Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới vào xây dựng nền văn hóa dân tộc và vận dụng tư tưởng đó trong phát triển nền văn hóa nước ta hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH THANH MAI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾP THU TINH HOA
VĂN HOÁ THẾ GIỚI VÀO XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ
DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG
PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ NƯỚC TA HIỆN NAY Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


11
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá
thế giới……………………………………………………………….

13

1.2.1. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………
13

1.2.2. Cơ sở lý luận……………………………………………………
17
1.3. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn
hoá thế giới vào xây dựng văn hoá dân tộc…………

23

1.3.1. Nhu cầu khách quan tiếp thu văn hoá thế giới vào xây dựng văn
hoá dân tộc………………………………………………………….

23

1.3.2. Nội dung tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng văn hoá
dân tộc…………………………………………………………

25

1.3.3. Phương châm, nguyên tắc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới vào
xây dựng văn hoá dân tộc…………………………………………

49

2
NỘI DUNG
7
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu văn hoá thế giới vào xây
dựng văn hoá dân tộc………………………………

7
1.1. Quan niệm tổng quát về văn hoá và giao lưu văn hoá…………….
7

1.1.1. Quan niệm về văn hoá……………………………………………
7

1.1.2. Quan niệm về giao lưu và tiếp thu văn hoá giữa các dân tộc
11
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá
thế giới……………………………………………………………….

13

1.2.1. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………
13

1.2.2. Cơ sở lý luận……………………………………………………
17
1.3. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn
hoá thế giới vào xây dựng văn hoá dân tộc…………

23


bản sắc dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh 65
2.3.1.Phươn hướng tổng quát……………………………………………………
65
2.3.2. Các quan điểm chỉ đạo chủ yếu
68
KẾT LUÂN…………………………………………………………………….
80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………
82
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
1

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại và vô cùng kính
yêu của Đảng ta và nhân dân ta. Tư tưởng của Người là sự kết tinh cao nhất
giữa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá
nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây
dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần tích cực
thúc đẩy sự phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của

vào xây dựng nền văn hoá dân tộc có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bản
thân Hồ Chí Minh cũng là hiện thân cao đẹp nhất của sự kết tinh các giá trị
văn hoá truyền thống của dân tộc với các giá trị văn hoá của nhân loại.
Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, giao lưu và tiếp thu văn hoá
là quy luật tất yếu để mỗi quốc gia, dân tộc phát triển nền văn hoá của mình.
Tuy nhiên, mặt trái của giao lưu và tiếp thu văn hoá đã và đang đặt ra những
vấn đề bức thiết đối với việc phát triển văn hoá phải gắn với giữ vững bản sắc
văn hoá dân tộc. Trong quá trình hội nhập, Đảng ta hiện nay vẫn đang tiếp tục
thực hiện mục tiêu “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc”. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy, tư tưởng
của Người về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng nền văn hoá dân
tộc vẫn còn những giá trị to lớn và mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, góp phần
thúc đẩy hơn nữa quá trình hội nhập với văn hoá quốc tế của văn hoá Việt
Nam. Với ý nghĩa đó, người viết muốn chọn khía cạnh này làm đề tài cho
luận văn, để thêm một lần nữa khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hoá nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế
giới nói riêng đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong thời
đại mới.
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
3
2. Tình hình nghiên cứu
Hồ Chí Minh - con người, sự nghiệp và tư tưởng là đề tài rất lớn thu hút
nhiều nhà khoa học và hoạt động chính trị trong nước cũng như trên thế giới
quan tâm nghiên cứu. Sau dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh (1990) và đặc biệt là sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) với khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động của Đảng” thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã được tiến
hành một cách tích cực hơn, cả bề rộng lẫn bề sâu.

