ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
ĐOÀN THỊ THU HƯƠNG
ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSVN: Cộng sản Việt Nam
LLSX: Lực lượng sản xuất
QHSX: Quan hệ sản xuất
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI TƢ DUY
KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 11
1.1. Đổi mới tƣ duy kinh tế 11
cho mình ngày càng hoàn bị hơn. Nhưng sự phát triển đó cũng chính là mối
đe doạ lớn với các nước XHCN còn lại, âm mưu diễn biến hoà bình đang
được các nước này đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là kinh tế,
chính trị…
Chính tình hình đó đã làm nảy sinh tư tưởng hoang mang ở một số
nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu. Họ bắt đầu nghi ngờ về tính khả thi của con
đường đi lên CNXH, họ đòi xét lại CNXH. Nhiều tư tưởng mang khuynh
hướng cải lương đã xuất hiện và không ít người hoang tưởng rằng đi theo
con đường TBCN sẽ mang lại một tương lai sán lạn hơn là đi theo CNXH.
Điều này đặt nước ta trước những yêu cầu và thách thức lớn trong sự kiên
định chọn lựa mục tiêu và định hướng xây dựng CNXH.
Việt Nam đã áp dụng một cách máy móc mô hình xây dựng CNXH
của Liên Xô (cũ) trong những năm 1960, 1970 và nửa đầu những năm 1980
của thế kỷ XX. Đường lối đó đã gây ra khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế). Những biểu hiện cụ
thể của sự khủng hoảng này thể hiện ở sự tụt hậu về kinh tế, nghèo nàn về
sản phẩm tiêu dùng, lạc hậu về khoa học kỹ thuật và công nghệ, quan liêu
3
trong tổ chức hành chính… Thực tế đó đã làm một bộ phận quần chúng
nhân dân giảm dần và đánh mất lòng tin vào chế độ XHCN.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có một nguyên
nhân rất quan trọng nằm ngay trong tư duy (đặc biệt là tư duy về kinh tế),
nhận thức chưa đúng, chưa đủ về những khó khăn, phức tạp trên con đường
đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Thực tế đó yêu cầu phải đổi mới tư
duy trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là phải đổi mới tư duy về kinh tế. Đây
là vấn đề rất được quan tâm trong sự lãnh đạo của Đảng ta và là vấn đề cấp
bách, có ý nghĩa chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của mô hình
XHCN hiện thực ở nước ta.
Nghị quyết lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá V nêu ra
đặc biệt tư duy về kinh tế. Thực tiễn xã hội đã khách quan hoá vai trò và
tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển
của đất nước và dân tộc. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam khác so với ở các
nước Đông Âu và Liên Xô. Ở Việt Nam nhu cầu đổi mới các chính sách là
xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, chứ không phải là hệ quả của những
biến động chính trị. Sự chuyển từ thời kỳ chiến tranh sang hoà bình đã làm
bùng nổ các nhu cầu về đời sống, từ đó làm nảy sinh yêu cầu tháo gỡ các
cản trở về quản lý kinh tế và sau đó dẫn tới những thay đổi trong quan niệm
về sự vận hành của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI (1986) nhấn mạnh: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết
của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn…Vì vậy, phải đổi
mới - trước hết là đổi mới tư duy" [28, 132-133]. Đại hội Đảng toàn quốc
lần VI (1986) đã đánh dấu bước ngoặt trong quá trình đổi mới tư duy kinh
tế của Đảng về con đường đi lên CNXH ở nước ta.
5
Nghiên cứu việc đổi mới tư duy về xây dựng kinh tế của Đảng sẽ
giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của tư duy kinh tế trong nhận thức và
trong hoạt động thực tiễn, giúp tư tưởng của chúng ta kiên định trước âm
mưu của các thế lực thù địch chống phá con đường đi lên CNXH mà Đảng
và nhân dân ta đã chọn lựa.
Đổi mới tư duy của Đảng là yêu cầu cấp bách đối với sự lãnh đạo
của Đảng, đồng thời là vấn đề cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa chiến lược đối với
cách mạng nước ta. Sự coi trọng và cổ vũ đổi mới tư duy của Đảng ta đã
tạo động lực tư tưởng và tinh thần to lớn thức đẩy sự hoạt động của các cơ
quan nghiên cứu và đội ngũ nghiên cứu lý luận của Đảng.
