Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay - Pdf 25









M: 60.22.80 :


:
TS. 

NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY 60
3.1. Phương hướng xây dựng và nâng cao đạo đức công chức
60
3.2. Một số giải pháp xây dựng và nâng cao đạo đức công chức
69
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
2
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thực tiễn cách mạng của mình, Đảng ta rất coi trọng đạo đức và
thường xuyên chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, Đảng viên;
đó cũng là một đặc trưng trong công tác tư tưởng của Đảng. Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi Đảng
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng” [43, tr.158],
“cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo

nhuần quan điểm tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Đó là cội nguồn tư tưởng và sự định hướng giá trị đạo đức của
công chức ở nước ta hiện nay.
Thêm vào đó, qua một số vụ án tham nhũng lớn gần đây, khiến chúng
tôi càng trăn trở về vấn đề đạo đức công chức. Chúng tôi thấy, một trong
những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải khắc phục tình trạng suy thoái,
xuống cấp về đạo đức, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh trong cán bộ
công chức và nhân dân, không thể để tình trạng, vì lợi quên nghĩa, vì lợi bất
chấp cả danh dự và lương tâm nghề nghiệp. Chúng tôi thiết nghĩ, cùng với
việc xây dựng một cơ chế thực thi pháp luật nghiêm minh cũng cần phải ra
sức khích lệ tinh thần yêu mến nghề nghiệp và cương vị công tác; lấy lương
tâm, trách nhiệm, danh dự nghề nghiệp làm việc hợp lẽ công bằng, phục vụ
nhân dân và cống hiến cho xã hội là mục tiêu và lẽ sống của công chức.
Thực tiễn của công cuộc cải cách và đổi mới đất nước trong những năm
qua, sự chuyển đổi của cơ chế kinh tế và sự hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra
nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đạo đức công chức. Chẳng 4
hạn, những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức có sự biến động như thế nào?
Thực trạng và nguyên nhân đạo đức công chức ra sao? Muốn xây dựng và nâng
cao đạo đức công chức ở nước ta hiện nay phải làm gì và làm như thế nào?.
Với mong muốn, góp thêm ý kiến làm sáng tỏ những vấn đề liên quan
đến đạo đức công chức, chúng tôi chọn đề tài: “Đạo đức công chức và xây
dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian gần đây, đạo đức công chức là một vấn đề được sự quan tâm
của nhiều nước trên thế giới và được xem như vấn đề trung tâm của nền công
vụ. Vì thế đã có những cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này. Ở nước ta, đã có
những cơ quan, cá nhân nghiên cứu và công bố một số đề tài khoa học từ cấp

30 và 31 tháng 5 năm 2001. Cuốn sách gồm hai phần: phần thứ nhất, các tác
giả nêu vị trí, vai trò và ý nghĩa vấn đề đạo đức công chức trong nền công vụ;
Phần thứ hai nói về sáng kiến nâng cao đạo đức công vụ của các nước, xuất
phát từ thực tế của đất nước mình, các tác giả nêu những sáng kiến về giải
pháp tổ chức ở tầm vĩ mô cấp nhà nước như xây dựng luật đạo đức, các biện
pháp triển khai bảo đảm thực hiện luật. Trong bài viết của đại biểu Việt Nam,
nhấn mạnh đặc điểm dân tộc và tính giai cấp của vấn đề đạo đức và đưa ra
một số nguyên tắc cơ bản xây dựng đạo đức công chức ở Việt Nam.
Thời gian gần đây, có những bài viết về những “căn bệnh” của công
chức Việt Nam muốn tìm hiểu về nguyên nhân của thực trạng suy thoái về
đạo đức trong công chức như bệnh sợ biết nhiều, bệnh lý lịch, bệnh móc
ngoặc, bệnh bè phái, bệnh địa phương cục bộ. Những “bệnh” đó, có thể có
nhưng không phải là nguyên nhân mà là kết quả nảy sinh trên cơ sở kinh tế -
xã hội của nền sản xuất nhỏ. Hay có bài viết lại cho rằng bệnh của công chức,
xét về mặt đạo đức đó là, bệnh quan liêu, bệnh dối trên lừa dưới, bệnh vô
cảm, bệnh vô trách nhiệm, bệnh nói mà không làm, bệnh tham nhũng [54, 6
tr.1]. Họ chỉ ra bệnh nhưng chưa chỉ ra được nguyên nhân của bệnh. Vì vậy
chúng tôi rất muốn góp phần chỉ ra được nguyên nhân của những thực trạng
đó.
Trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu, chúng tôi có một thuận lợi
là đã tiếp thu tinh thần cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh”, phản ánh nhiều nội dung phong phú và sâu sắc về vấn đề
đạo đức của cán bộ công chức. Đó là những tư liệu và chỉ dẫn quý báu để
chúng tôi triển khai hướng nghiên cứu của mình.
Thêm vào đó, qua kinh nghiệm và sáng kiến của một số nước trong khu
vực và trên thế giới đã giải quyết vấn đề đạo đức công vụ như Thái Lan,
Singapor, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản v.v, là những nguồn tài liệu thực