tạp chí chuyên ngành khác.
Các đề tài này đã nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh về văn hoá và xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam; trong đó có
một số ít đề tài đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với tiếp thu tinh hoa văn hoá
thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng nền văn hoá
dân tộc với tư cách là một đối tượng độc lập.
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới
vào xây dựng nền văn hoá dân tộc là một trong những tư tưởng đặc sắc của
Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng đó vẫn có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, làm cơ sở, nền tảng để chúng ta vận dụng vào phát triển nền văn
hoá dân tộc. Do đó, người viết muốn hướng đề tài nghiên cứu của mình vào
vấn đề này với mong muốn làm rõ hơn nội dung tư tưởng cũng như giá trị của
nó đối với sự phát triển văn hoá Việt Nam trong thời đại mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích trình bày một cách tổng quát những quan điểm của
Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng văn hoá dân tộc
và vận dụng tư tưởng đó vào phát triển văn hoá ở nước ta trong bối cảnh hiện
nay.
Để đạt được mục đích trên, Luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
5
- Làm rõ các khái niệm: Văn hoá, giao lưu và tiếp thu văn hoá giữa
các dân tộc;
- Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa
văn hoá thế giới vào xây dựng nền văn hoá dân tộc;
- Trình bày và phân tích hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về tiếp
thu tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng nền văn hoá dân tộc và việc vận

của Luận văn bao gồm 2 chương, 6 tiết. NỘI DUNG

Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾP THU VĂN HOÁ THẾ GIỚI
VÀO XÂY DỰNG VĂN HOÁ DÂN TỘC

1.1. Quan niệm tổng quát về văn hoá và giao lưu văn hoá
1.1.1. Quan niệm về văn hoá
Văn hoá là một vấn đề rộng lớn, là một trong những lĩnh vực tồn tại nhiều
cách hiểu khác nhau nhưng chưa có sự thống nhất. Cho tới nay, người ta đã
thống kê có khoảng 400 định nghĩa về văn hoá. Điều đó có nghĩa là sự xác định
khái niệm “văn hoá” không đơn giản, bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ
liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên
cứu.
Ở phương Đông, từ “văn hoá” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất
sớm. Trong Chu dịch, quẻ Bi đã có từ “văn” và từ “hoá”: Xem dáng vẻ con
người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ).
Hay Lưu Hướng (thời Tây Hán) viết trong sách Thuyết uyển (bài Chỉ vũ):
Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức, rồi sau mới dùng vũ lực.
Phàm dùng vũ lực đều để đối phó với kẻ bất phục tùng. Dùng văn hoá không
thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt. Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
7

Luận văn Thạc sĩ Triết học
8
đại nhất đến những cái truyền thống, cổ điển nhất như phong tục, tập quán, lễ
hội, trang phục Tiếng nói, chữ viết, truyền thống dân tộc, đường nét kiến
trúc, bí quyết tiềm ẩn trong sản xuất là đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc:
“Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật
chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một
nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những
lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị,
những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng
suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật
đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết
mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu
của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên
những công trình vượt trội lên bản thân” (Tuyên bố về những chính sách văn
hoá - Hội nghị quốc tế do UNESCO tổ chức tại Mexico năm 1982). Theo định
nghĩa này, văn hoá liên quan tất thảy các giá trị sáng tạo của con người đặt ra
trong mối quan hệ tổng thể con người với tự nhiên, con người với xã hội
(trong đó bao hàm cả quan hệ giữa người với người).
Có nhiều định nghĩa về văn hoá, nhưng tựu trung lại, các định nghĩa
đều xoay quanh một số nội dung cơ bản sau:
- Văn hoá là sự chấn hưng, là trình độ được vun trồng của một con
người, một xã hội, làm cho con người, xã hội ngày càng đổi mới, cách xa rời
trạng thái nguyên sơ, dẫn đến tính “người” của văn hoá.
- Văn hoá là sự kết tinh giá trị của con người, dân tộc, xã hội, là trình
độ “người” trải qua lịch sử, trở thành động lực của cuộc sống.
- Văn hoá là sự phát triển nội tại bên trong của một con người, một dân
tộc, là cách ứng xử để con người và các dân tộc khác nhau hiểu được nhau.
- Văn hoá là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bẩm sinh và bản

