Tư duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==========
PHẠM THU HÀ

TƯ DUY BIỆN CHỨNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
VỀ CÔNG TÁC THANH
NIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==========

1.1. Khái niệm tƣ duy biện chứng về công tác thanh niên 10
1.1.1 Tư duy biện chứng của chủ nghĩa duy vật mác xít 10
1.1.2. Tư duy biện chứng về công tác thanh niên 17
1.2. Cơ sở hình thành tƣ duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt
Nam về công tác thanh niên 30
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thanh niên và
công tác thanh niên 30
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên
và công tác thanh niên 34
1.2.3. Tư duy và quan điểm truyền thống của dân tộc Việt Nam
về sự kế tục, phát triển thế hệ 45
1.2.4. Thực tiễn tình hình thanh niên, công tác thanh niên qua
các thời kì cách mạng 47
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƢ DUY BIỆN CHỨNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 57
2.1. Một số nội dung cơ bản trong tƣ duy biện chứng của Đảng
Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên 57
2.1.1. Vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên 57
2.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thanh niên và vai trò của
các chủ thể thực hiện công tác thanh niên 66
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn và mối quan hệ
giữa Đảng với Đoàn 84
2.1.4. Xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn 89
2.2. Nhận định chung, bài học kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra
2.2.1. Nhận định chung 98
2.2.2. Một số bài học kinh nghiệm 103
2.2.3. Một số vấn đề đặt ra 108
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của mình, Đảng cộng sản
Việt Nam đã gặt hái nhiều thành quả to lớn ở mọi lĩnh vực hoạt động nói
chung và lãnh đạo công tác thanh niên (CTTN) nói riêng. Qua các thời kì lịch
sử, đặc biệt ở những thời điểm cam go, quyết liệt nhất, Đảng ta đã có những
chủ trương, đường lối sát trúng nhằm giáo dục, tổ chức, động viên các thế hệ
thanh niên nối tiếp nhau, một lòng đi theo Đảng, ngoan cường chiến đấu,
dũng cảm hi sinh, góp phần xứng đáng vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc,
tiến bước vững vàng trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá,
Hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế.
Từ khi Đảng ta ra đời và bước lên vũ đài chính trị, vấn đề củng cố, tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng luôn được coi là
vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo thắng lợi sự nghiệp, con đường cách
mạng mà Đảng đã lựa chọn. Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với
CTTN cũng không nằm ngoài tất yếu khách quan này. Trình độ, năng lực lãnh
đạo của Đảng biểu hiện tập trung trước hết ở việc đề ra các đường lối, chủ
trương, chính sách, về CTTN, điều đó đòi hỏi phải có trình độ tư duy cao
đáp ứng nhiệm vụ cách mạng đặt ra - đó là tư duy biện chứng mácxít.
Thanh niên là một đối tượng xã hội đặc thù, luôn có khuynh hướng vận
động biến đổi mạnh mẽ nhất, lại có mặt trong tất cả các lực lượng của xã hội,
ở mọi vùng miền khác nhau, họ mang trong mình dấu ấn của những ưu điểm,
tiến bộ của xã hội mới, cùng những khuyết tật của một xã hội đã có. Hiện tại,
chúng ta đang chứng kiến những biểu hiện mới mẻ, những diễn biến đa dạng
và có nhiều chiều hướng phức tạp trong thanh niên và CTTN. Điều đó càng
yêu cầu chủ thể tiến hành CTTN phải có trình độ cao về tư duy biện chứng, 4
quan điểm lịch sử, cụ thể, phương pháp luận khoa học để nhận thức về các
vấn đề của thế hệ trẻ, của CTTN, từ đó định hướng và xử lí đúng đắn, hiệu
quả những vấn đề ấy dù ở phạm vi cá nhân người thanh niên hay ở phạm vi

