Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 25


1
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
VIỆN TRIẾT HỌC TRIỆU QUANG MINH

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA GIẢI PHÓNG DÂN TỘC,
GIẢI PHÓNG GIAI CẤP VÀ GIẢI PHÓNG CON
NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


đầu thế kỷ XX
12
1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin - cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
23
CHƢƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG GIAI
CẤP VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƢỜI TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC HIỆN NAY
35
2.1 Mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
35
2.1.1. Đặt vấn đề dân tộc giải phóng trên lập trường của giai cấp công nhân
35
2.1.2. Từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa
41
2.1.3. Độc lập cho dân tộc Việt Nam và cho tất cả các dân tộc bị áp bức
47
2.1.4. Giải phóng dân tộc gắn với mục tiêu phát triển toàn diện con người
52
2.2. Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong sự nghiệp đổi
mới đất nước hiện nay
59
KẾT LUẬN
74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
đang tạo ra một rào cản vô hình đối với sự phát triển chung của đất nƣớc.
Biểu hiện rõ nét là tình trạng suy thoái đạo đức, mất lập trƣờng, lối sống vị

5
kỷ, chạy theo lợi ích vật chất Trong khi đó, các thế lực thù địch luôn lợi
dụng sự phân hoá giàu nghèo, sự dịch chuyển cơ cấu giai cấp - xã hội, sự
khác biệt về thành phần xuất thân, tôn giáo để kích động và gây chia rẽ
trong nội bộ nhân dân ta, nhằm phá vỡ nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa. Thực
trạng này đòi hỏi Đảng và Nhà nƣớc phải xử lý thật hài hoà mối quan hệ
giữa lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân để một mặt có thể
củng cố và phát huy đƣợc sức mạnh đại đoàn kết, mặt khác khơi dậy và tận
dụng đƣợc sức mạnh tiềm năng của mỗi giai cấp, cá nhân. Bên cạnh đó,
trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và hiện thực hoá tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh, có nhiều cá nhân, tổ chức do không nắm vững bản chất, nội dung tƣ
tƣởng của Ngƣời đã tuyệt đối hoá quan điểm dân tộc của Hồ Chí Minh
thành chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Họ còn cho rằng, trong kháng chiến Hồ
Chí Minh bỏ quên vấn đề giai cấp, giờ đây phải trở lại giải quyết vấn đề
giai cấp một cách triệt để.
Tất cả những lý do trên đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải trở lại
nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con ngƣời. Từ đó, thêm một lần nữa khẳng định ý
nghĩa của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề này và tìm ra những chỉ dẫn thích
hợp với giai đoạn cách mạng mới. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Sự thống
nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con ngƣời
trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh soi đƣờng và mang lại thắng lợi cho cuộc
đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Trong những năm qua đề tài tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài
nƣớc quan tâm. Có thể liệt kê một số tác phẩm nhƣ: Hồ Chí Minh và con

Nam

7
Ngoài ra còn một số các bài viết chuyên khảo đã đăng tải trên các tạp
chí nhƣ: Những cống hiến lý luận của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào
học thuyết Mácxít về giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp của Lê
Ngọc, Tạp chí Thông tin lý luận, số 11/1993; Mối quan hệ biện chứng giữa
vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Nguyễn
Duy Quý, Tạp chí Triết học số 5/ 2004. Kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp
với vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Lê Duy Sơn, Tạp chí
Nghiên cứu lý luận số 10/1999. Vấn đề dân tộc và giai cấp, thống nhất và
đấu tranh trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh của Lê Sỹ Thắng, Tạp
chí Triết học, 2/1993 Các bài viết của các tác giả đều phân tích và chỉ ra
sự gắn bó hữu cơ giữa vấn đề dân tộc, giai cấp, con ngƣời trong tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh: Nguyễn Duy Quý trong bài viết nêu trên đi theo tiến trình từ
khi Bác ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc, đến lúc Ngƣời đƣợc tiếp cận với Sơ thảo
lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, tới Chính
cương vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo… để khẳng định,
với Hồ Chí Minh, “cái giai cấp đƣợc biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc
đƣợc giải quyết trên lập trƣờng giai cấp công nhân” 65,14. Lê Sỹ Thắng
trong bài viết Vấn đề dân tộc và giai cấp, thống nhất và đấu tranh trong
con người và tư tưởng Hồ Chí Minh đã khái quát những luận giải của Hồ
Chí Minh về sự gắn bó hữu cơ giữa giải phóng dân tộc, giai cấp và con
ngƣời và cho rằng “ ở Hồ Chí Minh, lập trƣờng dân tộc và lập trƣờng giai
cấp thống nhất với nhau” 68,55.
Ngoài ra cũng có một số luận án nghiên cứu về tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh nhƣ: Lƣơng Văn Kham với đề tài Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đoàn Thị Minh Oanh với
đề tài Vấn đề giải phóng người lao động Việt Nam bị áp bức trong tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh. Cũng đề cập tới tƣ tƣởng về dân tộc, giai cấp của

