i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của đề tài 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
8. Kết cấu của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
PHÉP BIỆN CHỨNG SIÊU NGHIỆM CỦA I. KANT 9
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề khoa học, lý luận
cho sự hình thành phép biện chứng siêu nghiệm của I.Kant 9
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội 9
1.1.2. Tiền đề khoa học tự nhiên 14
1.1.3. Tiền đề lý luận 20
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của I.Kant 34
1.3. Tổng quan về triết học siêu nghiệm của I.Kant 40
1.4. Về tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của I. Kant 46
Chương 2: NỘI DUNG CĂN BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
SIÊU NGHIỆM TRONG “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY”
CỦA I. KANT 52
2.1. Xuất phát điểm của phép biện chứng siêu nghiệm 52
ii
2.2. Các dạng suy luận (suy lý) biện chứng siêu nghiệm 61
chủ nghĩa duy vật, giữa khuynh hướng duy lý và kinh nghiệm, giữa hoài nghi
luận và chủ nghĩa tự nhiên khoa học. Tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của
Kant được thể hiện tập trung, sâu sắc trong “Phê phán lý tính thuần túy” - tác
phẩm cùng với “Phê phán lý tính thực hành” và “Phê phán năng lực phán
đoán” làm nên bộ ba tác phẩm “Phê phán” vĩ đại của Kant và đem lại tiếng
vang, tầm ảnh hưởng lớn lao cho triết học Kant đối với đương đại và sau này.
2
Ngay từ khi “Phê phán lý tính thuần túy” xuất hiện, tư tưởng biện
chứng siêu nghiệm của Kant đã phải đối mặt với nhiều quan điểm, đánh giá,
nhận xét khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau của nhiều trường phái trong
tiến trình phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Điều đó chứng tỏ tư tưởng
biện chứng siêu nghiệm của Kant có sức thu hút, tầm ảnh hưởng không nhỏ.
Và quả thực, công lao vĩ đại của Kant với việc làm sống lại phép biện chứng
đã ngủ quên suốt thời Trung cổ là điều không thể phủ nhận. Và sau Kant, các
nhà triết học đã tiếp tục con đường mà ông gợi mở, đặc biệt là Hêghen -
người đã đi đến tận cùng của phép biện chứng với quan điểm duy tâm. Đó là
một trong những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện
chứng sau này.
Triết học Kant đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các trào lưu triết học
phương Tây. Sự thu hút của “Phê phán lý tính thuần túy” không hẳn chỉ bởi
những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn của Kant, cũng không phải bởi có
quá nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau về tư tưởng triết học này. Có thể
khẳng định, một trong những nguyên nhân quan trọng của sự trở lại đối với
triết học Kant qua bao năm tháng đó chính là khả năng gợi mở, ý nghĩa thời
sự của tư tưởng biện chứng duy tâm siêu nghiệm. Tính tích cực của chủ thể
nhận thức, năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá
trình nhận thức, sự tồn tại của linh hồn, Thượng đế, sự tự do luôn là những
nan đề có rất nhiều sự kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về với triết
học Kant như những luận điểm khai phá có tính lịch sử. Kant đã phân biệt
bác bỏ quan điểm đó thì đã được Hêghen đưa ra, trong chừng mực quan điểm
duy tâm chủ nghĩa cho phép” [29, 406]. Qua đó, Hêghen đã chỉ ra tất cả
những hạn chế trong triết học Kant: chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tâm lý,
tính hai mặt, không triệt để.
4
Từ lập trường duy vật, Phoiơbắc đã phê phán sai lầm của Kant trong
vấn đề nguồn gốc của cái tiên nghiệm, trong sự phân biệt siêu hình giữa cảm
năng và giác tính. Theo Phoiơbắc, Kant đã không biết đến quá trình tổng hợp
những tri thức kinh nghiệm trong khái niệm chung rồi từ đó nâng lên thành
những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm, không hiểu được “lý tính là thực thể
tối cao, là kẻ thống trị thế giới, nhưng chỉ ở tên gọi, chứ không phải trên thực
tế” [22, 85;87;88].