phép biện chứng, logic học, lí luận nhận thức, tiêu biểu như: I-len-cốp:
“Logic biện chứng”, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003; Cốp-nhin:
“Phép biện chứng là logic học và lý luận nhận thức”, Nxb Chính trị
Matxcova, 1873; M. M. Rodentan: “Nguyên lí logic biện chứng”, Trường
Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, 1979; A.P. Septulin: “Phương pháp nhận
thức biện chứng”, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1987,…
Ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí
bàn đến vấn đề tư duy biện chứng, tư duy lí luận của Đảng, tư duy của cán bộ
lãnh đạo, cán bộ làm kinh tế, tư duy trong quân sự, trong giảng dạy,… trong
đó chủ yếu đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy, nâng cao năng lực tư duy, khắc
phục, đẩy lùi bệnh tiêu cực trong tư duy ví dụ như: Cuốn “ Đổi mới tư duy
và phong cách tư duy” của Nguyễn Văn Linh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987;
“Quán triệt tư duy biện chứng duy vật và nội dung quan trọng của đổi mới tư
duy” của Dương Phú Hiệp, Tạp chí Triết học, số 2/1987; “Thực trạng tư duy
của cán bộ, đảng viên ta và căn nguyên của nó” của Lê Thi, Tạp chí Triết
học, số 01/1988; “Yêu cầu mới về năng lực trí tuệ của Đảng trong giai đoạn
hiện nay” của Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Triết học, số 02/1992; Luận án
PTS “Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình
xây dựng Chủ nghĩa xã hội” của Trần Văn Phòng, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994; Luận án TS “Đặc điểm quá trình phát triển
tư duy biện chứng duy vật của sĩ quan phân đội quân đội nhân dân Việt Nam
trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay” của Nguyễn Bá Dương,
Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2000; Luận án TS “Vai trò của tư duy 6
biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta
hiện nay” của Nguyễn Thị Bích Thủy, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2001; Cuốn “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ
lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” của Trần Thành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

2001;
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về chính
sách của Đảng đối với thanh niên, quản lý nhà nước đối với thanh niên như:
Cuốn “Chính sách đối với thanh niên (lý luận và thực tiễn)” của PTS.
Nguyễn Văn Trung chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 1996; cuốn “Quản lý
Nhà nước đối với công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay” của ThS.
Đoàn Văn Thái, Nxb Thanh niên, 2006…
Trên cơ sở chỉ ra những quan điểm cơ bản, chủ yếu trong các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng về CTTN qua các kì Đại hội Đảng, qua những bước
ngoặt lịch sử của đất nước, có sự thay đổi lớn trong nhiệm vụ cách mạng, các
công trình tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN giới hạn
trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Song dưới góc độ triết học, vấn đề tư
duy của Đảng ta về CTTN còn khá mới mẻ, phức tạp, ít được bàn đến. Việc
nghiên cứu, tổng kết một cách khái quát vấn đề tư duy biện chứng của Đảng
ta về CTTN, phác thảo nên bức tranh tổng quát quá trình vận động thay đổi
trong nhận thức của Đảng về CTTN từ khi Đảng ta ra đời lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng của dân tộc đến nay, từ đó đề xuất những nội dung trong lãnh đạo
Đảng về CTTN trong thời gian tới là một vấn đề mới, hầu như chưa có công
trình nào nghiên cứu dưới góc độ triết học một cách chuyên biệt, có hệ thống.
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình đã công bố, tác
giả đặt ra nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu vấn đề nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
Mục đích của luận văn là: Làm sáng tỏ cơ sở hình thành tư duy biện
chứng của Đảng cộng sản Việt Nam về CTTN, phân tích chỉ ra những nội
dung cơ bản trong tư duy biện chứng của Đảng ta về CTTN, trên cơ sở đó
luận văn đề xuất một số nội dung, quan điểm về Đảng lãnh đạo CTTN trong
thời gian tới. Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

