Con người và văn hóa trong phân tâm học Freud - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 TẠ THỊ VÂN HÀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ
TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong xã hội hiện đại vô cùng phức tạp, con ngƣời
vẫn phải đối mặt với vô vàn vấn đề nan giải. Việc tìm ra định hƣớng sống phù
hợp với bản chất văn hóa, nhân văn của mình là một nhiệm vụ thực sự cấp
bách của con ngƣời hiện đại. Lịch sử văn minh nhân loại cho thấy, phần lớn
thành tựu loài ngƣời đạt đƣợc cho tới nay đều dựa trên Khoa học, tƣ duy duy
lý vốn chủ yếu đã hình thành vào thời Cận đại ở Tây Âu. Tuy nhiên, định
hƣớng tƣ duy và lối sống duy khoa học, duy kỹ thuật, kỹ trị và việc đề cao
thái quá những giá trị vật chất do văn minh duy lý đem lại đã đƣa loài ngƣời
đến những thảm họa ở thời hiện đại, mà biểu hiện rõ nhất là hai cuộc thế
chiến ở thế kỷ XX. Nguy hiểm hơn, cách tiếp cận duy lý cực đoan tới bản
thân con ngƣời, tới bản tính ngƣời đã đơn giản hóa bản tính ngƣời, tƣớc bỏ ở
nó hàng loạt những đặc điểm quan trọng khiến cho con ngƣời bị đẩy vào tình
trạng bế tắc dù cố vùng vẫy thoát ra khỏi những tình huống sinh hoạt nan giải.
Bối cảnh sinh tồn của con ngƣời phƣơng Tây hiện đại đã làm cho họ lâm vào
khủng hoảng tinh thần sâu sắc, nó đòi hỏi ngƣời ta phải tìm hiểu kỹ lƣỡng và
toàn diện hơn “thế giới nội tâm”, bản tính ngƣời của mình nhƣ con đƣờng,
tiền đề lý luận để có đƣợc định hƣớng giá trị đáng tin cậy. Phân tâm học gắn
liền với tên tuổi Sigmud Freud ra đời chính trong điều kiện đó và nhằm đáp
ứng chính nhu cầu đó của con ngƣời phƣơng Tây hiện đại.
Cho đến nay, các quan điểm phân tâm học cơ bản của Freud không
những vẫn bảo toàn giá trị mà còn đƣợc các thế hệ kế tục ông làm cho phong
phú và phát triển toàn diện hơn. Hiệp hội phân tâm học đã đƣợc thành lập ở
nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó đáng kể hơn cả là Hiệp hội Phân tâm học
quốc tế. Tại nhiều trƣờng đại học trên thế giới, phân tâm học đã trở thành
môn học chính thức. Phân tâm học Freud không chỉ là một lý thuyết về y học
2

mà còn đƣợc ứng dụng trong nghiên cứu văn học, nghệ thuật, trong nhân học,
trong xã hội học, điều này càng làm cho học thuyết này có đƣợc nội dung, sắc