ngƣời đối với sự nghiệp đổi mới đất nƣớc hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

9
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh và những tƣ tƣởng trong các Văn kiện của Đảng, trong các tác phẩm
viết về Hồ Chí Minh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc áp dụng trong luận văn là: kết hợp
lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, trừu tƣợng và
cụ thể, đối chiếu, so sánh…
5.Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu mối quan hệ và chỉ ra sự thống nhất
giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con ngƣời trong
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, luận văn rút ra một số ý nghĩa của tƣ tƣởng này của
Ngƣời đối với sự nghiệp đổi mới đất nƣớc hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn đƣợc chia thành hai chƣơng, bốn tiết.


Đối với mỗi ngƣời dân Việt Nam, “dân” phải gắn liền với “nƣớc”,
ngƣợc lại chủ nghĩa yêu nƣớc bao giờ cũng mang tính nhân dân sâu sắc.
Những bậc anh hùng lớn của dân tộc đều nhận thức đƣợc chân lý đó, khi
coi “nƣớc nhà chung sức”, “ý chí của dân chúng” nhƣ một nguồn sức mạnh

11
giữ nƣớc (Trần Quốc Tuấn) hay ví dân nhƣ nƣớc “nƣớc có thể chở thuyền
và lật thuyền” (Nguyễn Trãi). Đƣơng nhiên, trong mỗi thời đại, chủ nghĩa
yêu nƣớc còn bị chi phối bởi hệ tƣ tƣởng thống trị của thời đại đó. Trong
thời đại phong kiến, chủ nghĩa yêu nƣớc gắn với chủ nghĩa trung quân. Ban
đầu, sự gắn kết đó mang tính tích cực, nhƣng dần dần chế độ phong kiến
rơi vào con đƣờng suy thoái và bộc lộ những tiêu cực của nó, chủ nghĩa
trung quân trở nên bảo thủ và độc lập với chủ nghĩa yêu nƣớc chân chính.
Những bế tắc và thất bại của phong trào yêu nƣớc cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX đã chứng tỏ sự phá sản của chủ nghĩa trung quân. Hồ Chí Minh xuất
thân trong một gia đình nhà Nho không bị ràng buộc bởi tƣ tƣởng trung
quân nhƣ một số trí thức đƣơng thời. Tƣ tƣởng yêu nƣớc của Ngƣời thấm
nhuần những giá trị dân tộc và nhân bản của đạo lý Việt Nam, gắn nƣớc
với dân và lấy đó làm mục tiêu hàng đầu. Chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam là
một nhân tố quan trọng góp phần hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con ngƣời.
Cùng với chủ nghĩa yêu nƣớc, tính cố kết cộng đồng là một chất keo
kết dính toàn thể dân tộc Việt Nam thành một khối thống nhất. Tính cố kết
cộng đồng đó xuất hiện từ trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên tai và với
giặc ngoại xâm. Nói cách khác, chủ nghĩa yêu nƣớc và tính cố kết cộng
đồng của dân tộc Việt Nam không nằm khu biệt mà chúng nằm trong mối
liên hệ hữu cơ, thống nhất với nhau. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử
chống giặc ngoại xâm và chống thiên tai để bảo vệ và xây dựng đất nƣớc.
Vấn đề thiên tai, địch hoạ gắn liền với phƣơng thức sản xuất truyền thống
của dân tộc Việt Nam. Ở Việt Nam, sản xuất nông nghiệp từ lâu đã là

tinh thần dân tộc, lòng tự tôn, tự hào về dân tộc đƣợc nảy nở và không ngừng
phát triển. Dân tộc Việt Nam không chỉ chiến đấu để bảo vệ toàn vẹn lãnh
thổ mà còn chiến đấu để khẳng định vị trí của dân tộc Việt Nam. Tinh thần
dân tộc ở đây không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, vì lợi ích
của dân tộc mình mà xâm hại đến lợi ích của các dân tộc khác. Tinh thần dân