Sau nhiều thập kỷ thực tiễn phong phú và phức tạp của công cuộc
đổi mới ở Việt Nam, việc nghiên cứu, tổng kết quá trình đổi mới tư duy
kinh tế của Đảng có ý nghĩa quan trọng giúp nhận định những thành công
và bất cập, từ đó định vị những định hướng tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế
và điều này đã làm cơ sở quan trọng để chúng ta hoạch định đúng đắn
đường lối và sách lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc
biệt trong vấn đề đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Cuốn sách Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến
nay của nhóm tác giả Tô Huy Rứa và Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê
Ngọc Tòng [56] chủ biên đã phân tích những tác động của tình hình thế
giới và trong nước tới công cuộc đổi mới đất nước, làm rõ thời cơ, thách
thức và những đặc điểm chủ yếu của đổi mới ở Việt Nam. Ngoài ra, cuốn
sách đã đề cập một cách hệ thống vai trò của lý luận và tư duy lý luận đối
với công cuộc đổi mới, phân tích tư duy lý luận của Đảng về CNXH và xây
dựng CNXH ở Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, cuốn sách
này cũng đã nêu lên được vấn đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta trên
7
các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội (trong đó có lĩnh vực kinh tế),
nhưng trong cuốn sách này các tác giả chủ yếu chú ý đặt nghiên cứu mang
tính lý luận chính trị lên hàng đầu trong các hoạt động văn hoá tư tưởng
của Đảng ta. Các tác giả nhấn mạnh quan điểm: xây dựng và phát triển lý
luận (trong đó đặc biệt là về kinh tế và chính trị) là một quá trình vừa cấp
bách, vừa lâu dài và đầy những khó khăn, phức tạp.
Ngoài ra, dựa trên những luận điểm kinh tế của các nhà kinh điển
Mác – Lênin và thực tiễn cách mạng của mỗi thời kỳ, cũng đã có nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới, vấn đề kinh tế và tư duy kinh tế
như:
Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Viết Thông (2000) với Góp phần tìm
hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới
trên các lĩnh vực chủ yếu [52]. Các tác giả đã tập trung làm rõ các bước,
các giai đoạn phát triển tư duy lãnh đạo hoạt động kinh tế của Đảng sau gần
15 năm đổi mới. Nguyễn Khánh (1999), Đổi mới - bước phát triển tất yếu
đi lên CNXH ở Việt Nam [34]. Bằng những tư liệu thực tế từ tình trạng nền
các văn kiện Đảng ở mỗi tác giả có những đặc trưng và cách tiếp cận
CNXH riêng theo những góc cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu trên thường dừng lại ở cấp độ lý luận chung, trong khi nghiên
cứu cụ thể, nhất là sự đổi mới tư duy về xây dựng kinh tế của Đảng ta còn
ít được đề cập. Mặt khác, thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam
luôn vận động, biến đổi và phát triển, làm nảy sinh nhiều vấn đề mới cần
tiếp tục nghiên cứu. Chính vì vậy, đề tài muốn tiếp cận và làm rõ hơn quá
trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta, góp phần làm phong phú hơn kho
tàng lý luận và thực tiễn về kinh tế trong giai đoạn hiện nay. 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn phân tích nội dung của sự đổi mới tư duy kinh
tế của Đảng CSVN từ 1986 đến nay nhằm tìm ra tính quy luật của quá trình
này, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục thúc đẩy hơn nữa
sự nghiệp đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Trình bày một số vấn đề lý luận chung về đổi mới tư duy kinh tế
của Đảng CSVN.
+ Phân tích những nội dung đổi mới tư duy kinh tế của Đảng CSVN
từ sau năm 1986.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa
quá trình đổi mới tư duy kinh tế ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng CSVN.
- Phạm vi: Nghiên cứu các quan điểm đổi mới (nhất là đổi mới tư
duy về kinh tế) trong văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ
năm 1986 đến nay, Cương lĩnh (1991 và bản sửa đổi, bổ sung 2011) xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.