phương pháp khác.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn chỉ ra những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và vận động, giáo dục, tổ chức thanh
niên, từ đó Luận văn bước đầu khái quát, làm rõ những vấn đề cơ bản trong tư
duy biện chứng của Đảng ta về CTTN; phân tích cơ sở và quá trình thay đổi,
phát triển các vấn đề, nội hàm các khái niệm, các luận điểm cơ bản của Đảng
về CTTN qua các giai đoạn cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Trên cơ sở khái quát những quan điểm biện chứng của Đảng ta về
CTTN từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng đến nay, Luận văn đề xuất một số vấn
đề đặt ra trong đường lối, chủ trương, chính sách lãnh đạo của Đảng về CTTN
trong thời gian tới.
- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm tài liệu đổi
mới việc nghiên cứu các quan điểm và sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN
qua các thời kì cách mạng, nhất là trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận
văn có 2 chương và 4 tiết. 10
CHƢƠNG 1
KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ DUY BIỆN CHỨNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN

1.1. Khái niệm tƣ duy biện chứng về công tác thanh niên
1.1.1. Tư duy biện chứng của chủ nghĩa duy vật mácxít

hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật Kết quả
phản ánh của tư duy không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự
vật nhất định.
Tư duy nằm trong giai đoạn nhận thức lý tính, con người dựa vào tư
duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và lợi dụng
những quy luật đó trong hoạt động thực tiễn của mình. Nhận thức cảm tính có
vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nó cung cấp tư liệu ban đầu
cho các hoạt động nhận thức cao hơn. Tuy nhiên muốn cải tạo thế giới, con
người phải đạt tới mức độ nhận thức cao hơn, tức là phải tư duy.
Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có
tính độc lập tương đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu
ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó cũng
như các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tư duy cũng
có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách
quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người. Tính độc lập của tư duy vừa
làm cho nó có được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức
mới, vừa là điều kiện nguồn gốc làm cho tư duy dần dần xa rời hiện thực
khách quan. Do đó phải lấy thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra, kiểm nghiệm
tính đúng đắn của tư duy. Như vậy, hoạt động thực tiễn của con người là
nguồn gốc, động lực chủ yếu của tư duy và suy đến cùng cũng chính là tiêu
chuẩn chân lý cao nhất của tư duy, là cái điều chỉnh tư duy. 12
Tư duy gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ,
công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người. Theo C.Mác, ngôn
ngữ chính là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng,
vì nó không chỉ biểu đạt tư duy ra bên ngoài mà còn là công cụ của chính quá
trình tư duy diễn ra trong bộ óc con người thông qua những từ ngữ hay cấu
trúc ngữ pháp cụ thể.

Có thể rút ra một số đặc trưng của tư duy như sau:
Tư duy phản ánh cái chung. Cái chung ở đây là những dấu hiệu, những
thuộc tính chung của sự vật. Tư duy ở trình độ nhận thức lý tính và chỉ ở trình
độ này mới có thể phản ánh được những thuộc tính chung, mang tính phổ
biến, cơ bản của sự vật.
Tư duy có đặc trưng là trừu tượng hóa. Trong hiện thực, cái chung
không tách khỏi cái riêng. Việc tách cái chung ra khỏi cái riêng trong tư duy
chính là sự trừu tượng hóa, nhưng đó chưa phải tất cả sự trừu tượng hóa trong
tư duy. Bởi theo như quan điểm của Lênin tất cả những sự trừu tượng khoa
học đúng đắn, nghiêm túc, không tùy tiện phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn,
chính xác hơn, đầy đủ hơn, đó chính là tính ưu việt của trừu tượng hóa.
Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp dựa trên cơ sở
các kết quả nhận thức cảm tính là cảm giác, tri giác, biểu tượng. Nhờ thế tư
duy có sức mạnh phản ánh khái quát thế giới hiện thực, song cũng vì thế mà
tư duy dễ rơi vào ảo tưởng, thoát ly thực tế.
Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách sáng tạo, tích cực trên
cơ sở hoạt động thực tiễn của con người. Tư duy có thể dự báo tương lai, tạo
ra những giả thuyết khoa học, những lý thuyết mới,…
* Về tư duy biện chứng duy vật mácxit
Con đường tiến tới chân lý khách quan của nhận thức loài người rất lâu
dài, khó khăn và phức tạp. Thời kì nguyên thủy, tư duy của con người chỉ 14
dừng lại ở trình độ rất thấp, sơ khai nhất, biểu hiện qua các hình thức: Tư duy
hỗn hợp - nguyên thủy, tư duy hoang đường - huyền thoại, tư duy đạo đức, và
thẩm mỹ nguyên thủy…Đến thời cận đại, tư duy của loài người đạt tới một
trình độ mới, cao hơn về chất để nhận thức thế giới - tư duy triết học với hai
phương pháp tư duy triết học đối lập nhau: phương pháp biện chứng và
phương pháp siêu hình.