học thuyết, hoặc về điểm này hay điểm khác, đến nay vẫn chƣa ngã ngũ. Có
thể nói trong khoảng 50 - 60 năm đầu, cuộc tranh luận gần nhƣ là bất phân
thắng bại. Có nhiều ngƣời đe doạ bắt ông bỏ tù, có ngƣời kết án Freud là kẻ
tội phạm lớn nhất đe doạ nền văn minh châu Âu. Phát xít Đức đốt sách của
ông, và trong nhiều thập kỷ một số ngƣời mac-xit cũng lên án ông gay gắt. Từ
những năm 1960 của thế kỷ trƣớc, cuộc tranh luận về Freud giữa hai phe đối
lập, một bên là tín đồ của Freud cho rằng phân tâm học là chìa khoá vạn năng
giả quyết tất cả các vấn đề nhân sinh và xã hội, một bên chỉ cần nghe đến
Freud hay phân tâm học, mà không cần đọc tác phẩm của ông vẫn phê phán
phản bác kịch liệt, vẫn tiếp diễn nhƣng đỡ gay gắt hơn. Thật ra trên thế giới, ý
kiến đánh giá về Freud rất phức tạp. Riêng ở Liên Xô trƣớc đây, việc nghiên
cứu phân tâm học cũng đƣợc tiến hành từ rất sớm. Lúc đầu, nhiều nghiên cứu
có xu hƣớng phủ nhận hoàn toàn phân tâm học. Tuy nhiên, về sau những
nghiên cứu của A.V. Xôcôlôp, V.M. Lâybin, M. Phrilenđe đã có sự đánh giá
thoả đáng hơn, khi họ cho rằng “sẽ là sai lầm nếu coi nhẹ ảnh hƣởng của phân
tâm học đến đời sống tinh thần của thế giới phƣơng Tây” [34, 391]
1
. Các học
giả cũng nhất trí đƣợc rằng, không nên có định kiến chống phân tâm học, mà
phải nghiên cứu nó để chỉ ra những hạn chế và thực tiễn không có triển vọng
của nó [xem 34, 390 – 391].
Nói chung, ngày nay phân tâm học Freud đã thu hút đƣợc sự quan tâm
của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, điều đó chứng tỏ Freud và học thuyết
của ông đã và đang có những ảnh hƣởng sâu rộng trên thế giới và trên nhiều
lĩnh vực. Tuy vậy, do sự hạn chế ngoại ngữ của bản thân và nguồn tài liệu ít 1
Từ đây trở đi: trong ngoặc, số thứ nhất là chỉ số thứ tự của tài liệu trong Danh mục tài liệu tham khảo; số thứ
hai chỉ trang trích dẫn của tài liệu

của Freud chƣa có những kết luận vững chắc, và điều đó cũng thật dễ hiểu vì
5

“Freud cũng chỉ là con ngƣời, nghĩa là không phải bao giờ cũng nhất quán”
[38; 25].
Barry D.Smith và Harold J.Vetter trong công trình Các học thuyết về nhân
cách (Nxb Văn hoá thông tin, 2005) đã nhấn mạnh vai trò của Freud, mà quan
trọng nhất là hai phát hiện của ông về cái vô thức và bản năng tính dục của con
ngƣời đã thực sự “định dạng lại nhiều khía cạnh trong xu thế xã hội, văn hoá và
tri thức của thế kỷ XX” [41; 48]. Các tác giả còn cho rằng “Những ảnh hƣởng
của Freud ăn sâu vào trong văn hoá, ngôn ngữ của chúng ta đến mức không dễ gì
nhận ra đƣợc chúng bắt nguồn từ đâu” [41; 49]. Khi tìm hiểu học thuyết nhân
cách (quan niệm về con ngƣời của Freud), các tác giả cũng gặp không ít khó
khăn vì tƣ tƣởng ấy đƣợc phân bố rải rác trong tất cả các tác phẩm của ông. Khi
đƣa ra mô hình nhân cách, các tác giả cũng chia làm ba phần: xung động bản
năng; bản Ngã; siêu Ngã và sự tƣơng tác giữa ba yếu tố ấy bị chi phối bởi xung
đột nội tâm; tuy nhiên cấu trúc này đƣợc trình bày dựa trên nền tảng tâm lý học.
Diệp Mạnh Lý - Sigmund Freud (Nxb Thuận Hoá 2002). Đây là tác
phẩm cung cấp nhiều chi tiết về cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của ông,
những vấn đề mà Freud phải đối mặt khi công bố học thuyết của mình. Tác
giả cho thấy cuộc đời của Freud nếm đủ bao phen chua cay và giày vò, nhƣng
ông vẫn kiên cƣờng, giữ vững ý chí, trƣớc sau trung thành với lý tƣởng của
mình. Phân tâm học của ông nhiều lúc cũng bị những ngƣời có quyền uy
trong giới học thuật rẻ rúng và một số ngƣời trong xã hội đối xử lạnh nhạt;
khi gặp khó khăn nhất, thì ông bị thầy dạy và bạn đồng nghiệp xa lánh. Nội
bộ tổ chức học thuật quốc tế phát triển phân tâm học do ông sáng lập luôn bị
phân hoá, mâu thuẫn chồng chất; những năm cuối đời, ông bị bệnh nặng…
chƣa bao giờ ông rời bỏ lý tƣởng và niềm tin của mình. Tác giả cũng đã bàn
đến các tƣ tƣởng cơ bản của Freud về quá trình ra đời của phân tâm học; lý
luận về bản năng; bí mật của kết cấu nhân cách; lý luận văn hoá hiện đại và

