i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG HẢI
MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2014 ii
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả được đưa ra trong
luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nào khác. Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ nguồn, đảm
bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả. Học viên Nguyễn Hồng Hải
iv
LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông” là một công
trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là kết quả của quá trình học tập tại
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội của
tác giả dưới sự hướng của các thầy cô bộ môn, sự giúp đỡ của các thầy cô
trong ban chủ nhiệm khoa Triết học. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến
những sự giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến PGS. TS. Đỗ Thị Hòa Hới
là giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tình hướng
dẫn, dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiên cứu cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã
1.1.1. Điều kiện chính trị 9
1.1.2. Điều kiện kinh tế 15
1.1.3. Điều kiện xã hội, văn hóa 22
1.2. Nhân tố chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh
Tông 32
Chƣơng 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCHXÃ
HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ 41
2.1. Một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 41
2.1.1. Chính sách của Lê Thánh Tông đối với một số tầng lớp trong xã hội 41
2.1.2. Biện pháp thực hiện chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 68
2.2. Ý nghĩa của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.1. Những giá trị tích cực của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.2. Hạn chế của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 88
2.2.3. Giá trị của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 89
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam nhà nước đã xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên phải đến khi
đất nước ta giành được độc lập tự chủ vào thế kỷ X, nhà Ngô thành lập thì văn
hóa, văn minh Việt Nam mới dần đạt được những thành tựu rực rỡ. Trải qua
các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và tới thế kỷ XV phát triển mạnh
mẽ dưới triều đại Lê sơ. Với những bước phát triển rực rỡ cả về kinh tế, chính
trị, văn hóa, giáo dục… đất nước Đại Việt đã có sự chuyển biến từ chế độ
quân chủ phong kiến quý tộc thời Lý, Trần sang quân chủ quan liêu thời Lê
sơ, hoàn chỉnh và rõ ràng nhất là dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông (1460 -
1497). Chuyển biến này đã kéo theo rất nhiều những thay đổi về thể chế chính
xây dựng nên một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong
kiến Việt Nam. Vì vậy đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu chung về
Lê Thánh Tông.
- Nghiên cứu về Lê Thánh Tông: tiêu biểu như các cuốnsách Lê Thánh
Tông vị vua anh minh, nhà canh tân xuất sắc (Lê Đức Tiết), Hoàng đế Lê
Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn
(Nguyễn Huệ Chi), Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam (Phạm Ngô
Minh)… Các tác phẩm này đã có những nghiên cứu, đánh giá về vai trò, đóng
góp của Lê Thánh Tông ở nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên những tư tưởng
và hoạt động của ông. Ông đã xây dựng nên một nước Đại Việt hùng mạnh,
toàn diện cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa. Tư tưởng Lê Thánh
Tông đem lại một diện mạo mới cho đời sống tinh thần nước ta, đó là hướng
đi theo Nho giáo được Việt hóa, được ông kết hợp với truyền thống văn hóa
lâu đời của đất nước - tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc.
3
Hai tập kỷ yếu Lê Thánh Tông (1442 - 1497): con người và sự nghiệp -
kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông do
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
chức năm 1997 và Kỷ yếu hội thảo khoa học về hoàng đế Lê Thánh Tông
(1442 - 1497): chào mừng 5 năm thành lập trường Đại học Hồng Đức (1997 -
2002). Hai kỷ yếu này tập trung các bài viết của rất nhiều tác giả ở các lĩnh
vực khác nhau như triết học, luật học, sử học, kinh tế học trình bày khá toàn
diện và đầy đủ về con người cùng sự nghiệp của Lê Thánh Tông. Các bài báo
cáo tập trung vào các vấn đề lớn như thân thế, sự nghiệp của ông; những đóng
góp chủ yếu của Lê Thánh Tông ở các lĩnh vực như chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội, củng cố quốc phòng, mở mang văn hóa, pháp luật. Các tác giả
cũng chỉ ra những nét hạn chế, nhưng nổi bật lên là đề cao công lao của ông
trong việc đưa Đại Việt trở nên thái bình, thịnh trị, thành cường quốc ở Đông
Nam Á thế kỷ XV.
bài học cho công tác đào tạo cán bộ hiện nay ở Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập, phải làm sao để lựa chọn được quan lại vừa có đức lại vừa có tài,
vừa hồng lại vừa chuyên.