- Góp phần hoàn chỉnh thêm một bước hệ thống các nguyên tắc đạo
đức công chức.
- Luận giải nguyên nhân thực trạng đạo đức công chức và đề xuất một
số phương hướng, giải pháp nâng cao đạo đức công chức ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu của giảng viên và tài liệu học tập cho sinh viên, nhất là, học viên Học
viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh về vấn đề đạo đức công chức.
- Luận văn làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chuẩn mực đạo đức
công chức trong các văn bản có tính pháp lý của các cơ quan, tổ chức Nhà nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, với danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn được chia làm 3 chương, 6 tiết.

8
9
Chương 1
ĐẠO ĐỨC VÀ ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC

tấm gương đạo đức của các vĩ nhân ở mỗi thời kỳ đóng vai trò định hướng.
Hệ thống giá trị đạo đức mang tính chất tích cực, tiến bộ khi nó phù hợp với
sự phát triển tiến bộ xã hội và thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội.
Quan niệm về đạo đức và các chuẩn mực đánh giá hành vi đạo đức đã
được hình thành từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ, cũng bắt đầu từ đó, trên cơ
sở phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao,
các hệ thống đạo đức đã được hình thành, phát triển và hoàn thiện.
Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp xuất hiện đã làm nảy sinh
những yếu tố kích thích sự xuất hiện những điều xấu, xuất hiện những động
cơ thấp hèn, nạn trộm cắp, tham lam, sự gian trá, ngày càng tăng. Loài người
bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới phức tạp - đó là nền đạo đức đối
kháng trong xã hội có đối kháng giai cấp. Khởi đầu là sự đối kháng đạo đức
của nô lệ với đạo đức của chủ nô, rồi đến đạo đức của nông dân với phong
kiến, vô sản với tư sản. Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi trong xã hội cho
phép mình là người “có đức hạnh, người thượng lưu, quý tộc”, còn những
người lao động như nô lệ, nông dân, vô sản là những người “không có phẩm
hạnh, những người thấp hèn, hạ đẳng”. Dựa vào các thiết chế xã hội, giai cấp
thống trị quy định nội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay
gắt là quan hệ chủ - tớ, trên - dưới, mệnh lệnh - phục tùng. Tính chất đó cũng
quan hệ với những nội dung khác nhau của quan niệm tốt, xấu trong giai cấp
này hay giai cấp kia.
Giai cấp công nhân lên nắm chính quyền, tạo những tiền đề về kinh tế,
chính trị, xã hội để người lao động từng bước được giải phóng, trong hoàn
cảnh ấy, đã nảy nở một nền đạo đức mới. Đó là đạo đức của giai cấp công
nhân - đạo đức cộng sản. Đạo đức cộng sản vừa thể hiện những giá trị, chuẩn 11
mực, quy tắc ứng xử phù hợp lợi ích của giai cấp công nhân, vừa hàm chứa
những nhân tố đạo đức chung của cả loài người. Vì thế, có thể nói, đạo đức

