Vai trò nhân tố chủ quan với việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Quảng Ninh hiện nay - Pdf 25

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA HÀ N Ộ I
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BÒI DƯỠNG G IẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PH Ạ M T H Ị L Ệ N G Ọ C
VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẺ HÀNG HOÁ
NHIỀU THÀNH PHẦN Ỏ QUẢNG NINH HIỆN NAY
L UẬ N V ĂN T H Ạ C s ĩ T R I É T H Ọ C
C H U Y Ê N N G À N H : T R IÉ T H Ọ C
M Ã S Ố : 60 22 80
N G Ư Ờ I H Ư Ớ N G DẨ N K H O A H Ọ C : T S. L Ê V Ă N Lực
HÀ NỘI - 2008
B Ả N G Q U Y Ư Ớ C N H Ữ N G C H Ữ V IÉ T T Ắ T
C NH : côn g nghiệp hóa
C N H , H ĐH : công nghiệp hóa, hiện đại hóa
C N X H; chủ ng hĩa xã hội
U B N D: Uỷ ban Nhân dân
X H C N: xã hội chủ nghĩa
M Ụ C L Ụ C
Mờ đầu 1
Chương 1. NHÂN TỐ CHỦ QUAN ở QUẢNG NINH TRONG PHÁT
TRIÉN KINH TÉ - XẰ HỘI CỬA TỈNH HIỆN NA Y

8
1.1. Vấn đề nhân tố chủ quan ở Quảng Ninh 8
1.1.1. Khái niệm nhân tổ chủ quan 8
1.1.2. Cấu trúc nhân tố chủ quan
13
1.2. Vai trò nhân tố chủ quan ờ Quảng Ninh trong phát triển kinh tế -
xã hội của tình 18
1.2.1. Đặc điểm nhân tố chù quan ờ tỉnh Quảng Ninh


51
57
60
66
69
69
70
76
78
80
82
Quàne Ninh đối với nền kinh tể hàng hoá nhiều thành phần của
tinh
MỘT SỐ GIÀI PHÁP NHẦM PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ
ĐỘNG, TÍCH CỰC. SÁNG TẠO CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN
TRONG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU
THÀNH PHẢN Ở QUẢNG NINH HIỆN NAY

Những vấn đề đặt ra đổi với Tỉnh uỷ và ƯBND tỉnh Quảng Ninh
trong việc phát triển nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của
tỉnh
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phẩn ở Quảng Ninh phải phát
triển theo hướng côns, nghiệp hoả, hiện đại hoá
Nền kinh tế hàng hoả nhiều thành phần ở Quảng Ninh lấy phát
triển các khu công nghiệp hiện đại làm trung tâm

Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Quảng Ninh lẩy phát
triển ngành du lịch làm chủ yếu

Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ờ Quảng Ninh lấy phát

nhiều tầng lớp dân cư nhằm thực hiện mục tiêu cao cả của Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để thực hiện được mục tiêu đó, Quảng
Ninh cần tập trung giải quyết nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ, trong đó nhân
tố chủ quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Mối quan hệ giữa yếu tố khách quan và nhân tổ chù quan không chỉ
đơn thuần là m ột trong những vấn đề của triết học mà còn là m ột trong những
vấn đề của thực tiễn chi phối nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Những thành
công cũng như thất bại của con người hay của xã hội trong m ột giai đoạn đều
có liên quan đến mối quan hệ đó. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra ràng,
khi nào chúng ta nhận thức và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yếu tố
khách quan và nhân tố chủ quan thì cách m ạng thắng lợi, ngược lại thì cách
mạng khó khăn, thậm chí có khi thất bại, trong đó nhân tố chủ quan tuy chịu
sự chi phối của yếu tố khách quan nhưng lại quyết định cho sự thành, bại đó.
Thấm nhuần tinh thần đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, Quảng Ninh đã từng bước khắc phục tư tưởng
1
nóng vội. “chù quan, duv ý chí”, tôn trọng vếu tố khách quan, quy luậl khách
quan trong xây dựna chủ nghĩa xã hội nói chune và thực hiện các ke hoạch
phát triển kinh tế - xà hội của tinh nói riêng. Tuy thế, nhân tố chù quan luôn
vận động, biển đổi và diễn biến phức tạp. Đe xứne đáng với tình nàm trone
vùng tam giác kinh tể phía Bắc. Quảne Ninh cần tiếp tục nhận thức và phát
huy nhân tố chù quan để phát huy lợi thế, tiềm năng, khẳc phục hạn chế,
nhằm xây dự ng Q uảng Ninh thành tỉnh giàu, đẹp, vững vàng nơi tiền tiêu của
Tổ quốc. Chính vì vậy, chúne tôi chọn đề tài: “ Vai trò của nlĩăn tố chủ quan
với việc ph át triển nền kinh tể h àng hoá n hiều thành p hầ n ở Q uảng Ninh
hiện nay"’ làm luận văn thạc sĩ nhằm m ột ý nhỏ vào việc phát huy nhân tố chủ
quan trong phát triển kinh tể - xã hội của tỉnh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vai trò nhân tổ chủ quan từ trước đến nay thường được các nhà nghiên