Ở Liên Xô, triết học Kant và những tư tưởng biện chứng siêu nghiệm
của ông được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trước hết, đó là hai tác phẩm
của V. Ph. Axmut: “Phép biện chứng của Kant” và “I. Kant”. Theo tác giả,
những mầm mống của phép biện chứng, mặc dù đó là phép biện chứng chủ
quan, biện chứng của khái niệm được thể hiện trước hết qua học thuyết phạm
trù của Kant.
Tiếp thu truyền thống của Axmut, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô
trong cuốn “Lịch sử phép biện chứng. Giai đoạn triết học cổ điển Đức” đã
trình bày khá đầy đủ và rõ ràng về phép biện chứng siêu nghiệm của Kant.
Các tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể các ảo tưởng sai lầm trong nhận thức của
lý tính và đánh giá mặt tích cực, tiêu cực của phép biện chứng siêu nghiệm
của Kant.
Ở nước ta, triết học Kant cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Về
phương diện lịch sử, người đề cập đến triết học Kant sớm nhất là GS. Trần
Đức Thảo trong tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Marx”. Ở đây, GS. Trần
Đức Thảo đã trình bày lần lượt các võng luận của phép biện chứng siêu
nghiệm theo kết cấu của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”. Tuy nhiên, sự
trình tập hợp 29 bài viết của 14 tác giả nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau
6
của triết học Kant. Trong đó các tác giả đánh giá cao công lao của Kant trong
việc đặt ra phép biện chứng siêu nghiệm, khẳng định tính tích cực, năng động
của chủ thể nhận thức, đặc biệt khi chủ thể đó được trang bị bằng một hệ
thống phạm trù tiên nghiệm.
Tại Hội thảo khoa học: “Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo
đức học” (do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội tổ chức, tháng 12 năm 2004), đã có rất nhiều tác giả nghiên
cứu về nhận thức luận của Kant. Những nghiên cứu theo nhiều hướng khác
nhau nhưng đều thừa nhận công lao to lớn của Kant trong lĩnh vực nhận thức
luận, đặc biệt là tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của ông với rất nhiều vấn
đề mà cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau và có tính gợi mở
phong phú, sâu sắc.
Trong luận án tiến sỹ triết học “Vấn đề tự ý thức trong lịch sử triết học
phương Tây” (Hà Nội, 2003), tác giả Nguyễn Văn Sanh xem triết học Kant là
sự tự ý thức của lý tính. Tác giả cũng đã làm rõ ý nghĩa các khái niệm như
“tổng giác tiên nghiệm”, “cái Tôi tư duy”, “tự ý thức thuần túy” là gần gũi về
mặt ý nghĩa.
Năm 2004, PGS. TS Đặng Hữu Toàn với bài viết: “Phép biện chứng
tiên nghiệm của I. Kant - học thuyết về lý tính con người” (đăng trên Tạp chí
Khoa học xã hội số 5, tr 35 - 45) đã phân tích khá đầy đủ, sâu sắc về phép
biện chứng siêu nghiệm của Kant. Tác giả đã khẳng định: “Lý tính với tư cách
là khả năng trí tuệ cao nhất của con người được I. Kant xác định là đối tượng
nghiên cứu của phép biện chứng tiên nghiệm” [53, tr 37]; với quan niệm này
I. Kant đã phê phán quan niệm của siêu hình học truyền thống về năng lực lý
luận của lý tính, đưa ra nhiệm vụ của lý tính thuần túy, và luận giải ý niệm
tiên nghiệm trong các lĩnh vực tâm lý học, vũ trụ học và thần học. Đặc biệt,
trong bài viết này, tác giả đã trình bày cụ thể sự luận giải của I.Kant về các
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: phép biện chứng siêu nghiệm của I. Kant.
- Phạm vi nghiên cứu: phép biện chứng siêu nghiệm của I. Kant trong
“Phê phán lý tính thuần túy”.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của triết học Mác - Lênin
về triết học như một hình thái ý thức xã hội. Đồng thời luận văn dựa trên
những nghiên cứu của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lịch sử triết học nói
chung, về triết học I. Kant nói riêng; các sách, bài nghiên cứu của các tác giả
về triết học cổ điển Đức, triết học Kant như những chỉ dẫn quý báu về mặt
phương pháp luận.
Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và so sánh, phân tích
tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, diễn dịch, quy nạp…
6. Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở phân tích nội dung căn bản của phép biện chứng siêu
nghiệm trong “Phê phán lý tính thuần túy” của I.Kant, luận văn đánh giá
những giá trị và hạn chế của nó.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đáp ứng phần nào yêu cầu nghiên cứu ngày một tăng đối với
triết học I. Kant ở nước ta. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 7 tiết.
9
nhận thức thế giới, cách mạng Cách mạng Tư sản Pháp thể hiện khả năng cải
tạo thế giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của nền văn
minh công nghiệp” [16, 8].
Với ý nghĩa lịch sử lớn lao, hai cuộc cách mạng đó đã có những ảnh
hưởng lớn đến phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, được đánh dấu
bằng một loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra: cách mạng tư sản ở Anh,
Hà Lan, Pháp, Italia…chấm dứt sự thống trị của chế độ phong kiến hàng
nghìn năm gắn với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt khe, mở đầu cho sự
ra đời và phát triển của chế độ tư bản. Chủ nghĩa tư bản ra đời đem lại một
nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với
tất cả các chế độ xã hội trước đó. Bước chuyển đó đã đem lại cho châu Âu
một diện mạo mới với những thành tựu khổng lồ về kinh tế - xã hội và văn
hóa mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ bình minh đầy tích cách mạng của
chủ nghĩa tư bản. Đó là những tiền đề quan trọng thúc đẩy khoa học nói
chung và triết học nói riêng phát triển. Đặc biệt, đối với triết học, sự chuyển
biến được thể hiện rất rõ. Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, hệ thống thần học
như một chiếc áo được khoác lên, che đậy cho chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa
kinh viện giáo điều với những lý luận hoàn toàn hướng con người tới một thế
giới ảo tưởng, xa rời hiện thực cuộc sống đã bị cởi bỏ và được thay thế bằng
chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy lý. Triết học thâm nhập khám
phá cuộc sống, tìm hiểu những bí ẩn trong lý tính của con người. Các nhà tư
tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những quyền mà hệ tư tưởng phong
kiến đang phủ nhận: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu riêng của
mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc. Con người phải vươn tới trí tuệ và
tự do đích thực.
11
Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt
công nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, và nước Pháp nhờ
Cách mạng Tư sản 1789, giai cấp tư bản đã tiêu diệt được chế độ phong kiến,
Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng.
Về tư tưởng, hệ tư tưởng thần học chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài lý
luận. Khoa học còn bị sa lầy trong thần học. Chủ nghĩa duy vật mới bắt đầu
phát triển nhờ vào thành tựu của vật lý học, sinh học và y học thì đột nhiên bị
chững lại. Thần học được giảng dạy trong các trường đại học tổng hợp. Các
khoa học khác và triết học chỉ là công cụ biện hộ và bảo vệ cho thần học. Các
nhà triết học cổ điển Đức - “các giáo sư chính thức trong các trường đại học
của Vương quốc Phổ, do sợ hãi hiện thực cách mạng, thỏa hiệp với giai cấp tư
sản, tư tưởng của họ không thể hiện ra thực tiễn cách mạng, họ đã phải phủ
ngoài triết học của mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tư biện nặng nề, xa rời
hiện thực” [16,24]. Triết học thỏa hiệp với tôn giáo, nhượng bộ tôn giáo.
Có thể khái quát bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đương thời thật u
ám, đen tối như lời đánh giá của Ph. Ăngghen: “Đó là thời kỳ nhục nhã về
mặt chính trị và xã hội…Không ai cảm thấy mình dễ chịu…Mọi cái đều tồi tệ
và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nước. Không có giáo dục,,,không có tự do
báo chí, không có dư luận xã hội – không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự
lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn
dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn
lấy một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức
vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi ”. [24, 754].