sự giúp cho ngƣời đọc hiểu diện mạo của phân tâm học cũng nhƣ tƣ tƣởng
7

của Freud đúng đắn hơn. Từ việc đƣa ra lý thuyết về cái vô thức và lý thuyết
về tình dục nhƣ là trình bày sự khởi đầu cho những đóng góp của Freud, tác
giả đã lý giải về hai đóng góp của Freud tƣơng đối khách quan giúp ngƣời đọc
có thể nhìn nhận phân tâm học thoải mái và tự nhiên hơn. Phạm Minh Lăng
khuyên mọi ngƣời cách tìm hiểu phân tâm học Freud: “Việc cần thiết lúc này
là hãy nhìn thẳng, không kiêng kỵ và đối xử với nó bằng một thái độ trong
sáng, lành mạnh giữa những con ngƣời, một thái độ đạt tình thấu lý…” [19;
156-157]. Nội dung chính của phân tâm học và cũng là đóng góp của Freud
đƣợc Phạm Minh Lăng chia làm ba bộ phận. Đó là:
- Lý thuyết về cái vô thức.
- Lý thuyết về tình dục (hiểu theo nghĩa của phân tâm học).
- Lý thuyết về cơ cấu toàn diện nhân cách hay còn gọi là tâm lý học về
cái Tôi.
Trong ba bộ phận này thì lý thuyết về cái vô thức giữ vai trò nền tảng.
Cùng với ba bộ phận chủ yếu trên, tác giả còn đề cập đến nhiều vấn đề đƣợc
coi là những đóng góp có giá trị của Freud nhƣ: giấc mơ, mặc cảm Ơdip…
Tác giả kết luận: “Tâm phân học không muốn thi vị hoá cuộc đời và luôn
chấp nhận sự đối nghịch: thiên thần và quỷ dữ trong một kiếp ngƣời. Chấp
nhận nó không phải để chiêm ngƣỡng nó, không phải để bó tay mà để có đối
sách phù hợp mà không hề có sự ảo tƣởng hay huyễn hoặc nào” [19; 286] và
„tâm phân học là một hệ thống vô cùng phong phú với rất nhiều vấn đề đáng
để chúng ta quan tâm” [19;18].
Có lẽ, ở nƣớc ta phân tâm học đƣợc giới thiệu rộng rãi hơn cả thông qua
chùm tác phẩm về phân tâm học do Đỗ Lai Thuý biên soạn. Đây là tập hợp các
tác phẩm gốc của các nhà phân tâm học nhƣ;: Freud, Jung, Fromm giúp cho
ngƣời đọc dễ dàng làm quen từng nhóm vấn đề mà phân tâm học quan tâm. Nhƣ
vậy, nhận thức về phân tâm học chỉ có đƣợc thông qua sự tự cảm nhận của ngƣời