Tác giả Lê Ngọc Tạo với đề tài luận án “Các chính sách về xã hội của
nhà nước thời Lê sơ (1428 - 1527)”, dưới góc độ nghiên cứu của nhà sử học,
tác giả đã nêu ra cơ sở hình thành các chính sách về xã hội của nhà nước thời
Lê sơ, nội dung các chính sách về xã hội, vai trò và tác dụng của chúng trong
quản lý, xây dựng đất nước thời Lê sơ.
Nhìn chung, vấn đề về các chính sách xã hội thời Lê Thánh Tông đã có
nhiều tác giả cùng những công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chỉ là đề
cập một cách gián tiếp ở các góc độ khác nhau, thông qua việc nghiên cứu về
các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng Qua tìm hiểu chúng
5
tôi nhận thấy tới nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và
tập trung vào các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, những
công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích trong quá trình
tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản trong chính sách
xã hội mà Lê Thánh Tông đã áp dụng dưới thời trị vì của ông (1460 - 1497)
tập trung trong chính sách với quan lại, phụ nữ, người già, người neo
đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để thực hiện các
chính sách xã hội đó.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Thứ nhất, phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự
hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông.
+ Thứ hai, nêu và phân tích một số nội dung cơ bản trong chính sách xã
hội của Lê Thánh Tông.
+ Thứ ba, luận văn đưa ra một số đánh giá về giá trị và hạn chế của
chính sách này thể hiện một bước phát triển lớn trong nhận thức về chính sách
xã hội so với thời kỳ trước đó.
Luận văn chỉ ra rằng chính thông qua một số chính sách xã hội đó mà
ta hiểu rõ hơn về bản chất xã hội Đại Việt thời Lê Thánh Tông. Các chính
sách đó phản ánh bản chất của bộ máy nhà nước dưới triều đại Lê Thánh
Tông, đó là một nhà nước phong kiến quan liêu với chế độ quân chủ tập
quyền đạt đến mức cao độ nhất trong các triều đại của phong kiến Việt Nam,
song vẫn có yếu tố tích cực. Mục tiêu của Lê Thánh Tông trong việc xây dựng
nhà nước theo hình mẫu này là đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội theo khuôn
mẫu của Nho giáo, nhưng đằng sau khuôn mẫu của Nho giáo thì vẫn có
những nét nhân văn mang đậm giá trị truyền thống Việt Nam.
7
Luận văn bước đầu có những đánh giá về tính tích cực cũng như những
điều còn hạn chế trong chính sách xã hội do Lê Thánh Tông đề ra đối với thời
đại mà ông trị vì, cũng như bước đầu có những gợi ý có giá trị cho công cuộc
xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung và ý nghĩa
của chính sách xã hội trong hệ thống chính sách chung của nhà nước dưới
triều đại Lê Thánh Tông.
- Ý nghĩa thực tiễn: đất nước ta đang trong quá trình vận động, phát triển,
thực hiện công cuộc đổi mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh. Quá trình này đã đem lại một diện mạo mới cho
đất nước, đồng thời sẽ nảy sinh rất nhiều các vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta
phải quan tâm. Việc nghiên cứu, tìm hiểu chính sách xã hội của Lê Thánh Tông,
một triều đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam, cùng với những kinh
nghiệm và bài học lịch sử của nó sẽ có tác dụng là những gợi ý thiết thực góp
phần phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng và nhân dân ta đang
thực hiện, bổ sung những gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách xã hội hiện nay.
bản là chính sách với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội (công nhân, nông
dân, trí thức…), chính sách an sinh xã hội (chống tệ nạn xã hội, tham
nhũng…), chính sách đối với các lứa tuổi, giới (thanh, thiếu niên, phụ nữ,
đồng bào dân tộc…).