qua phong tục, tập quán, truyền thống, vận động, biến đổi và phát triển thông
qua các hoạt động và giao tiếp xã hội.
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố, cả chủ quan lẫn khách
quan của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ cá
nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội càng có tính tự giác, càng có tính xã hội
rộng lớn thì hoạt động của con người càng mang tính đạo đức. Bởi vì, trong
sự tồn tại và phát triển của đời sống cá nhân, mỗi người tự do lựa chọn và sự
lựa chọn có trách nhiệm nảy sinh trong quan hệ với cá nhân khác, với xã hội,
chấp nhận sự kiểm tra, những yêu cầu của xã hội để nhận được sự đánh giá,
sự ủng hộ của xã hội. Đối với xã hội, những quy tắc, chuẩn mực đạo đức đã
đưa ra, yêu cầu mỗi cá nhân điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với
lợi ích chung của xã hội.
Lịch sử xã hội loài người trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội và
tương ứng là có năm hình thái đạo đức, nhưng đối với mỗi dân tộc bước tiến
lịch sử đó cũng biểu hiện rất khác nhau. Sự khác nhau đó là do sự phát triển
của phương thức sản xuất, do hoàn cảnh địa lý, dân số cũng hoàn toàn khác
biệt với dân tộc khác. Tồn tại xã hội có sự thể hiện khác nhau thì ý thức xã hội
nảy sinh trên đó và do nó quy định cũng khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu
bản chất đạo đức ta cũng phải thấy rõ sự biểu hiện của nó một cách phong phú
trong tính chất dân tộc. Hơn nữa, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh tồn tại xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội, nhưng nó cũng có tính độc
lập tương đối của nó; nghĩa là, giữa các hình thái ý thức xã hội cũng có sự tác
động và ảnh hưởng lẫn nhau. Vì vậy, ý thức đạo đức cũng chịu sự tác động và
ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác như ý thức chính trị, ý thức
pháp luật, ý thức triết học, ý thức tôn giáo. Tổng hoà những nhân tố khác biệt 13
quy định đó, tạo ra bản sắc đạo đức riêng của mỗi dân tộc. Ph. Ăng ghen viết:
“Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những

Về vấn đề này, Ph. Ăng ghen đã cho chúng ta hiểu rõ. Ông viết: “Cho tới nay
xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng
luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi
ích của giai cấp thống trị, hoặc là khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó
tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích
tương lai của những người bị áp bức” [31, tr.137].
Trong xã hội tồn tại nhiều giai cấp khác nhau, nhưng hệ thống đạo đức
được áp đặt cho toàn xã hội là đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù, trong
cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của
mình. Thực hiện sự áp đặt đó là vì giai cấp thống trị giữ địa vị thống trị trong
đời sống kinh tế và do đó, nó cũng giữ vai trò thống trị trong đời sống tinh
thần; nó luôn luôn hướng tới làm cho đạo đức của mình trở thành yếu tố
thống trị trong đời sống xã hội. Hơn nữa, giai cấp thống trị nắm khâu tuyên
truyền, điều khiển toàn bộ quá trình sản xuất tinh thần, trong đó, có các giá trị
đạo đức phù hợp với lợi ích của nó và bắt buộc mọi thành viên trong xã hội
phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị. Từ sự áp đặt,
các chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị trở thành phổ biến trong xã hội,
đồng thời chúng ngày càng được củng cố và trở thành thói quen, thành phong
tục trong cộng đồng. Cũng vì lẽ đó mà chúng ta thấy, đạo đức của giai cấp
thống trị thường có sức sống dai dẳng trong xã hội.Trong xã hội có giai cấp,
nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp. Mỗi giai cấp đều sử
dụng đạo đức như là công cụ bảo vệ lợi ích của mình. Do vậy, tính giai cấp
của đạo đức là sự phản ánh và thể hiện lợi ích của các giai cấp. Mỗi giai cấp
trong xã hội có quan niệm và có hệ thống đạo đức riêng nên sự tác động của
chúng cũng khác nhau, thậm trí triệt tiêu nhau. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế 15
phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ. Các giai
cấp đã lỗi thời, phản động thì đại diện cho nền đạo đức suy thoái.

thức đạo đức đã chuyển hoá các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức của xã hội
thành ý thức đạo đức cá nhân.
Nhận thức đạo đức hướng vào chính bản thân nghĩa là, chủ thể lấy bản
thân mình làm đối tượng nhận thức. Quá trình nhận thức bản thân mình về
mặt đạo đức đó là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự phán xét mức độ,
khả năng hiểu biết và hành vi đạo đức của mình bằng cách đối chiếu với
những chuẩn mực chung của xã hội đặt ra. Trên cơ sở đó, dần dần hình thành
các nguyên tắc sống của chủ thể.
Nhận thức bao giờ cũng là quá trình tự nhận thức của chủ thể dù hướng
ra “bên ngoài” hay “hướng vào” chính bản thân mình. Trong quá trình tự
nhận thức, chủ thể cũng chịu áp lực từ hai phía: dư luận xã hội và tự vấn của
lương tâm. Lắng nghe, quan tâm đến dư luận xã hội bình phẩm đánh giá về
mình (về người khác nữa, đồng thời, lương tâm tự phê bình, tự động viên, an
ủi, giúp cho chủ thể điều chỉnh hành vi và quan hệ đạo đức của mình theo yêu
cầu của xã hội. Tự nhận thức, giúp cho chủ thể ý thức được rõ ràng trách
nhiệm và nghĩa vụ đạo đức của mình đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,
tập thể, dân tộc, giai cấp, tổ quốc. Trên cơ sở nhận thức mà chủ thể có được
các tri thức đạo đức và tri thức đạo đức là điều kiện cần để có được hành vi,
quan hệ đạo đức đúng đắn.
1.1.2. Khái niệm công chức và đạo đức công chức
1.1.2.1. Khái niệm công chức
Công chức là một bộ phận rất quan trọng của nền hành chính quốc gia,
tầm quan trọng đó tựa như xương sống của cơ thể. Với bộ phận quan trọng
như vậy, nên các quốc gia đều quan tâm xây dựng đội ngũ công chức vững
mạnh về mọi mặt. Đó là, công chức phải có đầy đủ các phẩm chất chính trị, 17
đạo đức, tinh thần, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để hiện thực hoá những
tiêu chuẩn và nghĩa vụ của công chức bằng sự nỗ lực cá nhân và bằng những