chế của nó.
9

Nhiệm vụ:
- Trình bày tiền đề lý luận, bối cảnh hình thành và phát triển quan niệm
triết học về con ngƣời và văn hóa trong phân tâm học Freud.
- Làm rõ quan niệm siêu tâm lý học với tƣ cách là quan niệm triết học
về con ngƣời và văn hóa trong phân tâm học Freud.
- Bƣớc đầu đƣa ra những nhận xét, đánh giá về những mặt tích cực và
những hạn chế trong quan niệm triết học về con ngƣời và văn hóa của Freud.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Freud về con
ngƣời và văn hóa.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số tác phẩm tiêu biểu của
Freud nhƣ: Vật tổ cấm kỵ; Bệnh lý học tinh thần về sinh hoạt đời thường; Các
bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ; Ba luận văn về lý thuyết tính dục,
Bản ngã và tự ngã, Bất mãn với văn hoá, Phân tâm học nhập môn, Tương lai
của một ảo tưởng… và một số tác phẩm khác có liên quan.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của các nhà kinh điển mác xít về
mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về qúa trình lịch sử triết học.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu là:
- Phân tích, đối chiếu so sánh tài liệu, tổng hợp.
- Thống nhất logic và lịch sử.
- Phƣơng pháp hệ thống – cấu trúc…
6. Đóng góp của luận văn
- Chỉ rõ cội nguồn triết học và những nội dung cơ bản của quan niệm
về con ngƣời và văn hóa trong phân tâm học của Freud. Bƣớc đầu đƣa ra
những nhận xét đánh giá về những đóng góp của Freud đối với sự phát triển
quan niệm hiện đại về con ngƣời và văn hoá.

11

CHƢƠNG 1
SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG VỀ CON NGƢỜI VÀ VĂN HOÁ
TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD

Ph. Ăngghen nói: "Tƣ duy lý luận của mọi thời đại, cũng có nghĩa là cả
thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác
nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau”
[23;tr.487]. Do vậy, trƣớc khi đi vào nghiên cứu học thuyết phân tâm học
Freud và cụ thể là quan niệm về con ngƣời và văn hoá của ông, chúng ta
không thể không khảo sát bối cảnh và những cội nguồn xuất hiện của nó. Sự
hình thành và phát triển của một hệ tƣ tƣởng bao giờ cũng đƣợc quy định bởi
các điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống của bản thân nhà
tƣ tƣởng, bởi sự kế thừa tƣ tƣởng của các bậc tiền bối. Phân tâm học Freud
không phải là ngoại lệ.
1.1. Freud: cuộc đời và sự nghiệp
Sigmund Freud sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 tại Freiburg, một thành
phố nhỏ thuộc tỉnh Moravia, trƣớc đây thuộc nƣớc Áo, nay là Fribor thuộc
Cộng hoà Séc. Trong Tự truyện, Freud kể: "Bố mẹ tôi đều là ngƣời Do Thái,
tôi cũng mang trong mình dòng máu đó. Tôi có lí do để tin rằng, tổ tiên tôi từ
rất sớm đã định cƣ và sinh sống trên bờ sông Ranh; trong thế kỉ XIV - XV rất
nhiều ngƣời Do Thái ở đây bị bức hại, họ phải rời quê hƣơng, chạy về hƣớng
Đông, đầu thế kỉ XIX lại rời Litva, xuyên qua Kaxilia rồi trở về chốn cũ Đức
- Áo". [Freud: Tự truyện t. 4, trích theo 41;14].
Vì truyền thống gia đình không trọng tín ngƣỡng nên ngay từ thời trẻ,
Freud đã là ngƣời vô thần nhiệt thành. Chỉ khi ở Đức dấy lên phong trào bài
Do Thái vào năm 1926 ông mới tuyên bố: “Ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục của
tôi đều là Đức, tôi luôn coi mình là ngƣời Đức, chỉ có điều bây giờ ở Đức có
12