Từ việc nắm bắt các nội hàm chính trong các quan niệm trên chúng ta
có thể nhận thấy rằng nội dung chính sách xã hội vào thời Lê Thánh Tông trị
9
vì chưa hoàn toàn thể hiện đầy đủ theo đúng cách hiểu hiện đại này nhưng
cũng có điểm tương đồng, là những biểu hiện sớm, chưa hoàn chỉnh của chính
sách xã hội trong lịch sử; bởi lẽ các chính sách đó có cơ sở khách quan và chủ
quan của nó do điều kiện lịch sử lúc đó quy định. Lê Thánh Tông đã xuất phát
từ những tiền đề khách quan cùng với những nhân tố chủ quan của chính bản
thân mình để xây dựng, đưa ra và thực thi những chính sách xã hội mà về cơ
bản phù hợp với yêu cầu của xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XV. Đó là yêu
cầu tiếp tục ổn định, hoàn thiện, phát triển thể chế nhà nước quân chủ tập
quyền quan liêu làm lực lượng hiện thực hóa các đường lối cai trị Đức trị kết
hợp với Pháp trị nhằm ổn định, phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt.
Trong giới hạn luận văn, tác giả nghiên cứu chính sách xã hội của Lê Thánh
Tông với một số tầng lớp đặc biệt trong xã hội là quan lại, phụ nữ, người già,
người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để ông
thực hiện các chính sách xã hội đó.
1.1. Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội
của Lê Thánh Tông
1.1.1. Điều kiện chính trị
Vào nửa sau thế kỷ XIV, bộ máy nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyền
nhà Trần sau những chiến công vang dội trong sự nghiệp bình Nguyên và xây
dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh đã đi vào suy yếu. Nạn đói và các cuộc
khởi nghĩa liên tiếp nổ ra làm nhà Trần lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
Thiên tai dồn dập, nạn đói thường xuyên diễn ra vào các năm như 1362, 1370,
Thiên, nhà Lê sơ chính thức được thành lập. Trong hơn 5 năm trị vì đất nước
(1428 - 1433), Lê Thái Tổ đã chủ trương và triển khai xây dựng một bộ máy
nhà nước theo mô hình nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền thay thế cho
chế độ nhà nước quân chủ quý tộc thời Trần; quyền lực được tập trung toàn
11
bộ vào triều đình, đứng đầu là nhà vua theo tinh thần “tôn quân quyền” của
Nho giáo. Với tinh thần “tôn quân quyền” tất cả quyền lực bộ máy nhà nước
được tập trung trong tay nhà vua, vua nắm vị trí độc tôn, tất cả mọi người đều
phải phục tùng theo nhà vua. Lê Thái Tổ đã thực hiện một loạt các cải cách
dựa trên sự quân sư của Nguyễn Trãi. Ông ban hành một số văn bản pháp luật
dưới dạng các chiếu, chỉ, dụ, lệnh và thi hành các chính sách nhằm củng cố,
phát triển kinh tế cùng một số biện pháp an sinh xã hội, tạo ra sự ổn định và
hứng khởi bước đầu cho đất nước sau hơn 20 năm bị giặc Minh đô hộ.
Lê Thái Tổ đã thực hiện cải cách hành chính, chia đất nước thành 5 đạo
(Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây). Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bên
cạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo. Dưới đạo có các đơn vị
hành chính: trấn, lộ, phủ, huyện, châu. Đứng đầu trấn là trấn phủ sứ, tuyên úy
sứ; ở lộ là an phủ sứ, tổng quản; ở phủ là tri phủ, đồng tri phủ; ở huyện là
chuyển vận sứ; ở châu là phòng ngự sứ. Riêng miền núi có tri châu và đại tri
châu. Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã. Năm 1428, Lê Lợi chia xã làm ba
loại: đại xã, trung xã và tiểu xã, do các quan đứng đầu; số lượng xã quan quy
định: đại xã có ba người, trung xã có hai người và tiểu xã có một người.