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thực hiện nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lí của Nhà nước nhưng trước đó
chúng ta đã khẳng định khuynh hướng tất yếu của con đường đó. Khuynh
hướng đó m ang tính khách quan không chỉ do chính trị, xã hội mà hiện thực
của quá trình xây dựng kinh tế cũng như đòi hỏi khách quan của sự phát triển
buộc chúng ta không có con đường nào khác là phát triển nền kinh tế thị
trường. Song, điều kiện khách quan là yếu tố cần nhưng chưa đủ mà nhất thiết
có sự tác động của nhân tố chủ quan thì mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới thành công.
- “ về nhân tổ chủ quan và nhân tố khách quan. M ột số vấn để về lý
luận và thực tiễn ở nước ta hiện n a ỷ \ Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm
Ngọc Minh, Hà Nội, 2000. Trong luận án này, tác giả trình bày nhân tố chủ
quan và nhân tố khách quan theo tính độc lập tương đổi và mối quan hệ giữa
chúng, trong đó, tác giả khẳng định nhân tố khách quan là vấn đề buôch
3
chúns ta phải tôn trọne như Văn kiện đại hội VI đã chi ra. nhung nhân tố chủ
quan tuy phải tuân thủ nhân tố khách quan nhưns do tính độc lập tương đối
của nó nên phải coi nó vừa là nhân tố bị chi phổi, vừa là nhân tố tác động làm
biến đối nhân tố khách quan phù hợp mục đích cùa con người. Từ đó, tác giả
cho ràna ở nước ta cần hiểu và vận dụng một cách mềm dẻo nhân tố chủ quan
và nhân tổ khách quan để đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu vai trò của nhân tố chủ quan
qua mối quan hệ giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan còn có rất nhiều
công trình nghiên chuyên khảo về việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan
trong phát triển kinh tế - xã hội:
- Tác eiả Dương Phú Hiệp trong bài ‘‘Phát huy vai trò nhân tố chủ quan
trong cách mạng xã hội chù nghĩa ở miền Bẳc nước ta” đăng trên Tạp chí
Triết học số 2/1973 đã nhấn mạnh, cách mạng xã hội chủ nghĩa là hoạt động
tự giác của hàng trăm triệu người, chính vì vậy mà nhân tố chủ quan có ý
nghĩa không chỉ là người nhận thức và đưa ra đường lối mà còn là lực lượng

quan ở Q uảng Ninh. Chính vì vậy, tác giả luận văn m ạnh dạn đi sâu vào
tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này. Với mong muốn có nhừng đóng góp nhất
định về phư ơng diện lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc xây dựng
những giải pháp nâng cao vai trò nhân tố chủ quan với việc phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ờ Q uảng Ninh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* M ục đích
Luận văn làm rõ vai trò và thực trạng của việc phát huy vai trò nhân tố
chủ quan để phân tích một số giải pháp nhằm phát huy vai trò lãnh đạo và tổ
chức quản lí của nhân tố chủ quan ở Q uảng N inh hiện nay.
5
* Nhiệm vụ
- Làm rõ nội dune. khái niệm “nhân tố chù quan" và vai trò lãnh dạo
cùa Tỉnh uỷ và tổ chức quản lí của Uỷ ban nhân dân tinh trona sự phát triển
xã hội nói chung và với việc phái triển nền kinh tế hàne hoá nhiều thành phần
ở Quảng N inh nói riêng.
- Khảo sát thực trạng việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan, chỉ ra
nhừng tích cực cũng như những bất cập của nó để đề xuất một số giải pháp
nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Tinh uỷ và tổ chức quản lí của Ưỷ ban
nhân dân tỉnh với việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
Quảng N inh hiện nay.
4. Đối tuọng và phạm vi nghiên cứu
* Đ ối tượng nghiên cứu
Vai trò lãnh đạo của Tinh uỳ, tổ chức và quản lý của ư ỷ ban nhân dân
tinh Quảng Ninh với việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
* Phạm vi nghiên cứu
Nen kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở tinh Quảng Ninh từ khi đổi
mới đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận

7
Chương 1
NHÂN TÓ CHỦ QUAN Ở QUẢNG NINH
TRONG P1ỈÁT TRIẺN KINH TÉ - XẢ HỘI CỦA TỈNH HIỆN NAY
1.1. Vấn đề nhân tố chủ quan ỏ’ Quảng Ninh
1.1.1. Khái niệm nhân tố chủ quan
M ọi quá trình vận động, phát triển của xã hội diễn ra thông qua sự tác
động qua lại giữa cái khách quan và cái chủ quan mà nội dung cơ bản của nó
là sự tác động qua lại giữa tính quyết định của cái khách quan và tính tích
cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới của con
người. Chính trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người đã
hình thành nên khái niệm nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan. Do vậy
để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm đó đòi hỏi phải đề cập đến những
khái niệm có liên quan tới hoạt động của con người, đó chính là khái niệm
“chủ thể” và “khách thể”.
Chù thể là một khái niệm đã được nhiều nhà triết học quan tâm nghiên
cứu bởi chúng ta biết hoạt động tác động và cải tạo thế giới khách quan của
con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời là chủ thể của hoạt động
cải tạo hoàn cảnh, từ đó hình thành nên khái niệm chủ thể. Thông qua quá
trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu
khác nhau về nội dung của khái niệm này.
Có quan niệm cho rằng chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm )
tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn
M ột quan niệm khác cho rằng chủ thể là con người có ý thức và ý chí
và đối lập với khách thể bên ngoài
Qua những khái niệm ở trên cho thấy tuỳ theo cấp độ xem xét, chủ thể
có thể là cả loài người, có thể là một nhỏm, một giai cấp, một đảng phái
đang thực hiện một quá trình hoạt động nhàm cải tạo khách thể tương ứng.
Chỉ có tác dộng vào thế eiới xung quanh (vào giới tự nhiên và đời sổng xã
hội), chỉ có thông qua hoạt động, con neưòi mới bộc lộ mình như là chù thể.

chù thể. song khách thể không đối lập trừu tượng với chủ thể vì chù thể luôn
hướng và cải tạo khách thể bằng hoạt động của mình; hơn nữa, chủ thể luôn
có xu huớng “khách thể hoá” thông qua hoạt động của bản thân mình.
Chủ thể và khách thể có tính độc lập tương đối trong quá trình tương
tác lẫn nhau. Song, khi xem xét chúng trong hoạt động của con người thì tính
độc lập giữa chúng chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong sự tác động lẫn nhau, chủ
thể là mặt chù động so với khách thể, nhưng tính tích cực, sáng tạo của chù
thể lại bị quy định bởi sự hiểu biết của chủ thể về khách thể. Nội dung của sự
hiểu biết này là do khách thể quy định và khi khách thể được cải tạo thì bản
thân chủ thể cũng có thêm kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp hoạt động
cho mình. Trong sự tương tác lẫn nhau này, khách thể được cải tạo còn chủ
thể được tăng cường, được phát triển và lớn lên về mọi mặt. Hơn nữa, trong
hoạt động của con người ờ một thời kỳ lịch sử nhất định, bất kỳ chủ thể lịch
sử nào cũng đồng thời là khách thể của chủ thể khác. Đó là do hoạt động của
con người không phải là sự tác động của con người vào thế giới bên ngoài mà
còn là sự tác động lẫn nhau. Trong sự tác động qua lại giữa người với người,
mỗi người vừa là chủ thể, vừa là khách thể.
Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu
khái niệm chủ thể và khách thể mà còn nghiên cứu khái niệm “nhân tố chủ
quan” và “điều kiện khách quan”. Bởi vì các khái niệm điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan được dùng không phải để lý giải cấu trúc xã hội như khái
niệm yếu tố, mà là để phản ánh quá trình vận động, biến đổi, phát triển của
nó.
1 0
v ề phạm trù nhàn tổ chù quan đã có nhiều quan điểm với những nội
duns và mức độ khái quát khác nhau. Điều đó nói lên tính phức tạp của việc
nahiên cứu nội dune phạm trù này.
Có ý kiến đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con
người nói chung. “Nhân tố chù quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có
ý thức của những con neười. những giai cấp. những chính đảng sáng tạo ra

