class="bi x0 y0 w1 h1"
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, chúng ta đang được chứng kiến sự chuyển mình
phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới, và thực tế đã cho thấy một xu thế
khách quan đang diễn ra mang tính chất toàn cầu mà không một quốc gia,
không một tập đoàn, không một công ty nào lại không tính đến chiến lược kinh
doanh của mình. Đó là xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một xu thế đem
lại sức mạnh về tài chính; tận dụng công nghệ nhằm làm giảm chi phí, nâng
cao chất lượng sản phẩm cho tất cả những doanh nghiệp tham gia vào guồng
máy đó.
Việt Nam cũng không ngừng đổi mới để hoà nhập với nền kinh tế thị
trường thế giới, có nhiều doanh nghiệp đã ra đời và không ngừng lớn mạnh.
Nhưng để có tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt của thị
trường các doanh nghiệp cần phải xác định các yếu tố đầu vào sao cho hợp lý,
phải quan tâm đến tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ vốn ra đến
khi thu hồi vổn về, đảm bảo thu nhập của đơn vị, hoàn thành nghĩa vụ với nhà
nước, cải tiến đời sống cho cán bộ công nhân viên và thực hiện tái sản xuất mở
rộng. Các doanh nghiệp cần phải hoàn thiện các bước thật cẩn thận và nhanh
chóng sao cho kết quả đầu ra là cao nhất, với giá cả và chất lượng sản phẩm có
sức hút đối với người tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, yếu tố cơ bản để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường liên tục, đó là nguyên
vật liệu, yếu tố đầu vào, cơ sở tạo nên hình thái vật chất của sản phẩm.
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải hạch toán và quản lý
đầy đủ chính xác nguyên vật liệu, phải đảm bảo cả ba yếu tố của công tác hạch
toán là: chính xác, kịp thời, toàn diện.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng về côn tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Thăng
Long (TALIMEX).
Chương 3: Hoàn thiện công tác nguyên vật liệu tại Công ty Thăng Long
(TALIMEX).
Vì thời gian và khả năng có hạn, nên bài chuyên đề của em không tránh khỏi
sai sót. Em rất mong được sự giúp đỡ, góp ý, bổ xung của các thầy cô giáo đặc
biệt là cô giáo Nguyễn Thu Hiền và cán bộ phòng kế toán Công ty Thăng Long
(TALIMEX) để bài chuyên đề của em thêm phong phú về lý luận và thiết thực
với thực tế.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và tính giá Nguyên vật liệu.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu.
1.1.1.1Khái niệm:
Vật liệu là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật hoá. Trong các
doanh nghiệp, vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý doanh
nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm:
Đặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất- kinh doanh
nhất định và toàn bộ giá trị vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí kinh
doanh trong kỳ. Khi tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, vật liệu bị
biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn. Vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
các hiện tượng hư hao, mất mát và lãng phí vật liệu trong tất cả các khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Phân loại nguyên vật liệu.
Vật liệu trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau,
có giá trị, công dụng, nguồn gốc hình thành…khác nhau. Do vậy, cần thiết phải
tiến hành phân loại vật liệu nhằm tạo điều kiện cho việc hạch toán và quản lý
vật liệu.
Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu được
chia thành các loại như sau:
-Nguyên, vật liệu chính: là thứ nguyên, vật liệu mà sau quá trình gia công,
chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm;
-Vật liệu phụ: là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được
sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị,
hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động hay phục
vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm,
thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng, giẻ lau…);
-Nhiên liệu: là những thứ vật liệu được dùng để cung cấp nhiệt lượng trong
quá trình sản xuất, kinh doanh như than, củi, xăng dầu, hơi đốt, khí đốt…;
-Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế
cho các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải …;
-Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp mua vào
với mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản;
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
-Phế liệu: là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý
Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia góp
vốn: giá thực tế ghi sổ là giá thoả thuận do các bên xác định (hoặc tổng giá
thanh toán ghi trên hoă đơn GTGT do các bên tham gia liên doanh lập) cộng
(+) với các chi phí tiếp nhận mà doanh nghiệp phải bỏ ra (nếu có).