theo phương thức của Hồ Chí Minh. Khác với tất cả các quan niệm về văn hoá
trước kia của các nhà nho, các trí thức tư sản đã tách văn hoá khỏi đời sống
kinh tế, chính trị, xã hội và coi lĩnh vực văn hoá gắn liền với những cách sống
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
10
cao thượng của tầng lớp trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hoá
không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Văn hoá trong tư
tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của toàn bộ đời sống xã hội. Nó
cùng với kinh tế, chính trị tạo nên đời sống của dân tộc ta. Nhiều lần Hồ Chí
Minh đã nói rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải
chú ý đến cùng, phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá”
[37, tr.345].
Khi chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá phải được coi trọng như nhau, Hồ
Chí Minh bao giờ cũng xác định các quan hệ kinh tế, cơ cấu kinh tế là nền tảng
để phát triển văn hoá. Hồ Chí Minh, một mặt, coi trọng ảnh hưởng quyết định
của kinh tế tới văn hoá; mặt khác, còn coi trọng chế độ chính trị, các chế ước xã
hội đã làm nảy sinh tính đa dạng văn hoá và vai trò tác động trở lại của văn hoá
tới việc góp phần thúc đẩy nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của xã hội.
Trong tư tưởng văn hoá, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến bản chất của
mọi hiện tượng văn hoá đó chính là khả năng sáng tạo của nhân dân lao động.
Khi khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo văn hoá, là ngọn
nguồn của mọi giá trị văn hóa, Người nhắc nhở cần tạo cho văn hoá một động
lực, một diện mạo hoàn toàn mới, góp phần vào việc xây dựng và phát triển
một nền văn hoá mới ở Việt Nam.
Tóm lại, “văn hoá” là một khái niệm có nội hàm phong phú và ngoại
diên rất rộng, cho nên tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau. Cho dù hiểu
theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì văn hoá vẫn được coi là tất cả những giá trị
mà nhân loại đã đạt đựơc trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Văn
hoá chính là sự tiếp nối từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Văn hoá đã trở

mặt: tích cực và tiêu cực, tốt và chưa tốt, văn hoá và phản văn hoá. Nhưng nếu
vì thế mà chối từ, ngăn cấm một cách cực đoan, thái quá việc giao lưu văn hoá
là điều hết sức sai lầm. Chỉ có việc thực hiện giao lưu văn hoá một cách chủ
động, tích cực và có chọn lựa mới là phương cách thông minh và đúng đắn
nhất.
Việt Nam nằm ở vị trí ngã tư đường của sự giao lưu khu vực Đông
Nam Á và thế giới. Vì thế, trong lịch sử dân tộc đã tiếp xúc và giao lưu văn
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
12
hoá với nhiều nền văn hoá nhân loại. Đầu tiên là sự tiếp xúc và giao lưu văn
hoá giữa Việt Nam và Đông Nam Á. Rồi là sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá
của người Việt Nam với văn hoá Trung Hoa qua cả con đường triều đình hoặc
truyền giáo và cả con đường di dân với nhiều lĩnh vực như kỹ thuật (nghề in,
làm giấy, chế tạo thuốc súng ), văn hoá (chữ viết, Nho giáo, Đạo giáo ), y
học Mặt khác, Việt Nam còn tiếp xúc và giao lưu văn hoá với văn hoá Ấn
Độ. Bước vào thời kỳ cận đại, Việt Nam một mặt, phải tiến hành cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc, mặt khác, cũng tiếp
nhận nhiều nhân tố văn hoá phương Tây để hiện đại hoá đất nước. Sự tiếp xúc
văn hoá ở giai đoạn này vừa tự nguyện, vừa có tính chất cưỡng bức, áp chế.
Sau này, từ năm 1954 - 1975, văn hoá Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Mỹ cũng
ảnh hưởng tới văn hoá hai miền Bắc, Nam. Trong điều kiện chiến tranh khốc
liệt, sự tiếp xúc này chưa sâu nhưng vẫn để lại những dấu ấn nhất định, vừa
tích cực, vừa tiêu cực. Văn hoá Việt Nam ngày nay mang đầy đủ truyền thống
văn hoá người Việt cổ làm nên cội rễ bền vững và bản sắc của dân tộc, trong
đó những yếu tố ngoại sinh của các dân tộc khác mà văn hoá Việt Nam đã
tiếp nhận và “Việt hoá” trong những cuộc tiếp xúc và giao lưu cũng đã góp
phần làm phong phú, giàu có thêm văn hoá bản địa.
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu tinh hoa
văn hoá thế giới

