thời kì đầu phải chấp nhận tình trạng thị trường
thiếu, rối loạn, tiêu cực, trong khi các nhân tố có sứ mệnh tạo trật tự là hệ
thống ngân hàng, tài chính, bộ máy nhà nước, doanh nghiệp lớn còn yếu kém
và tiêu cực, còn đang ở bước thích nghi.
17
KẾT LUẬN
Nói tóm lại nền kinh tế thị trường là công cụ để phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Để đạt được những mục tiêu về kinh tế thì điều đặt ra cho một
18
của thế giới.
Tuy nền kinh tế thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn hình thành và
phát triển, đang còn gặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta đều tin rằng với sự
lãnh đạo của Đảng, sự điều tiết kinh tế của Nhà nước cũng như sự đoàn kết,
thống nhất và quyết tâm của nhân dân ta nó sẽ phát triển lên một trình độ cao
và sẽ là công cụ quan trọng để chúng ta hoàn thành quá trình đi lên Chủ nghĩa
Xã hội.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo giáo trình Mác- Lênin 1997.
2. Các Mác- Ăng ghen toàn tập, NXB CTQG HN 1995.
3. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần VI.
4. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần VIII.
5. Nghị quyết đại hội IX.
6. Thời báo kinh tế.
7. Tạp chí kinh tế Việt Nam.
20