mácxit là hình thức phát triển cao nhất trong lịch sử tư duy nhân loại.
Tư duy biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen đã khắc phục được
phương pháp tư duy máy móc, siêu hình của các nhà duy vật Pháp thế kỉ
XVIII, coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy, chống lại thuyết
Bất khả tri và đạt tới tư tưởng về sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa
lịch sử và lôgic trong nhận thức. Tuy nhiên đó là tư duy biện chứng duy tâm
vì Hêghen cho rằng biện chứng của “ý niệm” – thực thể siêu nhiên sản sinh ra
biện chứng của sự vật chứ không phải ngược lại, đó là “phép biện chứng đứng
bằng đầu” như Mác, Ăng ghen nhận định. Đến lượt mình, Mác và Ăng ghen
đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, đặt nó “đứng bằng hai chân”
trên mảnh đất hiện thực, xây dựng phép biện chứng duy vật, tức là xây dựng
tư duy biện chứng duy vật cách mạng nhất, khoa học nhất, triệt để nhất.
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăng ghen đã đưa ra định
nghĩa về tư duy biện chứng duy vật: Biện chứng gọi là khách quan thì chi
phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện
chứng thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận
động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh
thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối
lập này thành mặt đối lập kia, respective - (tương tự) với những hình thức cao
hơn quy định sự sống của giới tự nhiên. Tức là, xét về bản chất tư duy biện
chứng duy vật là tư duy phản ánh đúng đắn thực chất những mối liên hệ, sự 16
vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Sự
vận động, phát triển của thế giới hiện thực qui định sự hình thành, phát triển
của tư duy biện chứng duy vật. Do đó, những quy luật phổ biến của tồn tại
cũng là những qui luật phổ biến của tư duy. Tuy nhiên, sự phát triển của tư
duy phụ thuộc vào tính năng động sáng tạo tích cực của chủ thể và nó tuân
theo qui luật vận động, phát triển nội tại của chính tư duy.