Trước ảnh hưởng như vũ bão của các cuộc cách mạng tư sản trên thế
giới, đặc biệt là Cách mạng tư sản Pháp (1789), cùng với bối cảnh kinh tế - xã
hội phức tạp, rối ren và đầy mâu thuẫn của nước Đức lúc bấy giờ đã tác động
13
mạnh tới tư tưởng của giai cấp tư sản Đức. Họ đã đặt ra vấn đề cách mạng
nhưng không phải trong thưc tế mà chỉ trong tư tưởng mà thôi. Giai cấp tư sản
non yếu đang trong quá trình tích lũy tư bản vẫn phải dựa vào sự bảo hộ của
quý tộc nên cuộc đấu tranh chính trị mạnh mẽ với giới quý tộc là điều mà họ
chưa thể nghĩ tới. Trước thực tại xã hội đương thời, tầng lớp trí thức Đức đã
chủ tư sản, đem lại quyền lợi đích thực cho mọi công dân xã hội; 2) làm vừa
lòng chính thể nhà nước hiện tồn. Mâu thuẫn tâm lý đó chuyển thành mâu
thuẫn tư tưởng và biểu hiện một cách cụ thể trong học thuyết triết học của
Kant, đúng như lời nhận xét của Giáo sư Trần Đức Thảo: “Sự bất lực trong tư
tưởng của Kant phản ánh sự bất lực của giai cấp tư sản Đức nằm trong một hệ
thống châu Âu đã tiến bộ nhiều, đã hoặc đang làm cách mạng tư sản”
[50,390]. “Tư tưởng của Kant biểu hiện những ưu và khuyết điểm của cách
mạng tư sản một cách đúng đắn” [50, 419]. Dưới sự tác động của cả hai sức
ép: một bên là sự cổ vũ mạnh mẽ của các nhà khai sáng, cách mạng tư sản
Pháp - những tư tưởng tiến bộ; một bên là sức ép chính trị của chính quyền
chuyên chế Phổ đương nhiệm với các chính sách trừng trị hà khắc đối với
những học giả có tư tưởng chống đối nhà nước, Kant cũng đã chọn con đường
cải lương, thỏa hiệp với luận điểm: “Tôi phải dẹp bỏ nhận thức đi để dành chỗ
cho lòng tin và thuyết giáo điều trong siêu hình học” [17, 55].
Tóm lại triết học Kant là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã
hội Đức đầu thế kỷ XVIII, nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội
Đức với những mâu thuẫn phát sinh khó có thể điều hòa trong lòng xã hội đó.
1.1.2. Tiền đề khoa học tự nhiên
Bất kỳ một học thuyết triết học nào không bao giờ ra đời trên mảnh đất
hiện thực trống không, mà nó còn là sự kế thừa, tiếp tục phát triển những tư
tưởng trước đó của nhân loại. Triết học Kant không chỉ hình thành trong bối
15
cảnh lịch sử rối ren, phức tạp của nước Đức thế kỷ XVIII mà còn là sự tiếp
thu những tinh hoa tư tuởng của thời đại. Trước hết, cần phải đề cập tới
những thành quả trong khoa học tự nhiên - những yếu tố tác động trực tiếp tới
sự hình thành thế giới quan, phương pháp luận, quan điểm của các nhà triết
học. Triết học và khoa học tự nhiên luôn gắn bó song hành với nhau, tác động
qua lại với nhau một cách biện chứng, cùng phát triển. Những thành tựu,
những phát minh, sáng tạo trong khoa học tự nhiên đã cung cấp cho triết học
Tây. I.Kant trong quá trình nghiên cứu toán học đã rất lưu ý đến những tri
thức toán học nói trên. Ông nhận xét: “Từ thời rất xa xưa mà lịch sử của lý
tính con người có thể vươn tới, toán học đã đi con đường vững chắc của một
khoa học nơi dân tộc Hy Lạp đáng ngưỡng mộ…một ánh sáng đã lóe lên
trong đầu óc người đầu tiên (đó là Thales hay có thể một tên tuổi nào khác)
khi ông chứng minh tam giác cân. Đó là khi ông thấy rằng không thể dựa vào
những gì ông nhìn thấy trong hình tam giác, hay dò theo khái niệm đơn thuần
về nó để từ đó rút ra các đặc điểm, trái lại phải tạo ra hình tam giác từ những
gì tự ông nghĩ ra một cách tiên nghiệm dựa theo các khái niệm, và diễn tả nó
(bằng sự cấu tạo - Konstruktion); và thấy rằng để nhận thức chắc chắn về cái
gì một cách tiên nghiệm, ông không cần phải gán cho sự vật những thuộc tính
nào khác ngoài những gì được tất yếu rút ra từ cái mà bản thân ông đã đặt vào
trong sự vật, phù hợp với khái niệm của ông về nó” [17, 40-41]. Nhận xét
trên của Kant đã cho thấy ông tin rằng những định lý, tiên đề toán học cũng
giống như các khái niệm, phạm trù triết học không phải được khái quát lên từ
những kết quả của sự nghiên cứu, khảo sát trong thực tế, từ kinh nghiệm cảm
tính, mà ngược lại đó là những điều tiên nghiệm có sẵn trong giác tính của
con người. Kant đã trượt sang con đường của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm,
xa rời tính chất duy vật được thể hiện trong toán học thời Hy Lạp.