13
tộc ở đây cần đƣợc hiểu là lòng tự tôn, tự hào dân tộc, ý thức về cội nguồn
và về một lãnh thổ chung và lòng quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, độc lập chủ
quyền của dân tộc: “Nam quốc sơn hà nam đế cƣ. Tiệt nhiên định phận tại
thiên thƣ. Nhƣ hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hƣ”
(Lý Thƣờng Kiệt)
Kinh nghiệm nghìn năm lịch sử của dân tộc ta cho thấy, mỗi lần tổ
quốc lâm nguy, chủ nghĩa yêu nƣớc, tinh thần dân tộc lại làm bùng lên
trong mỗi ngƣời con Việt Nam ý thức sẵn sàng hy sinh vì lợi ích chung:
quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Chính chủ nghĩa yêu nƣớc, tinh thần dân
tộc đã làm nên sức mạnh đoàn kết. Có thể nói đoàn kết toàn dân tộc là nhân
tố quyết định sự thành công của sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc; một dân
tộc nhỏ nhƣng biết đoàn kết chặt chẽ thì sẽ tạo ra đƣợc sức mạnh to lớn, có
thể đập tan đƣợc mọi kẻ thù xâm lƣợc. Không có sức mạnh đoàn kết thì dân
tộc Việt Nam không thể tồn tại và phát triển đƣợc. Hồ Chí Minh là ngƣời
rất am hiểu lịch sử dân tộc. Ngƣời nhận thức đƣợc, rằng để giải phóng dân
tộc, giai cấp và con ngƣời thì cần phải tập hợp, đoàn kết các lực lƣợng nhân
dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Mặt trận thống nhất là
nơi thể hiện đầy đủ nhất sức mạnh của quần chúng nhân dân và hoàn thành
sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc.
Truyền thống dân tộc đã nuôi dƣỡng những ngƣời con của dân tộc
Việt Nam. Hồ Chí Minh là một trong những ngƣời con lĩnh hội đầy đủ nhất
tinh hoa đó của dân tộc. Ngƣời tìm ra mẫu số chung của cả dân tộc Việt
Nam là lòng yêu nƣớc. Ngƣời biết hoà lòng yêu nƣớc của bản thân vào

trị trực tiếp, nô dịch hóa nhân dân:
Về kinh tế, chúng thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát
triển kinh tế độc lập của nƣớc ta, áp dụng cả lối bóc lột kiểu phong kiến,
làm cho nhân dân ta, nhất là nông dân và công nhân bị bần cùng hoá, làm
cho kinh tế nƣớc ta không thể phát triển.

15
Về văn hoá xã hội, chúng thực hiện chính sách ngu dân, tuyên truyền
văn hoá thực dân phản động, khuyến khích văn hoá nô dịch, tự ti, kìm hãm
dân ta trong vòng tối tăm để phục vụ sự cai trị của chúng.
Thực dân Pháp cũng cho xây dựng trƣờng học, mở mang đƣờng giao
thông và thành lập một số cơ sở kinh tế nhƣng là để phục vụ mục đích cai
trị và bóc lột của mình. Nhìn chung, chính sách khai thác thuộc địa của
thực dân Pháp làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng què quặt về kinh tế,
nhiều tầng lớp nhân dân bị bần cùng hoá, cơ cấu xã hội – giai cấp có những
biến đổi sâu sắc với sự xuất hiện của giai cấp công nhân, tầng lớp tƣ sản,
tiểu tƣ sản bên cạnh các tầng lớp, giai cấp cũ. Giai cấp nông dân Việt Nam
là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến, giờ đây ngoài bị
bóc lột phong kiến, họ còn chịu thêm bóc lột thực dân. Thuế khoá nặng nề,
lao dịch chồng chất đã làm cho đời sống ngƣời nông dân Việt Nam rất cơ
cực. Bị mất ruộng và phá sản, nông dân phải cày thuê cho địa chủ, một bộ
phận phải bỏ làng ra các thành thị kiếm sống hoặc chạy vào các đồn điền,
hầm mỏ làm thuê trở thành đội quân vô sản: giai cấp công nhân Việt Nam
là đại biểu cho sản xuất công nghiệp ở Việt Nam, họ sống tập trung ở thành
thị và trung tâm kinh tế, họ bị tƣ bản thực dân bóc lột trực tiếp nhất; giai
cấp tƣ sản Việt Nam ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất, họ bị thực dân
chèn ép áp bức, là bộ phận nhỏ bé, yếu ớt, lệ thuộc nặng nề cả về kinh tế và
chính trị vào thực dân Nhìn chung, cách mạng Việt Nam lúc này gặp
nhiều khó khăn, nhất là về mặt tổ chức lực lƣợng. Giai cấp nông dân tuy
chiếm trên 90% dân số nhƣng vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực vì thiếu tổ chức,