là “tính tích cực, tính sáng tạcTcủa chủ thể hoạt động. Triết học Mác - Lênin
chì ra ràng, con người vừa là sản phẩm cùa hoàn cảnh nhưng đồng thời là chủ
thể của hoàn cảnh đó. Do đó, khi đặt con người đối diện với giới tự nhiên,
chúng ta có khái niệm con người. Khi đặt con người trong trạng thái đang tích
cực hoạt động trước một đối tuợng cần nhận thức và cải tạo nó theo một mục
đích nhất định thì lúc đó, chúng ta có khái niệm chủ thể đối lập với khách thể.
Còn khi xem xét con người - với tất cả chủ thể, với tất cả các nhân tố tạo
thành tính tích cực của chủ thể (các nhân tố vừa là nguyên nhân, vừa là điều
kiện của mọi hoạt động tích cực, sáng tạo của chủ thể) chúng ta có khái niệm
nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điều kiện khách quan [51, tr.58].
Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy vấn đề nhân tố chủ quan trong
lịch sử dù người ta tiếp cận việc giải quyết nó về phương diện nào và ở cách
tiếp cận nào thì việc nhận thức nó phải thông qua sự phân tích đặc trưng về
chất của những chủ thể lịch sử. Song, chúng ta cần lưu ý ràng không phải bản
thân các chủ thể lịch sử đó đóng vai trò nhân tố chủ quan mà những thuộc
tính, những phẩm chất, những trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt
động đó đóng vai trò nhân tố chủ quan. N hững phẩm chất, những thuộc tính
của chủ thể là nhân tố chủ quan, là những yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng
tích cực, sáng tạo của chủ thể. Biểu hiện sức mạnh, sáng tạo đó của chủ thể
phải được thể hiện thông qua hành động thực tiễn cải tạo các khách thể xác
định.
1 2
Như vậy, aiữa nhân tố chù quan và chù thể có sự thốne nhất chặt chẽ.
sone. không done nhất với nhau. Sự thổng nhẩt çiùa khái niệm chủ thể và
nhân tố chủ quan chỉ là sự thể hiện nhân tố chủ quan là thuộc về chủ thể. Còn
tính độc lập tư ơnạ đối của chúna biểu hiện ở nhân tổ chù quan là khái niệm
dùng để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chẩt của chủ thể, được
chủ thề huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, động lực nhàm biến đổi khách
thể cụ thể. Q ua cách hiểu như vậy, chúng tôi cho rằng, nhân tố chủ quan là
những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt động cụ thể của

tiễn” [41, tr. 187]. Nếu chỉ thấy vai trò của ý thức, tư tưởng trong nhân tố chủ
quan thì chỉ khẳng định được mặt “giải thích thế giới” cùa nhân tố chù quan,
chưa thấy được vai trò “cải tạo thế giới” của các nhân tố ấy. Như vậy, cấu
thành nhân tố chủ quan còn bao gồm cả quá trình hoạt động thực tiễn của chủ
thể đối với m ột khách thể xác định.
Thứ ba, nhân tố chủ quan không chỉ là ý thức mà còn là những phẩm
chất, trạng thái thuộc về năng lực thể chất của chủ thể. Nghĩa là, khi chủ thể
được xem xét là con người cụ thể thì đó là phẩm chất, thể lực. Còn khi chủ
thể được xem xét với tính cách là một tổ chức, một lực lượng xã hội thì điều
đó được xem xét dưới góc độ là tính tổ chức. Bởi vì, trong quá trình lịch sử,
các chủ thể được xem xét tùy theo cấp độ, đó là những con người cá biệt với ý
thức, ý chí và khả năng hoạt động của họ; mặt khác, các chủ thể còn là những
lực lượng xã hội như giai cấp, đảng phái.
Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạt động của chủ thể, cần được hiểu không phải như những bộ
phận hợp thành chủ thể mà là sự góp phần tạo ra những khả năng khác nhau ở
chủ thể tham gia vào hoạt động làm biến đổi khách thể. Nghĩa là, phải xem
xét những gì thuộc về chủ thể trong mối quan hệ với điều kiện khách quan
trong hoạt động cùa con người. Như vậy, nhân tố chù quan có quan hệ biện
14
ehứne với khái niệm điều kiện khách quan. Trong mỗi hoạt dộne, cùa chù thể.
các yếu lố hợp thành điều kiện khách quan rất phong phú và đa dạng, bao
gồm các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tại dưới dạng có sẵn trona tự nhiên,
các yếu tố vật chất tồn tại dưới dạng xã hội. Những yếu tố có tính vật chất,
cùne với các yếu tố tinh thần nhu tư tưởng, tâm iý, tập quán đang tồn tại
hiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh trong đó chù thể lon tại và
hoạt động cũng là điều kiện khách quan.
Khi đề cập tới khái niệm điều kiện khách quan, các nhà nghiên cứu
cũng đưa ra nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau.
- Đ iều kiện khách quan là một tổ hợp những hoàn cảnh thực tế, quá