mẽ và chính thức được coi là ý thức hệ chính thống trong một thời gian dài.
Như vậy, cả hai dạng thức của giao lưu, tiếp biến văn hoá cưỡng bức và
tự nguyện của mối quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá Trung Hoa đều
là nhân tố cho sự vận động của văn hoá Việt Nam trong diễn trình lịch sử.
Trong quá trình giao lưu văn hoá này, người Việt đã tạo ra khá nhiều thành
tựu văn hoá nhờ sự tiếp nhận kỹ thuật trong sản xuất, đặc biệt là việc tiếp
nhận chữ Hán đã trở thành yếu tố góp phần quan trọng vào sự phát triển của
văn hoá Việt Nam trong giai đoạn sau này.
Bên cạnh việc giao lưu và tiếp biến với văn hoá Trung Hoa, văn hoá
Việt Nam còn giao lưu và tiếp biến với văn hoá Ấn Độ. Mặc dù Việt Nam và
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
14
Ấn Độ là hai quốc gia cách xa nhau về mặt địa lý nhưng văn hoá Ấn Độ lại có
ảnh hưởng sâu đậm đến văn hoá Việt Nam. Quá trình giao lưu và tiếp biến
giữa hai nền văn hoá này diễn ra từ rất sớm mà đầu tiên là thông qua con
đường buôn bán. Biểu hiện đầu tiên cho sự ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ ở Việt
Nam chính là mô hình tổ chức xã hội của văn hoá Óc Eo và chế độ vương
quyền của văn hoá Chămpa. Và nổi bật hơn cả là sự tiếp nhận các tôn giáo Ấn
Độ của người Việt là đạo Phật và đạo Bàlamôn. Từ những năm đầu công
nguyên, Giao Châu đã trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam Á (Luy
Lâu). Người Việt đã dễ dàng thích ứng và tiếp biến đạo Phật một cách dung dị
vào cơ tầng văn hoá bản địa, bởi đạo Phật vốn có tinh thần bình đẳng và bác
ái, chủ trương dân chủ, không phân biệt đẳng cấp.
Ngoài ra, văn hoá Việt Nam còn có sự giao lưu và tiếp biến với văn hoá
phương Tây. Sự giao lưu và tiếp xúc này bắt đầu từ thế kỷ XVI thông qua con
đường truyền giáo của các linh mục phương Tây và nó thực sự diễn ra mạnh
mẽ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị lên đất nước ta. Có thể nói,
đây là thời kỳ biến động lớn về tư tưởng và chính trị, đồng thời văn hoá Việt
Nam cũng có sự thay đổi căn bản. Nhìn ở phương diện tính chất, giao lưu văn

được tái cấu trúc lại dẫn tới việc các nước này từng bước chối bỏ “phương thức
sản xuất Châu Á”, tức là nền văn minh nông nghiệp truyền thống để đi vào quỹ
đạo của nền văn minh công nghiệp phương Tây. Kết quả là văn hoá Việt Nam
giai đoạn này thay đổi diện mạo nhưng văn hoá Việt Nam không mất đi bản sắc
vốn có của mình.
Rõ ràng, giao lưu và tiếp biến văn hoá đã trở thành quy luật phát triển của
văn hoá, quy luật tất yếu của đời sống. Một dân tộc muốn phát triển nền văn hoá
của mình thì không thể đứng ngoài quy luật ấy. Do đặc điểm địa lý và lịch sử mà
ngay từ rất sớm, dân tộc Việt Nam đã có truyền thống giao lưu văn hoá và qua
từng thời kỳ lịch sử, sự giao lưu và tiếp xúc văn hoá được biểu hiện ở các
phương thức và mức độ khác nhau.
Hồ Chí Minh sinh ra trong bối cảnh sự giao lưu và tiếp xúc giữa văn hoá
Việt Nam và văn hoá phương Tây diễn ra hết sức mạnh mẽ. Bản thân Hồ Chí
Minh cũng được thừa hưởng những thành quả của cuộc tiếp xúc, giao lưu đó
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
16
đem lại. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, từ nhỏ, Người đã được hấp thụ
một nền Hán học và Quốc học khá vững vàng. Năm 1905, Hồ Chí Minh vào
trường tiểu học bản xứ Pháp - Việt; đây là trường tiểu học do thực dân Pháp mở
để dạy tiếng Pháp và chữ quốc ngữ với mục đích đào tạo những “công chức bản
xứ”, phục vụ lợi ích cho chúng. Chính từ môi trường này, lần đầu tiên Hồ Chí
Minh đã được tiếp xúc với văn hoá phương Tây, cho dù mới chỉ là sự tiếp xúc,
tìm hiểu những giá trị cơ bản nhưng đó lại là cơ sở để sau này Hồ Chí Minh tiếp
tục tìm hiểu, khám phá và tiếp thu trong quá trình đi tìm đường cứu nước.
Năm 1911, Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước
cho dân tộc. Cuộc hành trình dài trong nhiều năm, qua năm châu bốn biển, đặt
chân tới những nước Âu, Phi, Mỹ, là một trường học lớn để Hồ Chí Minh tìm
hiểu, nhận xét, đánh giá và học tập. Đó cũng là một quá trình chọn lọc, tiếp
nhận tinh hoa văn hoá phương Tây, trước hết là lý tưởng cách mạng dân chủ tự