Với phế liệu: giá thực tế ghi sổ của phế liệu là giá ước tính có thể sử dụng
được hay giá trị thu hồi tối thiểu.
Với vật liệu được tặng, thưởng: giá trị thực tế ghi sổ của vật liệu là giá thị
trường tương đương cộng (+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận (nếu có).
1.1.3.2. Tính giá nguyên vật liệu xuất kho.
Để xác định giá thực tế (giá gốc) ghi sổ của vật liệu xuất kho trong kỳ, tuỳ
theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, vào yêu cầu quản lý và trình
độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp
sau đây theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu thay đổi phương pháp
phải giải thích rõ ràng. Cụ thể như sau: a, Phương pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho trong kỳ được tính theo
công thức:
Giá thực tế từng loại
xuất kho
= Số lượng từng loại
xuất kho
* Giá đơn vị
bình quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 cách sau:
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
được nhược điểm của cả 2 phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
b, Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất
trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số
hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu
nhập kho trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế của vật liệu xuất trước
và do vậy, giá trị của vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu
nhập kho sau cùng. Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn
định hoặc có xu hướng giảm. c, Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO):
Phương pháp này giả định những vật liệu nhập kho sau cùng sẽ được xuất
trước tiên, ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước ở trên. Phương
pháp nhập sau xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm phát.
d, Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu được xác định theo đơn chiếc
hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập và cho tới lúc xuất kho (trừ trường hợp
điều chỉnh). Khi xuất kho lô nào (hay cái nào) sẽ được tính theo giá thực tế của
lô ấy hay cái ấy. Do vậy, phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc
điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích danh và thường sử dụng trong các
doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách biệt và nhận
diện được.
e, Phương pháp giá thực tế hạch toán:
thực hiện, từ đó có những biện pháp thích hợp trong quản lý. Mặt khác tính
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
chính xác, kịp thời của công tác hạch toán vật liệu sẽ giúp cho việc hạch toán
giá thành của doanh nghiệp chính xác. Xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu, vị
trí và đặc điểm của vật liệu, công tác hạch toán có những nhiệm vụ sau:
- Ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng,
chủng loại và tình hình thực tế của vật liệu nhập kho.
- Tập hợp và phản ánh đầy đủ và chính xác số lượng và giá trị vật liệu
xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao vật liệu.
- Phân bổ hợp lý giá trị vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất kinh doanh.
- Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và vật liệu tồn kho, phát hiện
kịp thời vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất để doanh nghiệp có biện
pháp xử lý kịp thời, hạn chế đến mức tối đa có thể xảy ra.
1.2. Tổ chức kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
1.2.1. Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp thẻ song song, hạch toán chi tiết vật liệu tại các doanh
nghiệp được tiến hành như sau:
Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật
liệu về mặt số lượng.
Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản
ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu với
thẻ kho mở ở kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán
phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
kho về mặt giá trị của từng loại vật liệu.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
kho vật liệu. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu tồn kho cuối
tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.
Sổ số dư do kế toán mở cho từng kho, dùng cho cả năm và giao cho thủ kho
trước ngày cuối của mỗi tháng để ghi số lượng tồn kho vật liệu vào sổ. Trong
sổ số dư, các danh điểm vật liệu được in sẵn, xếp theo từng nhóm và từng loại.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Sau khi ghi số lượng từng loại vật liệu tồn kho vào sổ số dư, thủ kho sẽ chuyển
sổ cho phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.
Error!
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi tiết vật liệu theophương pháp sổ số dư Phi
ế
u nh
ậ
p kho
Th
ẻ
kho
Phi
ế
u xu
ấ
t kho
S
ả
ng lu
ỹ
k
ế
nh
ậ
p, xu
ấ
t, t
ồ
n
v
ậ
t t
ư
Phi
ế
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
u giao nh
ậ
n ch
ứ
ng t
ừ
Chuyên đề tốt nghiệp
đối chiếu với cột “số tiền” trên sổ số dư (số liệu trên sổ số dư do kế toán vật tư
tính bằng cách lấy số lượng tồn kho * giá hạch toán).