không rơi vào chủ quan duy ý chí hoặc thụ động trong quá trình hoạt động
của mình.
Thứ nhất, ¿fiều kiện khách quan quy định vai trò của nhân tố chủ quan.
Khi khẳng định quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác, V.I.
Lênin đặc biệt lưu ý chúng ta luận điểm sau đây: “Mác xét sự vận động xã hội
như một quá trình lịch sử tự nhiên, phục tùng những quy luật không những
không lệ thuộc vào ý thức của con người m à trái lại, còn quyết định ý chí, ý
thức và những dự định của họ” [33, tr.200]. Luận điểm này là nguyên tắc,
phương pháp luận, nền tảng trong việc nghiên cứu vai trò của điều kiện khách
quan đối với nhân tố chủ quan. Điều kiện khách quan luôn giữ vai trò quyết
định đối với nhân tố chủ quan.
Tính quyết định của điều kiện khách quan thể hiện ở chỗ, trong hoạt
động, những m ục đích, dự định mà người ta đặt ra phải được xây dựng trên cơ
sở hiện thực khách quan. Nếu mục đích, dự định chỉ dựa vào ý muốn chủ
quan thì hoạt động cùa con người chắc chắn sẽ thất bại.
Điều kiện khách quan còn giữ vai trò quyết định trong việc đề ra
phương pháp, cách thức, phương tiện tác động của nhân tố chủ quan. Tính
1 6
quy định của điều kiện khách quan còn thể hiện ở chỗ nó còn sinh ra nhân tố
chủ quan phù hợp với yêu cầu của nó. Các phẩm chất của chủ thể tạo thành
nhân tố chù quan đều được nảy sinh, phát triển trên những tiền đề từ nhữne
diều kiện khách quan nhất định.
Thứ h ai, nhân t ổ chù quan có vai trò tác động tích cực đối với sự biến
đổi của điều kiện khách quan.
Nhân tố chủ quan là những cái thuộc về chủ thể, cho nên nó không thụ
động trước điều kiện khách quan. Vai trò tích cực, sáng tạo của nhân tố chủ
quan thể hiện trước hết ở chỗ, trong hoạt động xã hội, cùng với sự chín muồi
của những yếu tố khách quan thì phải có sự chín muồi của nhân tố chủ quan
mới biến khả năng khách quan trờ thành hiện thực đuợc. Thực chất vai trò
nhân tổ chủ quan ở đây là sự phát hiện ra những khả năng khách quan trên cơ