Dƣơng, lƣu học sinh Việt Nam đều bị trục xuất khỏi nƣớc Nhật.
Ngƣợc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trƣơng chống
phong kiến mà chƣa chống đế quốc, giành tự do, dân chủ bằng phƣơng

17
pháp ôn hoà, dựa vào Pháp để chống phong kiến. Phong trào Duy Tân do
Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi xƣớng nhằm
đổi mới chính trị và văn hoá đất nƣớc để đi tới độc lập tự chủ. Phong trào
này ra sức phê phán sự thối nát của vua quan nhà Nguyễn, mặt khác trông
mong vào sự giúp đỡ của đế quốc Pháp nhằm thực hiện “dân quyền”, “dân
chủ” ở nƣớc ta. Nhƣng tƣ tƣởng “ỷ Pháp, cầu tiến bộ” đó không nhận đƣợc
sự tin tƣởng và ủng hộ của Pháp. Vì thế nhiều ngƣời trong Duy tân hội bị
bắt bớ tù đày, bản thân Phan Châu Trinh cũng nhiều lần phải vào nhà tù đế
quốc.
Sự khác nhau trong phƣơng pháp tiến hành cách mạng của các phong
trào do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xƣớng, lãnh đạo làm cho
phong trào yêu nƣớc theo khuynh hƣớng tƣ sản ở Việt Nam phân hoá thành
hai xu hƣớng: bạo động mang tính chất truyền thống và cải cách tƣ sản mới
mẻ. Những hoạt động của hai ông và những nhà yêu nƣớc khác làm bùng
lên phong trào cứu nƣớc mang sắc thái mới, nhiều hình thức hoạt động đa
dạng đã diễn ra chứ không đơn thuần là vũ trang truyền thống, tiêu biểu là
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lƣơng Văn Can và Nguyễn Quyền
tổ chức. Mục tiêu của phong trào này là truyền bá nền văn hoá mới để thực
hiện chủ nghĩa yêu nƣớc mới. Lúc đầu thực dân Pháp tƣởng rằng phong
trào này chỉ đòi hỏi thực hiện cải lƣơng văn hoá nhƣng sau đó chúng nhận
thấy tổ chức này có xu hƣớng chống Pháp nên đã đóng cửa “cái lò phản
loạn ấy” Có thể thấy, rằng tuy các phong trào yêu nƣớc có xu hƣớng tƣ
sản đều đã bộc lộ sự bế tắc, không phát triển đƣợc và thất bại nhƣng chúng
đã góp phần cổ vũ, thức tỉnh tinh thần yêu nƣớc trong nhân dân, nhất là
thanh niên, trí thức, học sinh.

Công Trứ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…
Nguyễn Tất Thành đƣợc rèn luyện trong cuộc sống lao động và đấu
tranh của những ngƣời dân mất nƣớc đang phải chịu kiếp nô lệ, đƣợc tiếp
xúc với những nhà Nho yêu nƣớc, đƣợc tham gia và chứng kiến nhiều