- Những người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhịêm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được
xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi
ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu
chuẩn riêng;
- Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm
vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là
sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Theo Pháp lệnh công chức quy định, khái niệm công chức ở nước ta có
ngoại diên quá rộng. Bởi lẽ, công chức khi thi hành công vụ là làm theo mệnh
lệnh, quyết định của cấp trên nhưng trong hệ thống Nhà nước ta có đối tượng
công chức như đại biểu Quốc hội, giáo viên, bác sĩ, thẩm phán, họ không làm
theo quyết định của cấp trên mà theo chương trình (đối với giáo viên), theo
phác đồ y lý (đối với thầy thuốc), theo luật (đối với thẩm phán), theo kiến
thức, thực tiễn, luật (như đối với đại biểu Quốc hội). Thực tế, khi quan niệm
cán bộ đảng, đoàn thể, thầy giáo, thầy thuốc, thẩm phán là công chức chỉ có ý
nghĩa coi họ là cán bộ nhà nước. Do đó, cũng cần phải làm rõ: công chức
không đồng nhất với khái niệm người nhà nước mà có đối tượng người nhà
nước không phải là công chức. Theo xu hướng gần đây được thảo luận tại 19
Quốc hội, sẽ đưa một số đối tượng ra ngoài không thuộc công chức như giáo

nên nó cũng mang tính giai cấp, tính dân tộc. Chẳng hạn, đạo đức nghề y (y
đức) từ thời cổ đại đến nay đều có những chuẩn mực chung, lấy việc cứu
người làm điều thiện, nhưng người thầy thuốc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
nâng những giá trị đạo đức đó lên phù hợp với đạo đức của con người xã hội
chủ nghĩa. Đạo đức nghề nghiệp mang tính giai cấp nên quan điểm về nghề
nghiệp, thái độ đối với nghề nghiệp trong mỗi chế độ xã hội cũng khác nhau.
Dưới chủ nghĩa tư bản, như C.Mác và Ph.Ăngghen nhận xét trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Giai cấp tư sản không để lại một mối
quan hệ nào khác ngoài mối lợi là trả tiền ngay không tình, không nghĩa. Giai
cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt
tình hiếp sĩ, của cảm tình tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính
toán ích kỷ. Nó đã biến những phẩm giá của con người thành một giá trị trao
đổi đơn thuần [28, tr. 600].
Đạo đức nghề nghiệp có vai trò xã hội to lớn, nó không chỉ là một chi
nhánh đặc sắc trong hệ thống đạo đức xã hội mà còn là một cấp độ phát triển
đạo đức tiêu biểu, một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. Chẳng hạn, trong
quá trình xây dựng đạo đức mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mỗi cán
bộ công chức đều phải lấy: yêu cương vị công tác, yêu nghề nghiệp, chân
thành giữ chữ tín, làm việc hợp đạo lý, làm việc có hiệu quả, năng xuất cao,
phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc và cống hiến cho xã hội, làm nội dung
chủ yếu của đạo đức nghề nghiệp. Đó là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nói
chung mà tất cả các ngành nghề công chức đều phải tuân theo.
Nói đến đạo đức là nói tới lương tâm, trong hoạt động nghề nghiệp của
mình, công chức cũng phải có lương tâm. Lương tâm nghề nghiệp là biểu
hiện tập trung nhất của ý thức đạo đức, vừa là dấu hiệu, vừa là thước đo sự
trưởng thành của đời sống đạo đức cá nhân. Mỗi công chức, với tư cách là 21
một chủ thể đạo đức đã trưởng thành bao giờ cũng là một người sống có