Hệ thống chính quyền phong kiến ngay từ thời Lê Lợi đã được tổ chức
khá chặt chẽ, chi phối xuống tận cấp xã. Lê Thái Tổ cho xây dựng một bộ máy
nhà nước mà tất cả quyền lực đều tập trung về triều đình trung ương. Đứng đầu
là vua, rồi đến các chức tả, hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốc
trọng sự, tam thái, tam thiếu, tam tư dành riêng cho những tôn thất và đại công
thần. Dưới đó là hai ngạch ban văn và ban võ. Ban văn có các chức Đại hành
khiển, Thượng thư các bộ (lúc này có hai bộ là Lại bộ và Lễ bộ) và các cơ quan
Năm 1442, Lê Thái Tông mất, thái tử Bang Cơ lên ngôi khi vừa mới 2
tuổi, triều chính nước Đại Việt dấn sâu vào cảnh khốn đốn. Thái hậu Nguyễn
13
Thị Anh buông rèm nhiếp chính. Thái hậu vì tư lợi chém giết công thần, mặc
cho quan lại tham ô, hối lộ; đời sống nhân dân khổ cực. Đến năm 1453, Lê
Nhân Tông mới thực sự nắm chính quyền; ông đã đề ra một số quy định dần
đưa đất nước ổn định hơn.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều bộ sử khác cho thấy, trong các
triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã thực hiện các biện
pháp khác nhau để có thể ổn định và phát triển đất nước nhưng bên trong hệ
thống chính quyền ấy vẫn còn có những hạn chế. Tệ nạn tham ô, nhận hối lộ,
lợi dụng chức quyền để trục lợi riêng diễn ra khá phổ biến trong giới quan lại;
quan lại trong triều kéo bè kết đảng, lập thành phe phái khống chế, chi phối,
lũng đoạn mọi công việc đại sự của triều đình; người có đức, có tài thì bị hãm
hại hoặc lui về ở ẩn, còn bọn bất tài, không có đức thì được dịp lộng hành,
nhũng nhiễu dân lành.
Năm 1459, xảy ra chính biến Nghi Dân, mẹ con vua Lê Nhân Tông bị
giết, Nghi Dân lên ngôi và đổi niên hiệu là Thiên Hưng. Trong 8 tháng ngắn
ngủi, Lê Nghi Dân cũng đã có một số quy định củng cố đối với quyền lực
triều đình trung ương. Ông chia đặt quan chức trong triều thành 6 bộ. Như
vậy, đến thời Nghi Dân triều đình đã đủ 6 bộ là Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình,
Công. Ông còn cho đặt 6 khoa gồm Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa,
Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa. Các quan chức ở các phủ, huyện, châu cũng
được ông sắp xếp lại. Theo sử cũ ghi lại thì trong nửa năm đầu trị vì của ông
vua tiếm ngôi này, tình hình triều chính vẫn "bình lặng", không có một thay
đổi nào trong quan hệ giữa vua và các quan đại thần, giữa hàng ngũ các quan
đại thần thuộc phái "quân sự" với phái "dân sự", trong việc giải quyết mâu
thuẫn cung đình, mâu thuẫn giữa "tập trung" và "phân tán", trong khắc phục
những rối loạn của xã hội.
thuyết, hướng dẫn chỉ đạo trong cai trị, quản lý xã hội. Các vua sau tiếp tục
thực thi theo định hướng đó. Đến Lê Thánh Tông với việc xây dựng và hoàn
thiện một bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến quan liêu tập trung cao độ,
15
có hệ thống chặt chẽ từ trung ương tới địa phương, cùng với các chính sách xã
hội tương ứng đã tạo nên sức mạnh cố kết cho toàn xã hội. Mọi chính sách
của nhà nước quân chủ trong đó có các chính sách xã hội đã được ban hành và
thực thi sâu rộng.