11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI TƢ DUY
KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1.1. Đổi mới tƣ duy kinh tế
Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau như: triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học, logic học… Mỗi khoa học
nghiên cứu tư duy ở những góc độ khác nhau. Chẳng hạn, triết học
nghiên cứu tư duy trong quá trình nhận thức với các mối quan hệ giữa tri
thức và hiện thực, giữa chủ thể và khách thể; tâm lý học nghiên cứu tư
duy trong mối quan hệ với hành vi của con người; ngôn ngữ học nghiên
cứu tư duy trong mối quan hệ với các tín hiệu ngôn ngữ; logic học
nghiên cứu tư duy dưới góc độ tính chân thực hay tính giả dối của tư
tưởng… Vậy tư duy là gì? Theo các tác giả cuốn giáo trình Lôgíc học đại
cương: "Tư duy là sự phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực khách
quan vào đầu óc con người, được thực hiện bởi con người xã hội trong
quá trình hoạt động thực tiễn cải biến thế giới xung quanh” [62, 9]. Với
tư cách là sự phản ánh khái quát về bản chất cùng các tính quy luật sinh
thành, tồn tại, biến đổi và phát triển của đối tượng, tư duy con người được
hiểu như trên đóng vai trò vô cùng quan trọng không chỉ trong nhận thức
mà còn và chủ yếu là trong hoạt động thực tiễn. Không có tư duy con người
không thể hoạt động được, nhờ có tư duy con người có thể hoạt động theo
những mô hình dự kiến, cũng nhờ có tư duy không ngừng được đổi mới và
phát triển, con người có thể cải biến dần các công cụ nhận thức và hoạt
động thực tiễn. Tư duy có một khả năng đặc biệt, nó góp phần tạo ra trong
đời sống con người hình ảnh của toàn bộ thế giới với những chuẩn mực
sống và các hệ giá trị phong phú, phức tạp. Và cũng chính nó lại góp phần
13
vượt qua những mặt còn hạn chế, nhằm làm cho sự vật - hiện tượng hoàn
thiện hơn, tiến bộ và phát triển hơn.
Sự phát triển của tư duy cũng tuân theo các quy luật khách quan đó,
và nó cũng diễn ra đồng thời với quá trình hoạt động thực tiễn. Cùng với
việc phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người bằng các giác
quan, truyền tải những dữ liệu, hình ảnh từ thế giới khách quan bên ngoài
đến hệ thần kinh trung ương, qua quá trình xử lý, phân tích hình ảnh, dữ
kiện bởi các thao tác chuyên môn, tư duy tạo ra tri thức về bản chất của sự
vật hiện tượng. Sự phát triển của tư duy cũng không diễn ra theo một
đường thẳng tắp, mà có lúc chậm, lúc nhanh, có lúc thường biến, có lúc đột
biến nhảy vọt. Tư duy với tư cách là hình thức phản ánh thế giới khách
quan, luôn mang tính thời đại và tính lịch sử. Không có tư duy chung cho
mọi thời đại, mà ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, nó lại mang những đặc
trưng bởi một hình thức tư duy riêng của nó phản ánh trình độ nhận thức
của thời đại ấy.
Như vậy, mọi sự vật hiện tượng luôn trong trạng thái vận động và
phát triển không ngừng, điều kiện tình hình thực tiễn luôn thay đổi nên yêu
cầu chủ thể cũng cần phải luôn đổi mới trên tất cả các mặt, các lĩnh vực
hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình.
Trong tiếng Việt, đổi mới được hiểu là thay đổi hoặc làm thay đổi
cho tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển. Cải cách, là sửa đổi cái cũ đã trở thành lạc hậu để cho phù hợp, đáp
ứng được yêu cầu của tình hình mới. Cách mạng, là sự biến đổi xã hội –
chính trị lớn và căn bản, thực hiện bằng việc lật đổ một chế độ xã hội lỗi
thời, thiết lập một chế độ xã hội mới tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn. Việc sử dụng
các thuật ngữ đổi mới, cải cách, cải tổ, cách mạng ở mỗi nước có thể là
khác nhau, nhưng xét về mặt bản chất thì đều có nghĩa là làm cho thay đổi
14
đối tượng. Khi thực tiễn thay đổi, những vấn đề mới nảy sinh từ những vấn
đề cũ, lý luận vốn phản ánh hiện thực cũ có thể còn phù hợp nhưng cũng có
thể không còn phù hợp. Những quan điểm, tư tưởng có thể còn đúng nhưng
chưa đầy đủ, hoặc đã lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện tình hình
thực tiễn, vì vậy buộc chủ thể tư duy phải đổi mới, có nhận thức mới. Đổi
mới tư duy nhằm mục đích phản ánh xác thực hơn bản chất và các tính quy
luật vận động của đối tượng. Muốn như vậy, tư duy phải bám sát đối tượng,
theo dõi sự vận động và phát triển của đối tượng, phải gắn liền với đối
tượng ở cả những hình thức quanh co và những đường thẳng. Đổi mới để
tiếp cận hiện thực khách quan một cách chính xác hơn, hiệu quả hơn. Nếu
không đổi mới thì không tạo ra được sự phát triển trong tư duy, do vậy
cũng không thể góp phần thực hiện những bước chuyển trong hiện thực.