17
Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ tiếp theo có ảnh hưởng sâu
sắc tới tư tưởng của Kant. Những phát minh vạch thời đại của khoa học đã tạo
nên những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức nhân loại. Năm
1543 tại Ba Lan, nhà thiên văn học Copernic đã đưa ra tác phẩm “Về sự vận
động của các thiên thể” với thuyết nhật tâm trực tiếp công kích, phản bác lại
thuyết địa tâm do Arixtốt khởi xướng, Ptomele phát triển ở thời cổ đại. Thay
vì trái đất là trung tâm, mặt trời và các thiên thể quay quanh trái đất như
chúng ta quan sát thấy; thì Copernic đảo ngược lại với quan niệm dựa vào
những nghiên cứu khoa học của ông là mặt trời đứng yên và là trung tâm của
kim loại thành vôi và lại chuyển hóa vôi thành kim loại bằng cách rút bớt đi
và cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên
trong đầu óc của mọi nhà nghiên cứu tự nhiên. Họ hiểu ra rằng lý tính chỉ
nhận ra những gì do bản thân nó tạo ra theo phác họa của nó…bắt buộc tự
nhiên phải trả lời cho các câu hỏi của nó, chứ không chỉ chịu để cho tự nhiên
dẫn dắt” [17, 41-42].
Bức tranh văn hóa - khoa học châu Âu cuối thế kỷ XVIII đã có nhiều
khởi sắc, nhiều phát minh khoa học mới ra đời. Những tiến bộ đáng kể của
khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy
siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII - XVIII. Năm
1687, nhà toán học, triết học người Anh Niutơn với cuốn “Nguyên tắc toán
học” đã đề cập tới sự vận động của các thiên thể trên phương diện toán học,
đặc biệt là sự áp dụng động lực học và định luật vạn vật hấp dẫn vào hệ thống
mặt trời. Điều đó đã ảnh hưởng tới Kant. Ông cho rằng, phương pháp của
Niutơn là một phương pháp đáng tin cậy - dựa vào kinh nghiệm và hình học.
Kant nhận thấy triết học cũng giống khoa học tự nhiên phải dựa vào những
kinh nghiệm cảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính
19
đóng vai trò quan trọng nhất. Niutơn (Anh), Đềcáctơ (Pháp), Lepnit (Đức) đã
đưa toán học vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội, đối tượng của toán
học vượt ra khỏi dạng tĩnh, vươn sang dạng động.
Các nhà khoa học đã chỉ ra một cách hệ thống những hình thức vận
động của vật chất vượt lên trên cách hiểu cơ học, lý học, hóa học, sinh học.
Việc phát minh ra điện và sử dụng điện năng đã góp phần tạo ra bước nhảy
vọt của phát triển sản xuất từ công trường thủ công tới công trường cơ khí,
đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn
và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ. Lômônôxốp chứng minh bằng
thực nghiệm luật “Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng”. Nhà hóa học Pháp
Lavoarê, dựa vào những phát minh hóa học, bác bỏ quan niệm về sự tồn tại
công nghệ” [29,407].
Các phát minh trên như những đòn đánh mạnh vào siêu hình học thế kỷ
XVII - XVIII, dóng một hồi chuông báo hiệu cho ngày tận số của siêu hình
học cũ - mở đầu cho kỷ nguyên của phép biện chứng. Những thành tựu đó
chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chin muồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần
xây dựng một phương pháp tư duy và khảo sát mới - phương pháp biện chứng
- để có thể phản ánh đầy đủ những quy luật tự nhiên khách quan. Điều đó
được phản ánh vào trong tư tưởng, trong triết thuyết của các nhà triết học, và
là những tiền đề cho tư tưởng biện chứng thiên tài của Kant. Nếu ở thế kỷ
XVII, những nhà khoa học tự nhiên bắt đầu từ F.Bêcơn và G. Galilê xây dựng
một cách tự phát phương pháp siêu hình cho sự nhận thức khoa học, thì ở cuối
thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức bắt đầu từ Kant xây dựng
phương pháp biện chứng cho khoa học trên cơ sở duy tâm.