vẫn cảm thấy đó là chuyện bình thường không hề gợn lên một chút day rứt
của lương tâm.
Giữ được đạo đức, trước hết phải giữ được lương tâm, bởi vì, làm điều ác
lần thứ nhất thì lương tâm còn dằn vặt, cắn rứt nhưng điều ác được lặp lại thì
lương tâm biến mất. Đó cũng là thời điểm báo trước sự đổ vỡ của lòng tự tin,
lòng tự trọng nghề nghiệp và danh dự của công chức. Trong thực tiễn đạo đức
công chức, người có lương tâm trong sạch là người có khả năng tự ý thức, tự
đánh giá được bản chất lương thiện của chính mình. Ngược lại, mọi giá trị đạo
đức sẽ tiêu tan khi không còn cảm giác về lương tâm, trước những việc làm sai
trái của bản thân trong hoạt động chuyên môn cũng như trong cuộc sống.
Nghĩa vụ đạo đức không chỉ là sự đòi hỏi, yêu cầu của cơ quan, đoàn
thể, của xã hội đối với công chức mà còn là nhu cầu của sự tiến bộ, hoàn thiện
nhân cách của bản thân mỗi người. Vì thế, nghĩa vụ đạo đức không phải là sự
ép buộc từ bên ngoài mà là sự gắn bó chặt chẽ với ý thức về lẽ sống, hạnh
phúc và triết lý sống của công chức. Trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp
cũng vậy, nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi công chức phải giải quyết
một cách hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích của đối tác và lợi
ích của toàn xã hội. Mỗi bước tiến bộ của công chức đều gắn liền với sự phát
triển của cơ quan, đoàn thể, sự tiến bộ xã hội và sự trưởng thành về mặt nhân
cách công chức. Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp ở lĩnh vực công tác
được phân công đảm nhận, mỗi cán bộ công chức lựa chọn một triết lý nghề
nghiệp riêng không những không mâu thuẫn với lợi ích và triết lý sống của
người khác, của cơ quan, xã hội mà còn đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi
chung góp phần xây dựng nền văn hoá công sở đa sắc tiến bộ, lành mạnh.
Nếu nghĩa vụ pháp lý là sự bắt buộc thì nghĩa vụ đạo đức lại chứa đựng
nguồn gốc bên trong của mỗi chủ thể đạo đức là chủ yếu - nghĩa là, nó bao 23
chứa tình cảm trách nhiệm của công chức trước người khác, trước tập thể và

văn bản mang tính pháp lý khác. Ngay từ khi đang tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp vào giai đoạn cam go, ác liệt nhất, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ công chức của nước Việt
Nam mới. Ngày 20/05/1950, Người ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế
công chức. Trong quy chế này, vấn đề đạo đức công vụ đã được thể hiện.
Chẳng hạn, “Điều 2: Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành
với chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những
việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà
nước. Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Đến
nay, những quy định trên vẫn còn nguyên giá trị và nội dung đó vẫn được thể
hiện trong các văn bản mới mang tính pháp lý.
Các văn bản mang tính pháp lý thể chế hoá những chuẩn mực đạo đức
thành quy phạm pháp luật như Pháp lệnh cán bộ, công chức công bố năm
1998 và sửa đổi năm 2003; Pháp lệnh chống tham nhũng công bố năm 1998;
Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí công bố năm 1998, Pháp lệnh
về phòng chống các tệ nạn xã hội. Chẳng hạn, những nguyên tắc đạo đức cơ
bản của người cán bộ công chức được thể hiện trong điều 6 chương II của
Pháp lệnh công chức: “Tuyệt đối trung thành với Nhà nước cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia. Chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước; thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật.”.
Điều 15 chương III: “Cán bộ công chức không được chây lười trong công tác,
trốn tránh trách nhiệm và thoái thác nhiệm vụ, công vụ; không được gây bè
phái, mất đoàn kết, cục bộ hoặc tự ý bỏ việc”. Điều 16 chương III: “Cán bộ

Trích đoạn Xây dựng đạo đức công chức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để xây dựng và hiện thực hoá đạo đức công chức ở nước ta Xây dựng chuẩn mực nhằm cụ thể hoá nguyên tắc đạo đức công chức Tạo môi trường xã hội lành mạnh, điều kiện làm việc tốt nhất và chế độ đãi ngộ công chức thoả đáng để thu hút người có tài, có đức Nêu cao tinh thần tự tu dưỡng đạo đức cá nhân gắn với cơ chế kiểm tra giám sát của cơ quan, đoàn thể và nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status