Lôgic học có nhiều căn cứ khác nhau để phân chia khái niệm tư duy,
mà thực chất là chỉ ra các hình thức tồn tại hay biểu hiện của tư duy. Trong
các tài liệu thường bắt gặp các cụm từ chỉ các loại hình tư duy như tư duy
biện chứng – tư duy siêu hình – tư duy hình thức (đó là căn cứ vào phương
thức tiếp cận, cách thức phản ánh đối tượng, trong đó tư duy biện chứng
phản ánh đối tượng trong vô vàn các mối liên hệ của nó với các đối tượng
khác, trong sự vận động, biến đổi của nó ); Tư duy lý luận (khoa học) - Tư
duy kinh nghiệm thông thường (đó là căn cứ vào trình độ phản ánh về đối
tượng); Tư duy khách quan - Tư duy chủ quan (các thuật ngữ của Hêghen
và sau này được K. Popper dùng lại để chỉ quá trình tư duy và sản phẩm
của quá trình đó, chứ "chủ quan” ở đây không có nghĩa như trong cụm từ
"bệnh chủ quan duy ý chí”); Tư duy hiện đại - Tư duy truyền thống (theo
sự phân kỳ thời gian - lịch sử); Tư duy phương Tây - Tư duy phương Đông
(theo khu vực địa lý mà các chủ thể tư duy sinh sống, hoạt động)
16
Cái gọi là ”tư duy mới” mà luận văn này hướng tới phân tích về bản
chất là tư duy biện chứng, vì đối tượng của nó - đời sống kinh tế của xã hội
như tư duy triết học, tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật, tư duy đạo đức, tư duy
pháp luật, tư duy tôn giáo Đáng chú ý nhất ở đây và phù hợp với nội dung
nghiên cứu của luận văn là phân loại tư duy theo lĩnh vực hoạt động, như tư
duy chính trị, tư duy kinh tế, tư duy văn hoá, tư duy quân sự, tư duy ngoại
giao (khách thể nghiên cứu của luận văn là tư duy trên lĩnh vực kinh tế).
Như vậy, tư duy kinh tế là một khái niệm vừa lâu đời, vừa mới mẻ.
Sự nghiệp xây dựng CNXH hiện thực đã mang lại những kết quả rực rỡ,
song nó đặt ra không ít những vấn đề cần phải giải đáp. Sự tìm kiếm những
câu trả lời cho những mâu thuẫn trong nền kinh tế, cho những hiện tượng
kinh tế không diễn ra theo ý muốn chủ quan của mọi người, từ đó đã buộc
các nhà kinh tế học phải xem xét, đánh giá lại những nhận thức của mình
trước đây đối với CNXH, đối với các quy luật kinh tế khách quan của
CNXH, đối với việc vận dụng những quy luật ấy vào cuộc sống thực tiễn
Tóm lại, cần phải có sự đổi mới trong tư duy kinh tế, phải khắc phục được
những quan niệm lỗi thời trước đây. Chẳng hạn, từ lâu nay sự mất cân đối,
sự thiếu hụt có nguyên nhân khách quan đã được các nhà kinh tế học coi là
một hiện tượng tất nhiên, và trong thực tế những kế hoạch không cân đối ấy
vẫn cứ được thông qua với hi vọng sẽ khắc phục được “trong quá trình thực
hiện”. Như vậy, điều kiện đã biến đổi, nhưng nhận thức của con người vẫn
chưa biến đổi, vẫn giữ nếp tư duy kinh tế cũ, sự bảo thủ trong tư duy kinh
tế cũ rõ ràng sẽ có hại. Từ đó, có thể hiểu tư duy kinh tế là sự phản ánh vào
ý thức của con người dưới dạng một hệ thống khái niệm về các hiện tượng,
quá trình và quy luật của nền sản xuất xã hội nhằm sử dụng chúng để đạt
tới những mục tiêu nhất định.
18
Tư duy kinh tế phản ánh đối tượng đặc biệt là nền sản xuất xã hội.