1.1.3. Tiền đề lý luận
21
Nằm trong lòng của thời Cận đại nước Đức với những điều kiện kinh tế
- xã hội kém phát triển nhưng “triết học Kant đã xuất hiện với ánh sáng tân kỳ
của một tư tưởng “tân tiến” [17, L - Dẫn luận, Thái Kim Lan]. Lịch sử tư
tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thể nảy sinh trong
lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn, nếu nó biết tiếp thu thành tựu
mọi mặt của các nước tiến bộ khác. Ở Pháp vào thế kỷ XVIII, nền kinh tế
kém phát triển hơn Anh, nhưng lại hình thành chủ nghĩa duy vật F. H.
Honbach, C. A. Henvetiut, R. Điđrô…do dựa trên những thành tựu của chủ
nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII và chủ nghĩa duy vật Hà Lan (Xpinôza). Nước
Đức cũng nằm trong sự phát triển tư tưởng vượt thời đại ấy. Kinh nghiệm lịch
sử của cuộc Cách mạng Anh thế kỷ XVII, cũng như của Cách mạng Pháp thế
kỷ XVIII, đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nước Đức cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Triết học cổ điển Đức đã tiếp thu di sản tư tưởng
phong phú của triết học nhân loại: sự thông thái trong triết học Hy Lạp, tư
Platon (427 - 347TCN) là nhà triết học duy tâm khách quan, học thuyết
về ý niệm của ông chứa đựng những nội dung sâu sắc. Học thuyết về ý niệm
của Platon có những đóng góp cho tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của I.
Kant. Platon đã thể hiện một bước vô cùng quan trọng trong bước chuyển triết
học từ tư duy ẩn dụ tới tư duy khái niệm Thế giới ý niệm và thế giới các sự
vật (hay thế giới có trước và thế giới có sau) trong triết học duy tâm khách
quan của Platon có những nét tương đồng so với thế giới vật tự nó và thế giới
hiện tượng trong triết học duy tâm chủ quan tiên nghiệm của Kant. Platon cho
rằng ý niệm là những tri thức vốn có sẵn của tư duy loài người và không phụ
thuộc vào kinh nghiệm cảm tính. Còn với Kant, ý niệm được hiểu là giai đoạn
phát triển cao nhất của khái niệm, ý niệm là các phạm trù của lý tính và ý
23
niệm cao nhất trong triết học Kant chính là Linh hồn, Thượng đế, Tự do -
thuộc về thế giới vật tự nó.
Aristote (384 – 322 TCN) - bộ óc toàn thư của triết học cổ đại Hy Lạp,
người đầu tiên khám phá ra những quy lật sơ đẳng của tư duy biện chứng.
Aristote phê phán mạnh mẽ học thuyết của Platon về các ý niệm. Ông cho
rằng các ý niệm của Platon không thể là công cụ để nhận thức thế giới bởi vì
chúng hoàn toàn biệt lập với quá trình sinh thành, vận động, phát triển của sự
vật cảm tính. Theo Aristote, thế giới hiện thực vốn rất phong phú và đa dạng
nhưng con người có thể khái quát, quy sự đa dạng đó thành các phạm trù
chung. Ông đã xây dựng hệ thống 10 phạm trù: bản chất, số lượng, chất
lượng, quan hệ, không gian, thời gian, tình trạng, sở hữu, hành động, chịu
đựng. Đặc biệt hai phạm trù không gian và thời gian sau này được Kant đề
cập tới rất nhiều và mang tính tiên nghiệm. Aristote đã tạo nên một bước
ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức. Dựa trên quan điểm duy vật, ông đã
nhận thấy mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và phạm trù, coi phạm trù
như là công cụ và hình thức để nhận thức thế giới. Và chính điều đó đã được
Kant kế thừa và phát triển trong học thuyết của mình.