dân chúng nghèo khổ thƣờng ít bị hành hạ hơn ở những thành phố nhỏ tỉnh lẻ.
Cho nên bố ông cũng yên phận, thậm chí còn cảm thấy “cuộc sống khá hơn
nhiều” so với những ngày lƣu vong trƣớc đây. Nhƣng Freud lúc ấy lại không
thấy những uất ức, nhục nhã mà bố đã chịu đựng, mà lại so sánh với cuộc
sống hạnh phúc trƣớc đây. Mặc dù ngƣời Do Thái đƣợc phép sống ở đây
nhƣng vẫn có thể bị đe dọa và tập kích bất cứ lúc nào. Định kiến xã hội đã
gây nhiều sức ép, đời sống gia đình xáo trộn và nghèo khổ, hoàn cảnh ngột
ngạt đó không ngừng kích động tâm hồn thơ ngây của Freud, khiến ông từng
bƣớc hình thành tinh thần phản kháng kiên cƣờng, bất khuất. Thêm 6 đứa em
của Freud ra đời, hai ngƣời anh khác mẹ của Freud sang Anh lập nghiệp và
rất thành đạt, Freud đã rất khâm phục họ, sớm tỏ lòng ngƣỡng mộ nƣớc Anh
và có khát vọng định cƣ ở đó. Ông coi nƣớc Anh là nƣớc tự do, đi đúng
hƣớng, thậm chí ông luôn tỏ ra bực tức khi so sánh giữa nơi tốt đẹp đó với
cuộc sống cơ cực ở Viên. Có thể thấy ngay từ bé, Freud đã bất mãn với hiện
thực, luôn có nguyện vọng hƣớng tới tƣơng lai tƣơi sáng. Ông rất tự tin, khó
chịu trƣớc sự phê bình, từ bé đã có ‎? thức chinh phục đối thủ, chống lại quyền
uy.
Thông minh, học giỏi, đẹp trai nhƣng Freud luôn bị ám ảnh bởi bệnh
đau tim, lo sợ chết sớm và đã trải qua nhiều cơn suy nhƣợc thần kinh. Freud
rất sợ đi tàu, hai lần muốn đến Roma để nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật
nhƣng đến cửa rồi ông lại không có can đảm bƣớc vào. Sau này nhớ lại, đó là
do những lời cha kể về sự tàn tệ của Công giáo đối với ngƣời Do Thái đã làm
ông sợ hãi.
Cha mẹ ông luôn quan tâm và cổ vũ sự phát triển trí tuệ của con mình
bằng mọi cách có thể, kể cả việc không cho các em gái Freud học Piano (môn
học khá phổ biến của phụ nữ thời đó) vì sợ họ luyện tập ồn ào, làm ảnh hƣởng
đến sự tập trung của Freud. Khi học trung học, Freud rất ham hiểu biết, rất
chịu khó học tập với mong muốn có đƣợc nền tảng kiến thức vững chắc cho
14


Năm 1882, Freud chính thức đến làm việc tại Tổng Y viện Viên. Đây là
bệnh viện lớn và là trung tâm nghiên cứu y học hàng đầu thế giới lúc bấy giờ.
Ông làm việc rất xuất sắc và đƣợc bổ nhiệm phụ trách khoa Tâm thần rồi
đƣợc phong làm giảng viên vì có thành tích đặc biệt trong nghiên cứu khoa
học.
Đƣợc Brueke bảo trợ, Freud đƣợc cấp một khoản tiền lớn để đi du học
tại Pháp. Freud đã đến học tại bệnh viện ở Pari dƣới sự hƣớng dẫn của Giáo
sƣ T.Charcot - một chuyên gia hàng đầu về chữa bệnh tâm thần ở Pháp thời
đó. Theo Freud, Charcot quả thực có ma lực của vị Giáo sƣ; cơ cấu và nội
dung bài giảng của ông rất cô đọng, mỗi bài giảng là một kiệt tác. Dƣới sự
hƣớng dẫn của Charcot, Freud ngày đêm không ngừng nghiên cứu các bệnh
án điển hình. Tuy nhiên, cuộc sống ở Pari làm Freud quá mệt mỏi và khổ sở.
Sau đó, ông rời Pari về nƣớc lập gia đình và mở phòng khám riêng. Thời gian
học tập Charcot đã trang bị cho ông kiến thức sâu hơn về thuật thôi miên
trong việc điều trị bệnh thần kinh. Tuy nhiên Freud nhận thức sâu sắc rằng
thuật thôi miên rất hạn chế trong việc chữa bệnh tâm thần vì nó không mang
tính phổ biến và kết quả thƣờng không chắc chắn, hơn nữa nó không đi sâu lí
giải đƣợc nguồn gốc thật sự của bệnh tâm thần. Freud tiếp tục tìm hiểu thực
tiễn, thăm dò, suy nghĩ từng bƣớc tìm tòi, tổng kết một số phƣơng pháp
chữa bệnh mới. Từ đó, ông đã đƣa ra phƣơng pháp liên tƣởng tự do, thay thế
cho phƣơng pháp thôi miên, đánh dấu sự mở đầu của phân tâm học.
Từ năm 1890 đến 1900, Freud rất cô độc. Brueke xa lánh và không
chấp nhận quan điểm của Freud về tầm quan trọng của nhân tố giới tính trong
bệnh lý học về những rối loạn cảm xúc nhƣ hiện tƣợng cuồng loạn trong
Nghiên cứu Hystêri. Năm 1900 Lý giải giấc mơ đƣợc xuất bản nhƣng không
gây đƣợc tiếng vang lớn, nhƣng mƣời năm sau nó đƣợc phát hành rộng rãi và
gây nhiều tranh cãi. Cùng với Bệnh lý học trong đời sống sinh hoạt hàng
ngày, Lý giải giấc mơ đã đặt nền móng cho phân tâm học. Tác phẩm Ba luận
16