chất khoa học, cách mạng, vừa tạo ra tri thức mới vừa giải quyết có hiệu quả
các vấn đề lí luận và thực tiễn đặt ra.
1.1.2. Tư duy biện chứng về công tác thanh niên
* Thanh niên
Thanh niên là đối tượng được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu
trong đó đáng chú ý là sinh lý học, tâm lý học, xã hội học. Ở mỗi thời kỳ
trong đời sống con người, sự phát triển về thể chất và tâm lý và cả nhân cách
có quy luật riêng. Thanh niên là thời kỳ kế tiếp của lứa tuổi thiếu niên nhưng
đây là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có nhiều diễn biến tâm lý
phức tạp.
Các nhà sinh học coi tuổi thanh niên là một giai đoạn trong tiến trình
tiến hóa của cơ thể trong đó thấy rõ sự tráng cường về thể lực, sự phát triển về
trí tuệ, hoàn thiện về các chức năng của cơ thể và nhân cách con người. Các
nhà tâm lý học quan tâm tới các quy luật phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh
niên mà đặc trưng là sự phát triển khả năng phân tích và suy luận, sự ham
thích cái mới, sự hăng say hoạt động và sáng tạo, sự tự ý thức, tự khẳng định.
Các nhà xã hội học coi thanh niên là một giai đoạn của quá trình xã hội hóa cá
nhân, tiếp thu các giá trị xã hội để hình thành nhân cách; đây là thời kì chuyển
biến từ tuổi thơ lệ thuộc sang giai đoạn hoạt động độc lập với tư cách cá nhân,
từng bước hình thành ý thức trách nhiệm công dân, chuẩn bị và tự nâng cao
kiến thức để lao động, cống hiến. 18
Các nhà nghiên cứu kinh tế - chính trị nhìn nhận thanh niên là một lực
lượng lao động xã hội hùng hậu, có chất lượng cao; là nguồn lực thường
xuyên bổ sung cho đội ngũ lao động trên mọi lĩnh vực; là bộ phận quan trọng
cấu thành lực lượng sản xuất, rất năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình
phát triển xã hội, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo ra cái mới. Ở góc độ
triết học, có tác giả cho rằng “Thanh niên là một phạm trù triết học, dùng để

trò của họ trước yêu cầu của đời sống tự thân cũng như gia đình và xã hội,
nhất là những khả năng và nhiệm vụ mà họ phải đảm đương.
Đặc điểm về mặt xã hội của thanh niên có những nét đặc trưng sau:
- Theo góc độ giá trị nhân cách xã hội ở thanh niên nổi lên những mặt
cơ bản như: lòng nhiệt tình và độ nhạy cảm trong cuộc sống; lòng hứng khởi
với những hoài bão, ước mơ, niềm tin và khát vọng tương lai; tính hăng say
không chịu khuất phục, sự chân thành trong ý nghĩ và việc làm; nghị lực phi
thường và táo bạo; tính thích thể hiện, có xu hướng về các kết luận hấp tấp,
vội vàng; tình yêu say mê và khát vọng; tính bồng bột, chủ quan; tính khí sôi
nổi, nhẹ dạ, cả tin song gặp khó khăn dễ sinh ra hoang mang dao động, thiếu
kiên trì, bền bỉ; tính dễ bị kích thích, thiếu tự chủ [7; tr 14, 15, 16].
Thanh niên là lớp người có sự phát triển mạnh về trí tuệ và nhân cách.
Bên cạnh những khả năng to lớn, sự mạnh dạn, tiên phong, thích sáng tạo, ưa
cái mới, lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ, dám làm,…Tuy nhiên ở thanh
niên, sự hạn chế và các nhược điểm như thiếu kinh nghiệm, thiếu từng trải,
tính bồng bột, thiếu kiên trì, thậm chí có lúc còn phiêu lưu, liều lĩnh, dễ hoang
mang dao động…luôn phải được cảnh giác, phải được khắc phục bằng chính
sự rèn luyện, phấn đấu không ngừng của bản thân thanh niên và có sự hướng
dẫn, giúp đỡ của các chủ thể xã hội.
- Thanh niên là bộ phận đông đảo trong dân cư, những người trong độ
tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số dân. Tính đến năm 2011, 20
dân số thanh niên nước ta chiếm 28,9% dân số cả nước [46, tr.9]. Về cơ cấu
xã hội, thanh niên là có mặt ở trong tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các dân
tộc, các tôn giáo, các vùng miền thanh niên có mặt trong tất cả các lĩnh vực
hoạt động xã hội, vì thế thanh niên được chia thành các nhóm thành phần:
thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, thanh niên học sinh, sinh viên,
thanh niên viên chức, thanh niên các lực lượng vũ trang, thanh niên tôn giáo,