1.1.2. Điều kiện kinh tế
Trước thời Lê sơ, chế độ phong kiến quân chủ tôn quyền đã được xác
lập và phát triển dựa trên cơ sở của kinh tế điền trang thái ấp, đặc biệt phát
triển mạnh dưới triều Trần. Từ nửa cuối thế kỷ XIV trở đi, nhà Trần không
tập trung được quyền lực, trượt dài trên con đường suy vong. Nhận thức được
điều đó nên khi thành lập nhà Hồ thì Hồ Quý Ly đã thực hiện một loạt các cải
cách nhằm hạn chế, đi đến làm suy yếu thực lực của tầng lớp đại quý tộc Trần
bằng chính sách hạn điền (hạn chế sở hữu tư nhân về ruộng đất từ 10 mẫu trở
xuống) và hạn nô (hạn chế việc mua bán nô tỳ, giải phóng quan hệ chủ nô -
nô tỳ) để bảo vệ lực lượng sản xuất. Hồ Quý Ly đã hạn chế được sự chiếm
hữu ruộng đất lớn của các chủ nô quý tộc, tạo điều kiện cho tầng lớp địa chủ
nhỏ phát triển… Tuy nhiên, những cải cách của Hồ Quý Ly chưa kịp có hiệu
quả thì nước ta lại bị nhà Minh đô hộ.
Chế độ cai trị tàn bạo và sự vơ vét của nhà Minh trong suốt 20 năm đô
hộ đã khiến cho nền kinh tế của Đại Việt bị phá hoại nặng nề, rơi vào suy
thoái trầm trọng. Đồng ruộng, làng xóm điêu tàn, nhân dân phiêu tán khắp
nơi. Thủ công nghiệp và thương nghiệp suy sụp. Ruộng đất bị bỏ hoang ở
nhiều nơi. Nạn đói và dịch năm 1407 khiến "nhân dân không trồng trọt cày
cấy được, người chết gối lên nhau" [16, tr. 226]. Năm 1409, lại một trận đói
và dịch trầm trọng như vậy xảy ra. Năm 1411, miền lưu vực sông Đáy bị lụt,
đê vỡ, nhà cửa của dân bị trôi dạt. Năm 1412, đồng ruộng từ Diễn Châu trở
hoang, của quân lính bỏ trốn làm ruộng đất công; cho điều tra lại ruộng đất
công ở các làng xã. Nhằm khôi phục nền kinh tế nông nghiệp sau một thời
gian dài bị chiến tranh tàn phá, và thi hành một cuộc cải cách ruộng đất theo
tinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nền độc lập dân tộc và sự bền vững
17
của vương triều nhà Lê, Lê Thái Tổ đã cho ban hành chính sách lộc điền và
quân điền rộng rãi.
Thời Lê sơ, các vị vua đã ban hành chế độ lộc điền với quy mô lớn
chưa từng có. Lộc điền là loại ruộng nhà nước ban cấp cho quan lại cao cấp
(từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép thừa kế và ruộng ban
cấp tạm thời có thể thu hồi lại sau khi chết. Chế độ lộc điền thời Lê sơ thay
thế cho chế độ điền trang thái ấp thời Trần đã góp phần ngăn chặn tình trạng
cát cứ, ly khai triều đình.