19
phong trào yêu nƣớc bị đàn áp và thất bại…Với một tƣ chất thông minh,
Nguyễn Tất Thành sớm nhận ra sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở
truyền thống yêu nƣớc thƣơng nòi. Bản thân Ngƣời sau này cũng khẳng
định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nƣớc, chứ chƣa phải chủ nghĩa cộng
sản đã đƣa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III” [55,128].
Nhƣ vậy, truyền thống dân tộc, quê hƣơng, gia đình đã đặt nền móng
đầu tiên cho tƣ tƣởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con ngƣời của Hồ Chí Minh. Ngƣời thanh niên Nguyễn Tất Thành khi ấy
chƣa hiểu gì về những lý tƣởng cao xa, chỉ có một lòng nồng nàn yêu nƣớc,
một ƣớc muốn góp sức đƣa dân tộc thoát khỏi lầm than. Nguyễn Tất Thành
hiểu rằng: “Nƣớc Việt Nam thành lập đã hơn 2000 năm, Việt Nam là một
dân tộc có chung một lịch sử, một thứ tiếng, một nền kinh tế và văn hoá. Dân
tộc Việt Nam đã cùng nhau đoàn kết, nhất trí trong lao động, xây dựng và
trong chiến đấu chống ngoại xâm” [53,52]. Sở dĩ đạt đƣợc điều đó là vì:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xƣa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lƣớt qua mọi
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nƣớc và lũ cƣớp
nƣớc Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà
Trƣng, Bà Triệu, Trần Hƣng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v Chúng ta phải
ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của
một dân tộc anh hùng” [51, 171-172].
Từ thực tiễn cách mạng trong nƣớc, Nguyễn Tất Thành nhận ra, rằng
không thể đi theo vết xe của các vị tiền bối. Mặc dù rất khâm phục các cụ:

thức tham gia vào thực tiễn cách mạng thế giới.
Cách mạng thế giới
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tình hình cách mạng thế giới có
nhiều biến động. Chủ nghĩa tƣ bản thế giới đã chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa. Cục diện thế giới có những biến đổi sâu sắc với sự tranh
giành, phân chia thuộc địa của các nƣớc đế quốc. Thế giới bị phân chia làm

21
hai khu vực: khu vực gồm các nƣớc công nghiệp phát triển, thƣờng đƣợc
gọi là phƣơng Tây và khu vực gồm các nƣớc thuộc địa, thƣờng đƣợc gọi là
phƣơng Đông. Vấn đề đặt ra đối với các nƣớc phƣơng Tây lúc này là khai
thác đƣợc từ các nƣớc thuộc địa càng nhiều càng tốt để phát triển chính
quốc. Trong khi đó vấn đề đặt ra đối với các nƣớc thuộc địa, trong đó có
Việt Nam là phải làm thế nào để đƣợc giải phóng.
Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất diễn ra làm gia tăng mâu
thuẫn giữa chính các nƣớc đế quốc và hình thành rõ nét một mâu thuẫn mới
đó là: mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, thực
dân. Bên cạnh đó, phƣơng Đông đang “thức tỉnh” với một loạt phong trào
giải phóng dân tộc ở các nƣớc thuộc địa phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc,
Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêxia… Thực tế đó đã đặt những tiền đề đầu tiên
cho phép hình thành liên minh các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Tình hình cách mạng thế giới càng trở nên sôi động khi Cách mạng
Tháng Mƣời Nga thành công, lập ra nhà nƣớc công nông binh đầu tiên trên
thế giới. Cách mạng Tháng Mƣời Nga đã làm nức lòng nhân dân thế giới
và làm sáng lên niềm tin vào một tƣơng lai mới.
Những biến động của tình hình cách mạng thế giới đã tác động mạnh
đến Nguyễn Tất Thành trong suốt quá trình Ngƣời bôn ba tìm đƣờng cứu
nƣớc. Trong khoảng thời gian đầu tiên, khi ở Pháp, ấn tƣợng sâu sắc để lại
trong tâm trí ngƣời thanh niên yêu nƣớc Nguyễn Tất Thành không phải là
một nƣớc Pháp với nền công nghiệp, kỹ thuật tiên tiến mà là một nƣớc Pháp

dân lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man, các dân tộc thuộc địa đều có
một kẻ thù không đội trời chung là bọn đế quốc, thực dân. Đây có thể coi là
gốc rễ đầu tiên đƣa Nguyễn Tất Thành đến với chủ nghĩa quốc tế, hình
thành mầm mống đầu tiên cho ý định liên minh giữa những ngƣời bị áp bức
của các dân tộc thuộc điạ và phụ thuộc.
Bƣớc ngoặt lớn trong việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải
phóng dân tộc, giai cấp và con ngƣời là khi Ngƣời tiếp xúc với Sơ thảo lần