Sự phản ánh đối tượng là nền sản xuất xã hội tức là tư duy kinh tế phục vụ
cho việc giải quyết những nhiệm vụ kinh tế trên nhiều mặt. Do vậy, tư duy
kinh tế là một loại hình tư duy tương đối độc lập, riêng biệt và bản thân nó
học mang tính thế giới quan và phương pháp luận chung làm cơ sở của
nhận thức và hoạt động thực tiễn. Thực chất của công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng trong tư duy, nhằm quán triệt và
vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều
kiện cụ thể mới của đất nước là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN trong bối cảnh hội nhập. Do hoàn cảnh lịch sử, nước ta đang quá
độ lên CNXH từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu, tiền công nghiệp.
CNXH là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Để xây dựng thành công xã
hội XHCN, chúng ta phải đổi mới quan niệm về CNXH. Công cuộc đổi
mới tư duy của chúng ta hiện nay phải được nghiên cứu tổng kết trên cơ
sở khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết mà thực tiễn
xã hội nước ta đang đặt ra.
Cuộc sống đã phơi bày những tác động tiêu cực của cơ chế quản lý
kinh tế quan liêu bao cấp. Cơ chế quản lý bao cấp do lối tư duy nào tạo ra?
Nếu trả lời một cách chung nhất thì cơ chế ấy đã dựa trên cơ sở tư duy kinh
tế thiếu tính khách quan, khoa học, nghĩa là lối tư duy không xuất phát đầy
đủ từ những quy luật kinh tế và những điều kiện khách quan của sản xuất,
từ tính mục đích và nguyên tắc của quản lý. Đó là chủ nghĩa duy ý chí
trong quản lý kinh tế. Suy đến cùng, kiểu tư duy kinh tế ấy không tính đến
hiệu quả kinh tế và quyền làm chủ về kinh tế của quần chúng lao động.
20
Từ đây, ta cũng có thể thấy rằng: khi điều kiện đã thay đổi thì tư duy
cũng phải thay đổi theo. Đặc trưng chung nhất của nếp tư duy kinh tế mới
là tính khoa học sâu sắc, tính hiện thực, sự đánh giá có cân nhắc, sự kết hợp
có tính kế thừa trong khi phân tích các quá trình kinh tế xã hội và chính trị
với cách tiếp cận sáng tạo đổi mới trong việc giải quyết những vấn đề do
cuộc sống đặt ra.
Đổi mới tư duy kinh tế là phương thức để loại bỏ quan niệm cũ, lỗi
bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN, cần phát huy hết tiềm năng nội lực và
ngoại lực mà chúng ta đã có (đặc biệt vai trò của nhân tố con người), nhất
là với sự phát triển kinh tế hiện nay nhân tố con người luôn là yếu tố trung
tâm, là động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, chúng ta luôn luôn
đổi mới để con đường phát triển đi lên CNXH được rút ngắn nhất và việc
thực thi nó mang lại nhiều hiệu quả nhất.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng CSVN mở
đầu cho thời kỳ đổi mới ở nước ta. Đại hội đã khởi xướng đường lối đổi
mới, coi đó là chiến lược phát triển của cách mạng Việt Nam trong tình
hình mới. Đổi mới là một quá trình lịch sử, là một bước ngoặt trên con
đường phát triển của nước ta. “Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi
mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước
ta” [19, 15]. Sứ mệnh lịch sử của đổi mới trước hết là đưa đất nước thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
tạo lập thế ổn định và xây dựng những tiền đề để phát triển, làm thay đổi
tính chất và trạng thái phát triển của xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo
nàn lạc hậu tiến lên trở thành một nước công nghiệp phát triển năng động,
tiến kịp mặt bằng phát triển chung trong khu vực và trên thế giới theo con
đường CNH, HĐH. Đổi mới là một quyết sách chính trị trọng đại, có ý
22
nghĩa lớn nhằm tìm kiếm một mô hình XHCN có hiệu quả, vạch ra phương
hướng và con đường đi tới XHCN phù hợp với quy luật khách quan, phản
ánh đúng xu thế của thời đại, của bối cảnh quốc tế và tình hình thế giới hết
sức phức tạp lúc bấy giờ với sự đan xen cả thời cơ, vận hội lớn lẫn những
thách thức trên con đường phát triển. Đổi mới không chỉ nhằm tìm lối thoát
ra khỏi khủng hoảng nặng nề, trầm trọng về kinh tế - xã hội mà còn cần để
tiếp tục sự nghiệp xây dựng CNXH theo một cách mới trong những điều
kiện và hoàn cảnh mới nhằm thực hiện thành công lý tưởng và mục tiêu mà
Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra: Độc lập dân tộc gắn liền với