Phép quân điền lần đầu tiên được Lê Thái Tổ áp dụng vào năm 1429,
tiếp tục được các vị vua sau củng cố, đặc biệt phát triển và hoàn chỉnh dưới
triều vua Lê Thánh Tông. Phép quân điền quy định chia ruộng đất công làng
xã theo định kỳ 6 năm, nông dân làng xã phải nộp tô thuế đầy đủ cho nhà
nước. Trong thực tế, quân điền chỉ là nhà nước phát canh thu tô, về ý nghĩa
ấy nhà nước là một đại địa chủ thu tô, nông dân cày ruộng khẩu phần nghĩa
là những tá điền lĩnh canh thu tô. Củng cố chế độ quân điền là củng cố chế
độ phát canh thu tô, củng cố quan hệ tá điền - địa chủ; vào thế kỷ XV, quan
hệ này là quan hệ tương đối tiến bộ, góp phần giải phóng sức lao động. Tuy
chế độ quân điền là đảm bảo quyền lợi về ruộng đất cho giai cấp thống trị
nhưng cũng có ý nghĩa nhất định với nông dân, đảm bảo cho người nông dân
có một số ruộng đất tối thiểu để cày cấy và giải quyết một phần ruộng đất bỏ
hoang. Phép quân điền vừa giúp cho người nông dân có đất cày cấy, sinh
sống vừa giúp cho nhà nước thu thuế, giải quyết lao dịch, tuyển lính và nuôi
lính. Ở thế kỷ XV, phép quân điền đã góp phần ổn định kinh tế tiểu nông,
hạn chế sự phân hóa xã hội.
nông nghiệp, các triều đại phong kiến thường thực hiện chính sách "ngụ binh
ư nông", tức là cho quân đội thay phiên về làm ruộng. Chính sách này ở thời
Lê sơ lại tiếp tục được thực hiện một cách triệt để, không những cho quân lính
19
mà còn mở rộng ra cho các đối tượng khác như công tượng, lính coi ngục và
người nấu bếp và họ nhận được sự ưu đãi nhất định.
Ngay sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, năm 1429 trong số
35 vạn quân dưới cờ khởi nghĩa chống xâm lược, vua Lê Thái Tổ đã cho 25
vạn quân về quê làm ruộng, chỉ giữ lại 10 vạn để phòng vệ. Ông chia binh
lính làm năm phiên, cứ lần lượt một phiên lưu ban và bốn phiên về làm ruộng.
Chính sách này giúp bảo đảm nhân công nông nghiệp, tập trung sức lao động
của nhân dân vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian cần thiết.
Xây dựng một xã hội lấy nông nghiệp làm gốc nên trong khi tiến hành
các biện pháp khôi phục kinh tế sau chiến tranh, các vị vua nhà Lê sơ còn có
chủ trương tận dụng triệt để ruộng đất để trồng trọt. Ngay từ khoảng giữa năm
1427, khi cuộc kháng chiến chống Minh sắp kết thúc, Lê Lợi đã ra lệnh cho
dân chạy loạn, phiêu tán các nơi phải trở về quê cày cấy và xử tội nặng những
người lưu tán. Tháng 1 năm 1428, có lệnh cho con em các đầu mục, các
tướng lĩnh về quê hương nhận ruộng đất để sản xuất. Tháng 3 năm 1429,
Lê Thái Tổ đưa ra quy định tất cả phần đất vườn ở phủ đệ các công hầu,
quan lại ở các phường trong kinh thành phải trồng hoa và rau đậu, không
được bỏ hoang, nếu không sẽ bị thu hồi. Song song với việc khôi phục lại
diện tích đất canh tác nông nghiệp cũ, các vị vua nhà Lê sơ còn chú ý tới
việc mở rộng diện tích canh tác mới bằng công cuộc khẩn hoang.
Khuyến khích lập đồn điền là công cuộc khẩn hoang tương đối quy mô
của nhà nước phong kiến Lê sơ. Lê Lợi đã xác định mục đích lập đồn điền là
để mở rộng thêm diện tích sản xuất và nguồn cung cấp tô thuế cho nhà nước.
Ngoài công cuộc khẩn hoang quy mô lớn do nhà nước tiến hành, triều đình
phong kiến Lê sơ cũng khuyến khích, động viên những công cuộc khẩn hoang
phân tầng xã hội thành: sĩ, nông, công, thương.
Nhà nước Lê sơ một mặt duy trì nền sản xuất nhỏ thủ công trong các
làng xã, mặt khác đẩy mạnh hoạt động của các quan xưởng thuộc thủ công
nghiệp nhà nước. Đã xuất hiện nhiều làng nghề như gốm sứ ở Bát Tràng,