nhiều cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị của riêng mình.
Ngay từ rất sớm, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa
và Ấn Độ, tiếp nhận và biến đổi những giá trị văn hoá đó cho phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh lịch sử dân tộc mình. Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo
được du nhập vào Việt Nam, tuỳ vào từng thời kỳ lịch sử mà mỗi học thuyết
có vị trí khác nhau hoặc được dung hoà với nhau trong cùng một nền văn hoá
dân tộc và đều trở thành những thành tố cấu thành nên nền văn hoá Việt Nam.
Trước hết là Nho giáo. Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất
sớm bởi những người Trung Hoa mà phần lớn là quan lại của chính quyền đô
hộ, cho nên trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, thái độ tiếp nhận của người Việt rất
dè dặt. Nhưng khi nước Đại Việt bước vào thời kỳ tự chủ, Nho giáo được giai
cấp phong kiến Việt Nam sử dụng như một công cụ xây dựng chính quyền và
quản lý xã hội thì Nho giáo ngày càng phát triển và dần dần chiếm vị thế độc
tôn. Nho giáo có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội và trở
thành một thành tố của văn hoá Việt Nam. Với tư cách là một học thuyết
chính trị, đạo đức, Nho giáo có vai trò như một tố chất trong nho sĩ. Tâm tư,
tình cảm, tư tưởng và lối sống của nhà nho Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
18
giáo là lẽ đương nhiên. Và qua tầng lớp nho sĩ, Nho giáo đã đến được với đại
đa số quần chúng nhân dân. Một điều đáng lưu ý là, trong xã hội Việt Nam từ
thế kỷ XV trở về sau, tầng lớp trí thức trong xã hội chính là các nhà nho. Do
vậy, sáng tạo văn hoá của họ chứa đựng tư tưởng Khổng Mạnh là lẽ tự nhiên.
Từ Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn ,
trước tác của những nhân vật văn hoá tiêu biểu của đất nước, đều thể hiện tư
tưởng Nho giáo. Trong suốt quá trình lịch sử phát triển ở Việt Nam, Nho giáo
có “độ khúc xạ” (chữ dùng của PGS. Phan Ngọc), do những điều kiện xã hội,
lịch sử và con người Việt Nam có khác với những điều kiện này ở Trung Hoa.
Do vậy, Nho giáo ở Việt Nam có những nét khác biệt với Nho giáo ở Trung

muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp” [48, tr.89].
Như vậy, diễn trình văn hoá Việt Nam trong lịch sử có sự ảnh hưởng của
nhiều tư tưởng học thuyết khác nhau nhưng tiêu biểu nhất là Nho – Phật - Đạo.
Người Việt đã tiếp thu những tư tưởng đó trên tinh thần chọn lọc, tiếp thu những
gì phù hợp với điều kiện xã hội và hoàn cảnh lịch sử, Việt hoá chúng làm cho
chúng trở thành những thành tố của văn hoá Việt Nam. Một đặc điểm nổi bật là,
khi Nho - Phật - Đạo vào Việt Nam, người Việt đã có sự thích ứng và dung hoà
các tư tưởng đó cho phù hợp với các giá trị truyền thống dân tộc. Điều đó làm
cho văn hoá Việt Nam không bị mất đi bản sắc dân tộc mình mà còn được bổ
sung, làm phong phú thêm bởi các hệ giá trị đó.
Đầu thế kỷ XVI, văn hoá phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam.
Đầu tiên là Kitô giáo. Có thể nói, ảnh hưởng lớn của Kitô giáo với văn hoá
Việt Nam phải được nhìn nhận ở khía cạnh chữ Quốc ngữ. Với mục đích
truyền đạo, các giáo sĩ đã dùng bộ chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt, tạo ra
chữ Quốc ngữ. Ban đầu người dân Việt Nam phản ứng không dùng chữ này;
về sau các trí thức đã hiểu được cái lợi của chữ Quốc ngữ trong việc nâng cao
dân trí đã ra sức cổ động cho việc dùng chữ Quốc ngữ. Từ chỗ là chữ lưu
hành trong nội bộ đạo Kitô, chữ Quốc ngữ đã là chữ viết của cả dân tộc sử
dụng.
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
20
Đến giữa thế kỷ XIX, văn hoá Việt Nam bắt đầu chuyển động nhanh
hơn do tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Từ thái độ từ chối, người Việt đã
chuyển dần sang tiếp thu một cách tự nguyện các phát minh, sáng chế công
nghiệp cũng như các tư tưởng dân chủ của cách mạng phương Tây và của các
nhà triết học Khai sáng khi nhận thấy sự cần thiết phải canh tân, đổi mới văn
hoá dân tộc. Chính sự tiếp thu đó mà văn hoá Việt Nam có sự thay đổi lớn về
cơ cấu và phát triển đa dạng, phong phú hơn.
Kế thừa truyền thống tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới của dân tộc, Hồ

Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thứ hai của thực dân Pháp
khiến cho xã hội Việt Nam có thêm tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Được tiếp xúc
với những sách báo có nội dung yêu nước và tiến bộ, nhiều trí thức, học sinh,
sinh viên đã nhận ra những cảnh áp bức, miệt thị của thực dân Pháp đối với
người dân Việt Nam. Câu hỏi lớn nhất của thời đại khiến tầng lớp này đi tìm một
hệ tư tưởng có thể giúp họ cứu được dân, được nước. Tư tưởng “tam dân” của
Tôn Trung Sơn không phải không có lúc họ đã tìm đến. Nhưng rồi tầng lớp này
cũng không trả lời được câu hỏi lớn nhất của thời đại.
Mặc dù bị thất bại nhưng những tư tưởng canh tân, tiến bộ, muốn
hướng Việt Nam ra với thế giới bên ngoài để tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại nhằm mục đích cuối cùng là cứu nước, cứu dân của các nhà tư tưởng
đầu thế kỷ XX đã tác động rất lớn đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, thôi thúc Hồ Chí Minh tìm ra một
hướng đi mới để giải phóng dân tộc.
Từ tấm lòng yêu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
phong trào cách mạng Việt Nam. Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở
lý luận quan trọng nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó văn hoá
mácxit có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, với nghĩa, học thuyết cách mạng và khoa
học đó đã trang bị cho Người thế giới quan, phương pháp luận để giao lưu
và tiếp biến văn hoá, làm giàu trí tuệ của mình và văn hoá dân tộc.
Trịnh Thanh Mai
Luận văn Thạc sĩ Triết học
22
Văn hoá mácxit nằm trong nền văn hoá chung của nhân loại và nó là một
trong những dòng tinh tuý nhất, dòng chủ lưu hướng nhân loại đi trên con đường
văn minh. Hồ Chí Minh gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và đã chính thức tin theo học
thuyết đó bằng sự kiện tham gia Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở
Tua vào tháng 12 năm 1920, rồi tiếp tục cảm nhận thêm và vận dụng, làm phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status