Bẳc Bộ, được xem như một phần quan trọng của tam giác tăng trường kinh tế
phía bắc (H à Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), hướng phát triển đã được Chính
phủ xác định là phải hình thành các trung tâm lớn có ý nghĩa tạo vùng và giao
lưu quốc tế để hỗ trợ cho các tình nam vùng đổng bàng sông Hồng, hình
thành các trung tâm công nghiệp lớn, phát triển các ngành công nghệ cao
thuộc các lĩnh vực điện tử, tin học, sản xuất vật liệu mới, sản xuất hàng tiêu
dùng, chế biến thực phẩm, phát triển kinh tế cảng biển và đi đầu trong hạp tác
quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài.
Quảng Ninh là tinh có địa hình đa dạng gồm: miền núi, trung du, ven
biển, có dáng một hình chữ nhật lệch, nằm ở vùng Đông Bắc Tổ quốc, có
132,8 km biên giới quốc gia trên bộ với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Diện
tích toàn tinh 6099 km2, dân số 1091,3 nghìn người (2006)
Gồm nhiều dân tộc anh em, dân tộc ít người chiếm trên 10% dân số của
tình. Quảng Ninh là vùng đất có chiều dài hom 300 km, rộng hom 100 km, có
18
hờ biển khúc khuvu, nhiều cửa sông và bãi biển với 2077 hòn đào lớn nhỏ
chiếm khoảng 13% diện tích toàn tỉnh (622/6099 km) [2, tr.26]
Từ lâu. tỉnh Quảng Ninh đã trờ thành khu côna nehiệp lớn của nước ta.
Than là nguồn tài nguvên khoáng sản chù yếu của tỉnh, với hơn 144 điểm
quặng chiếm trên 90% sản lượng khai thác than trên toàn quốc, chất lượng
vào loại tổt trên thế giới. Ngoài trừ lượng lớn về than (3,5 tỷ tấn)? rừng và
biển là nhữne kho tài nguyên thiên nhiên phong phú, mang lại cho tỉnh nguồn
lợi lớn về thuỷ, hải sản có giá trị, có khả năng phát triển ngành nuôi trồng
đánh bắt, chế biến thủy, hải sản. Địa hình bờ biển khúc khuỷu là cơ sờ thuận
lợi cho việc xây dựng nhiều hải cảng thuận tiện cho việc thông thương trong
và ngoài nước. Hiện nay, tỉnh có cảng nước sâu Cái Lân được coi là cụm cảng
tổng hợp lớn nhất miền Bắc, tổng sản lượng hàng hoá qua cảng hàng năm đạt
từ 8 - 10 triệu tấn [2, tr.35]. Tỉnh còn cóvVịnh Hạ Long hai lần được công
nhận là di sản thiên nhiên thể giới, về giá trị ngoại hạng của cảng quan và giá
trị địa chất, địa mạo. Cùng với vịnh Bái Tử Long, bãi biển Trà c ổ , Vân Đồn,

xuất hiện đại và một chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; con
người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hường theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện cá nhân. Đe xây dựng thành công một chế độ xã hội như vậy,
đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản “đội quân tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc” [30, tr. 14 ].
Vai trò lãnh đạo của Đảng không chi thể hiện ở sự lựa chọn định hướng
chính trị cho quá trình phát triển kinh tế, không chỉ xây dựng mô hình kinh tế
- xã hội cần hướng tới mà còn cả việc tạo ra những điều kiện, tiền đề cho việc
hiện thực hoá mô hinh đó. Chính trị và kinh tế có mối liên hệ tất yếu, trong đó
kinh tế đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, trong điều kiện cách mạng nước ta
2 0
hiện nay. như v .l. Lênin đã chỉ ra. “chính trị không thể không chiếm vị trí
hàna, đầu so với kinh tế” [37. tr.349].
Đàng lãnh đạo và định hướng chính trị trong phát triển kinh tế được thể
hiện bàng các chù trươne, đường lối, bằng những định hướng lớn. Các chủ
trương, nghị quyết, đườne lối cho sự phát triển nền kinh tế cùa Đảng phải
xuất phát từ thực tế cùa đất nước và tôn trọng các quy luật khách quan.
Để hiện thực hoá vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì vai trò lãnh
đạo của Tinh uỷ Quảng Ninh được thực hiện bàng việc quyết định mục tiêu,
phương hướng, kế hoạch, cân đối ngân sách, chính sách về các thành phần
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu, đổi mới cơ chế quản lý, quy hoạch một số ngành
trọng yếu nhằm thúc đẩy các thành phần kinh tế của tỉnh phát triển.
Chúng ta đều biết, không thể có CNXH nếu không có một cơ sở vật
chất kinh tế hùng hậu, không có một lực lượng sản xuất phát triển cao. Do đó,
để tạo được cơ sở vật chất kinh tế cho CNXH thì Tinh uỷ Q uảng Ninh chủ
trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần
định hướng X HCN. Từ yêu cầu đó đòi hỏi trong sự định hướng phát triển
kinh tế, Tinh uỷ cần phải xuất phát từ thực trạng nền kinh tế với kết cấu đa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status