muộn, xã hội kỳ vọng hay thất vọng về thanh niên bao giờ cũng tùy thuộc vào
các quan điểm vận động, thái độ ứng xử của các giai cấp lãnh đạo và tùy
thuộc vào chương trình, chính sách phát triển giáo dục và chăm lo bảo vệ
thanh niên của Chính phủ ở mỗi quốc gia. Hoài nghi và đánh giá sai lầm về
bản chất tốt đẹp và khả năng cách mạng của thanh niên sẽ là sai lầm và chịu
sự trả giá.
Tóm lại theo tác giả có thể hiểu khái quát về khái niệm thanh niên như sau:
Thanh niên là khái niệm chỉ một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, ở
một độ tuổi nhất định (theo Luật Thanh niên: từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi), có
mặt trong tất cả giai cấp, tầng lớp xã hội, các lĩnh vực hoạt động của đời
sống xã hội, có những đặc điểm chung đặc trưng về tâm lý, sinh lý, nhận thức
xã hội, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
trong cả hiện tại và tương lai.
Cần phân biệt thuật ngữ “Thanh niên” với thuật ngữ “Thế hệ trẻ”.
Hiểu một cách khái quát: Thế hệ trẻ là thuật ngữ dùng để chỉ lớp người
từ tuổi ấu thơ, đến nhi đồng, thiếu niên, thanh niên của mỗi quốc gia, dân tộc
trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định. Thanh niên là một nhóm đối tượng trong
thế hệ trẻ.
Mỗi một thế hệ bao gồm những người có cùng một độ tuổi xác định
(những người cùng thời), có sự tương đồng về kinh nghiệm sống, giá trị văn
hoá, tinh thần, họ sinh ra cùng một thời kì lịch sử và có tác động nhất định 22
đến lịch sử, xã hội thời kì đó. Ở Việt Nam, cho đến nay đang cùng tồn tại
nhiều thế hệ khác nhau: Thế hệ xây dựng Đảng và tiến hành cách mạng
Tháng Tám, thế hệ chống Pháp và chống Mỹ, thế hệ xây dựng chủ nghĩa xã
hội và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của các
thế hệ trong tiến trình lịch sử. Vấn đề các thế hệ không tách rời vấn đề giai

đoàn kết, tập hợp, tổ chức họ lại thành “đội ngũ những chiến sĩ cách mạng
kiên cường” như Bác đã dạy. Chưa đoàn kết, tập hợp được thanh niên thì
chưa thể nói đến giáo dục, cổ vũ thanh niên hành động cách mạng. Chính vì
vậy, tập hợp, đoàn kết thanh niên được Đảng ta đặc biệt quan tâm [2, tr.13].
Dưới góc độ là một hoạt động công tác, có quan điểm cho rằng: "Công
tác thanh niên là công việc về thanh niên của tổ chức, cơ quan, đơn vị (Đảng,
Nhà nước, đoàn thể, đơn vị kinh tế, sự nghiệp, ) mà các thành viên trong tổ
chức, cơ quan đơn vị đó cùng nhau thực hiện, hoặc giao cho từng thành viên
của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó thực hiện dưới sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát
của tập thể những người lãnh đạo, quản lý, điều hành tổ chức, cơ quan, đơn vị
đó, và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những công
việc của mình về thanh niên, góp phần vào thành tựu lãnh đạo công tác thanh
niên của Đảng” [49, tr. 36].
Theo tác giả, về CTTN cần nắm rõ một số vấn đề khái quát như sau:
* Công tác thanh niên bao gồm toàn bộ những hoạt động trực tiếp của
Đảng, và hoạt động của Nhà nước, Đoàn Thanh niên, Mặt trận, các tổ chức
quần chúng, gia đình cũng như toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
nhằm đoàn kết tập hợp thanh niên, quản lý, tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng và
tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành mọi mặt, phát huy tiềm
năng thế mạnh của lực lượng thanh niên đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, góp phần đảm bảo thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Trích đoạn Tư duy và quan điểm truyền thống của dân tộc Việt Nam Vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thanh niên và vai trò của Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn và mối quan hệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status