ông thƣờng xuyên ra vào tuyến lửa, vợ ông hàng ngày thức dậy rất sớm đầy lo
âu, sợ nhận tin không lành. Lúc này, Freud nhƣ bừng tỉnh lại, ông nhận ra
mình là thằng ngốc đã tuyên truyền rất mù quáng cho chiến tranh, và ông đau
khổ vì chiến tranh gây tật nguyền và chết chóc cho nhân dân. Năm 1916,
chiến tranh đã làm cho thực phẩm thiếu hụt nghiêm trọng, đời sống nhân dân
rất khó khăn, nạn đói đe doạ. Freud sụt cân, thiếu than không thể đốt lò, ông
đành cuốn áo khoác, khăn, đội mũ viết và chữa bài với bàn tay lạnh cóng.
Trong tình hình ấy, Freud vẫn đến đại học Viên nhiều lần để giảng bài.
Nhƣng bài giảng ấy đã đƣợc in thành Nhập môn phân tâm học vào năm 1917.
Trong sách này, Freud đã giới thiệu rất rõ toàn bộ nội dung của phân tâm học.
Sách đã trình bày có hệ thống về nguyên nhân của sự nhầm lẫn, về giấc mơ,
khái niệm vô thức và lý thuyết tính dục. Có thể nói, đây là tác phẩm tổng kết
thời kỳ đầu của ông.
Năm 1930, Freud vinh dự đƣợc nhận giải thƣởng Gothe mà ông
hằng ao ƣớc với tác phẩm Bất mãn với văn hoá - giải thƣởng vinh dự nhất
cuộc đời ông với tƣ cách là một công dân. Nhà tiểu thuyết Thomas Mann
đã bày tỏ sự thán phục và coi ông nhƣ là một ảnh hƣởng chủ đạo trong lịch
sử tƣ duy hiện đại.
Một số tác phẩm quan trọng đƣợc ông viết trong thời kì này: Vật tổ -
cấm kị (1913); Nhập môn phân tâm học (1917); Ở phía bên kia nguyên tắc
khoái lạc (1920); Nguyên tắc siêu việt và khoái lạc (1920); Bất mãn với văn
hoá (1920); Tâm lí học tập thể và phân tích bản ngã (1921); Tự ngã, bản ngã
(1923); Tương lai của một ảo tưởng (1924); Sự bất ổn của nền văn minh
(1930). Đây là những tác phẩm chính của Freud bàn về con ngƣời và mối
quan hệ con ngƣời và văn hoá trong xã hội hiện đại.
Vào những năm 30 thế kỷ XX Đảng Quốc xã và Hitle - kẻ thù không
đội trời chung cho những gì Freud đại diện, đã bành trƣớng thế lực ở Đức.
Những bài diễn thuyết của chúng về sự thấp kém chủng tộc là khúc dạo đầu
18