23
thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin.
Nếu bản Luận cƣơng đã làm Nguyễn Ái Quốc vui mừng đến phát khóc lên
khi tìm thấy ở đó chân lý giải phóng dân tộc thì với Cách mạng Tháng
Mƣời, Ngƣời khẳng định: “Nhƣ ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối,
cuộc Cách mạng Tháng Mƣời đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài
ngƣời” [53,558]. Ngƣời nhấn mạnh: “Giống nhƣ mặt trời chói lọi, Cách
mạng Tháng Mƣời chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng
triệu ngƣời bị áp bức, bóc lột trên trái đất” [57,300]. Nghiên cứu Cách
mạng Tháng Mƣời Nga, Hồ Chí Minh nhận thấy, rằng đây là cuộc cách
mạng vƣợt xa và khác hẳn các cuộc cách mạng trƣớc đây trong lịch sử.
Mục tiêu của cuộc cách mạng này không phải chỉ đem lại quyền lợi cho
một số ít ngƣời mà là giải phóng toàn thể xã hội. Từ đây, Nguyễn Tất
Thành phát hiện ra, rằng cách mạng Việt Nam cũng phải làm đến nơi nhƣ
Cách mạng Tháng Mƣời Nga mới thoát đƣợc áp bức dân tộc, áp bức giai
cấp để giải phóng con ngƣời nói chung.
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp.
Tháng 6 năm 1919, thay mặt những ngƣời Việt Nam yêu nƣớc ở Pháp,
Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vecxây
bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” gồm tám điểm đòi chính phủ Pháp
thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt
Nam. Bản yêu sách không đƣợc chấp nhận. Qua kinh nghiệm thực tế,

thời đại và đem chân lý ấy về cho cách mạng Việt Nam. Kết quả này có sự
đóng góp rất lớn của nhân tố chủ quan vì tƣ tƣởng lý luận hay đƣờng lối
cách mạng bao giờ cũng phụ thuộc vào con ngƣời sinh ra và vận dụng tƣ
tƣởng đó.

25
Ở Hồ Chí Minh, nổi bật lên là những tƣ chất và phẩm chất sau: tƣ
chất thông minh, tƣ duy độc lập, sáng tạo, tính ham học hỏi, tầm nhìn sâu
rộng, có khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát thực tiễn và nhạy bén với
cái mới Hồ Chí Minh luôn mang theo mình những phẩm chất và tƣ chất
ấy. Điều này cắt nghĩa:
- Tại sao Nguyễn Tất Thành sang Pháp chứ không phải sang Nhật
theo cụ Phan Bội Châu mặc dù cụ Phan có ảnh hƣởng rộng, lại rất thân với
cụ Nguyễn Sinh Sắc và yêu mến Nguyễn Tất Thành?
- Tại sao Nguyễn Tất Thành lại chọn nƣớc Mỹ, nƣớc Anh để ở lại
một thời gian trƣớc khi trở về Pháp hoạt động?
- Tại sao đầu thế kỷ XX có rất nhiều ngƣời Việt Nam sang Pháp và
cũng không phải chỉ có Nguyễn Tất Thành đọc Luận cƣơng của V.I.Lênin,
nhƣng chỉ có duy nhất Nguyến Tất Thành trở thành ngƣời cộng sản?
- Tại sao Nguyễn Tất Thành không sang Trung Quốc trong khi
Quảng Châu đƣợc coi là “cái nôi” của cách mạng Việt Nam?
- Tại sao khi đến Pháp, mặc dù có nhiều ngƣời đỡ đầu nhƣ: Phan
Văn Trƣờng, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh nhƣng Nguyễn Tất
Thành không ở lại Pari mà tiếp tục đi đến các nƣớc khác?
Nhƣ vậy, có thể nói, rằng nhân tố chủ quan trong con ngƣời Hồ Chí
Minh đã kết hợp một cách tài tình với điều kiện khách quan để tạo ra cho dân
tộc Việt Nam một Nguyễn Ái Quốc, một Hồ Chủ tịch, một vĩ lãnh tụ vĩ đại
sau này.
Mang theo lòng yêu nƣớc, nhiệt tình cách mạng Hồ Chí Minh tham
gia vào thực tiễn cách mạng sôi động. Chính trong thực tiễn ấy, trong khi đi

vô cơ’ con ngƣời trở thành một thực thể mang tính tộc loại, có ý thức, một
thực thể đối xử với tộc loại nhƣ với bản chất của chính mình, hoặc đối xử
với bản thân mình nhƣ một thực thể có tính tộc loại. Khi so sánh con ngƣời
và con vật về phƣơng thức hoạt động, C.Mác đã chỉ ra những đặc điểm cơ
bản trong hoạt động sản xuất của con ngƣời: đó là hoạt động phổ biến, hoạt
động cả khi con ngƣời tự do thoát khỏi nhu cầu thể xác trực tiếp, là sự tái

Trích đoạn nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status