1.3. Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
Để hạch toán vật liệu nói riêng và hàng tồn kho nói chung, kế toán có thể
áp dụng một trong 2 phương pháp: kiểm kê định kỳ và kê khai thường xuyên.
Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng
doanh nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý và vào trình độ cán bộ kế toán
cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện hành. Hàng hoá tồn kho của
doanh nghiệp là tài sản lưu động của doanh nghiệp tồn tại dưới hình thái vật
chất, bao gồm nguyên-vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành
phẩm, hàng hoá.
1.3.1. Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
1.3.1.1. Khái niệm và tài khoản sử dụng:
Phương pháp kê khai thường xuyên:là phương pháp theo dõi và phản ánh
tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho. Phương pháp này
được sử dụng phổ biến hiện nay ở nước ta vì những tiện ích của nó. Phương
pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho kịp thời,
cập nhật. Theo phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào kế toán cũng có thể
xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng loại hàng tồn kho nói chung và
nguyên, vật liệu nói riêng.
Để hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế
toán sử dụng các tài khoản sau:
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
-Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu” tài khoản này được dùng để theo
cho bộ phận cung ứng biết và cùng người giao lập biên bản.
1.3.1.2. Phương pháp hạch toán:
a, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ( đã thực hiện
việc mua bán hàng hoá có hóa đơn, chứng từ ghi chép kiểm tra đủ). Thuế
GTGT đầu vào được tách riêng, không ghi vào giá thực của vật liệu. Như vậy,
khi mua hàng trong tổng giá thanh toán phải trả cho người bán, phần giá mua
chưa thuế được ghi tăng giá trị vật tư mua vào, còn phẩn thuế GTGT đầu vào
được ghi vào số được khấu trừ. Kế toán sử dụng tài khoản 133 (1331) -Thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá dịch vụ mua ngoài).
b, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
Đối với cơ sở sản xuất không đủ điều kiện để tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thì thuế GTGT đầu vào được ghi vào giá thực tế nguyên vật liệu.
Như vậy, khi mua vật liệu thuế GTGT đầu vào được tính vào giá của vật liệu.
Kế toán không sử dụng tài khoản 133 “Thuế GTGT đầu vào”. Còn phương
pháp hạch toán tương tự như trường hợp tính thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ.
Trình tự hạch toán vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên được
khái quát theo sơ đồ (xem sơ đồ 1.4).
1.3.2. Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kì.
1.3.2.1 Khái niệm và tài khoản sử dụng:
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách
thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá, sản
phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánhgiá trị
tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định
lượng tồn kho thực tế và lượng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục
khác có liên quan như 133, 111, 112, 331….Các tài khoản này có nội dung và
kết cấu giống như phương pháp kê khai thường xuyên.
1.3.2.2. Phương pháp hạch toán
Trình tự hạch toán vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ được khái
quát theo sơ đồ. (xem sơ đồ 1.5).
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Các hình thức sổ kế toán vận dụng trong công tác kế toán nguyên
vật liệu.
Sổ kế toán là một phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm kế
toán ghi chép, phản ánh có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng
như theo đối tượng.
Hình thức tổ chức sổ kế toán là hình thức kết hợp các loại sổ kế toán khác
nhau về chức năng ghi chép, về kết cấu, nội dung phản ánh theo một trình tự
nhất định trên cơ sở của chứng từ gốc.
Các doanh nghiệp khác nhau về loại hình, quy mô và các điều kiện kế toán
sẽ hình thành cho mình một hình thức sổ kế toán khác nhau. Song quy lại có
bốn hình thức sổ sách kế toán sau:
-Hình thức Nhật ký chung.
-Hình thức Nhật ký - Sổ Cái.