Giữa thế kỷ XIX, ở châu Âu có rất nhiều sự biến đổi có tính chất bƣớc
ngoặt cả về kinh tế, chính trị và văn hoá tinh thần. Năm 1848, nƣớc Áo thực
hiện cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, giải phóng nhân dân lao
động khỏi sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng thất bại, chế độ
chuyên chế của Vƣơng triều Habsboudg lại đƣợc khôi phục, các dân tộc bị đế
quốc áp bức rơi vào cảnh bị tàn sát. Cuối thế kỷ XIX, nhà nƣớc phong kiến
tan rã, chủ nghĩa tƣ bản ra đời và phát triển nhanh chóng, từng bƣớc chuyển
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Mặc dù mới đƣợc thiết lập nhƣng phƣơng
thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa tỏ ra ƣu việt hơn hẳn so với các chế độ trƣớc
đó. Đây là thời kỳ ra đời của các tập đoàn tài chính lớn liên kết với nhau
nhằm tập trung sức sản xuất, thành lập các liên minh, các tổ chức độc quyền
tiến hành xuất khẩu tƣ bản lũng đoạn nền kinh tế thế giới. Thực trạng này đã
khiến cho cạnh tranh, mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong thế giới tƣ bản, dẫn
đến chiến tranh, đổ máu, tàn sát lẫn nhau. Mặt khác, hàng loạt công nhân thất
nghiệp, đời sống khó khăn, nhân dân bị áp bức về kinh tế chính trị ngày càng
nặng nề. Nhƣng đồng thời với sự phát triển của nền kinh tế thì nó cũng kéo
theo những mâu thuẫn gay gắt trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, chính trị, triết
học, tôn giáo… và đời sống xã hội lúc bấy giờ cũng trở nên căng thẳng hơn,
nhạy cảm hơn. Trong một xã hội với phƣơng thức sản xuất mới, những tƣ
tƣởng, cách nhìn chuẩn mực đạo đức mới dần dần xuất hiện. Có thể nói, bầu
không khí Tây Âu thời kỳ này đã xuất hiện những mâu thuẫn mới trong đời
sống tinh thần; một bên là những quan niệm truyền thống với những tập tục,
thành kiến của xã hội phong kiến bảo thủ, một bên là xã hội sôi động với
những quan niệm mới, những “chuẩn” mới.

Lúc này Freud sống và trƣởng thành ở thủ đô Viên, một trong những
thành luỹ tƣ bản ở Tây Âu lúc bấy giờ. Thành phố Viên hoa lệ lúc này thực sự
là một lò lửa sục sôi với những mâu thuẫn kinh tế, xã hội, tƣ tƣởng. Bạo loạn,
20


đã gây những xáo động lớn về kinh tế, chính trị, và làm tổn thƣơng tinh thần
rất lớn cho nhân dân. Nhiều nhà rơi vào cảnh đói nghèo; ngƣời thân chết, nhà
cửa tan hoang cùng với sự dồn nén xã hội khiến số bệnh nhân tâm thần tăng
vọt. Trong tình hình ấy, mọi ngƣời tìm đến phân tâm học, hi vọng tìm ra con
đƣờng giải thoát tinh thần.
Tha hóa tinh thần của con người phương Tây hiện đại – nguồn gốc
hình thành phân tâm học Freud
Triết học đã, đang và mãi mãi có một mục đích nhân văn duy nhất của
mình là giải phóng con ngƣời, đem lại tự do cho con ngƣời, tức là chỉ ra bản
chất đích thực của sự tha hóa của con ngƣời và con đƣờng khắc phục sự tha
hóa ấy. Trong mỗi một thời đại lịch sử, con ngƣời luôn bị chi phối bởi một
hình thức tha hóa nào đó. C.Mác đã vạch trần sự tha hóa của con ngƣời dƣới
chủ nghĩa tƣ bản là do sự thống trị của chế độ tƣ hữu và ông cũng đã chỉ ra
con đƣờng khắc phục sự tha hóa đó bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây
dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa. Giờ đây, hình thức tha hóa chiếm ƣu thế
trong xã hội phƣơng Tây chính là sự tha hóa tinh thần. Nghĩa là, con ngƣời
trong xã hội phƣơng Tây hiện đại bị nô dịch về mặt tinh thần - giá trị tối cao,
có ý nghĩa quyết định bản chất ngƣời. Phân tích hình thức tha hóa này và chỉ
ra con đƣờng khắc phục nó đã trở thành đề tài chủ yếu của tất cả các trào lƣu
triết học phƣơng Tây hiện đại, trong đó có triết học Freud. Việc tìm hiểu quan
niệm của Freud về tha hóa tinh thần của ngƣời phƣơng Tây hiện đại có ý
nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận, lẫn về mặt thực tiễn.
Có thể nói, thời hiện đại trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch
sử loài ngƣời. Dấu mốc này đánh dấu sự cáo chung của thời đại “chinh phục
tự nhiên” của con ngƣời. Nền văn minh mà con ngƣời đã tạo dựng nên là
hùng mạnh, khả năng tác động của con ngƣời đến sinh quyển đã sâu rộng tới
mức đe dọa chính môi sinh của họ và do vậy, đến cả sự tồn tại của tất cả các
loài sinh vật trong hệ thống sinh quyển. Có thể là kỳ quặc, song có thể nói, cơ
22

23

Mặc dù vậy, bên cạnh những nhân tố mà chúng ta đã biết, trong lịch sử
nhân loại vẫn có những nhân tố buộc chúng ta phải tách biệt thời đại thay thế
cho thời Trung đại ở châu Âu có tên gọi là thời hiện đại hay thời đại công
nghiệp, tức là giai đoạn đang đi đến hồi kết ở trƣớc mắt chúng ta. Vấn đề là ở
chỗ, đây chính là thời đại đầu tiên mà những đặc điểm quyết định của nó là
việc giải phóng con ngƣời khỏi thế giới quan tôn giáo từng thống trị, là việc
từ bỏ thần trung tâm chủ nghĩa (theocentrisme) để chuyển sang chủ nghĩa con
ngƣời là trung tâm (anthropocentrisme) và kết quả tất yếu của nó là việc thế
tục hóa (secularisation) xã hội. Khủng hoảng xã hội bắt đầu bộc lộ rõ ở thời
đại này và đó chính là khủng hoảng của lối sống coi con ngƣời là trung tâm
(vô thần theo nghĩa này). Đến lƣợt mình, chính sự khủng hoảng này đã quyết
định bối cảnh đạo đức của con ngƣời hiện đại.
Sống trong điều kiện văn minh công nghiệp, Freud nhận thấy nhiều giá
trị to lớn đƣợc nền văn minh ấy đem lại cho con ngƣời. Song, ông cũng nhìn
ra mặt trái của nền văn minh ấy là nó đƣa con ngƣời vào tình cảnh bị nô lệ về
mặt tinh thần mà khoa học tự nhiên đƣơng thời cũng bất lực trong nỗ lực khắc
phục nó. Freud sáng lập ra phân tâm học vào lúc chủ nghĩa duy lí đang bị phê
phán là học thuyết “không có con ngƣời”, không đề cập đến con ngƣời, đặc
biệt là thế giới nội tâm của con ngƣời. Vì vậy, trào lƣu triết học nhân bản của
S'chopenhauer và Nietzscher kêu gọi triết học cần thoát khỏi sự cám dỗ của
thế giới hƣ ảo bên ngoài mà trở về với thế giới nội tâm, lấy đó làm nền tảng
của triết học hiện đại. Freud đã chịu ảnh hƣởng bởi quan điểm chủ yếu này và
xây dựng học thuyết của ông theo khuynh hƣớng phi duy lý chủ nghĩa. Nhƣ
vậy, chúng ta có thể khẳnh định thái độ say mê triết học có ảnh hƣởng rất sâu
đậm đến tƣ duy của Freud cũng nhƣ học thuyết phân tâm học của ông sau
này.
Vấn đề còn là ở chỗ, thực tế cho thấy, cuộc cách mạng công nghệ có
thể mở ra những khả năng to lớn cho sự phát triển tinh thần theo các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status