Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Thăng Long - Pdf 97

Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, chúng ta đang đợc chứng kiến sự chuyển
mình phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới, và thực tế đã cho thấy một xu thế
khách quan đang diễn ra mang tính chất toàn cầu mà không một quốc gia,
không một tập đoàn, không một công ty nào lại không tính đến chiến lợc kinh
doanh của mình. Đó là xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một xu thế đem
lại sức mạnh về tài chính; tận dụng công nghệ nhằm làm giảm chi phí, nâng cao
chất lợng sản phẩm cho tất cả những doanh nghiệp tham gia vào guồng máy đó.
Việt Nam cũng không ngừng đổi mới để hoà nhập với nền kinh tế thị tr-
ờng thế giới, có nhiều doanh nghiệp đã ra đời và không ngừng lớn mạnh. Nhng
để có tồn tại và phát triển trong môi trờng cạnh tranh gay gắt của thị trờng các
doanh nghiệp cần phải xác định các yếu tố đầu vào sao cho hợp lý, phải quan
tâm đến tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ vốn ra đến khi thu hồi
vổn về, đảm bảo thu nhập của đơn vị, hoàn thành nghĩa vụ với nhà nớc, cải tiến
đời sống cho cán bộ công nhân viên và thực hiện tái sản xuất mở rộng. Các
doanh nghiệp cần phải hoàn thiện các bớc thật cẩn thận và nhanh chóng sao cho
kết quả đầu ra là cao nhất, với giá cả và chất lợng sản phẩm có sức hút đối với
ngời tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, yếu tố cơ bản để đảm bảo
cho quá trình sản xuất đợc tiến hành bình thờng liên tục, đó là nguyên vật liệu,
yếu tố đầu vào, cơ sở tạo nên hình thái vật chất của sản phẩm.
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải hạch toán và quản lý
đầy đủ chính xác nguyên vật liệu, phải đảm bảo cả ba yếu tố của công tác hạch
toán là: chính xác, kịp thời, toàn diện.
Trong sản xuất kinh doanh, chính sách giá cả chính là yếu tố để đứng
vững và chiến thắng trong sự cạnh tranh của cơ chế thị trờng. Mặt khác, chỉ cần
một sự biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng có ảnh hởng tới giá
thành. Việc hạch toán đầy đủ chính xác có tác dụng quan trọng đến việc hạch
toán đầy đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Để tăng cờng hạch toán kế
toàn đồng thời góp phần làm giảm sự lãng phí vật t. Vì vậy cần phải quản lý vật

thực với thực tế.
Chơng 1
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Những vấn Đề lý luận cơ bản về công tác kế toán
NGUYÊN VậT LIệU trong các doanh nghIệP sản xuất
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và tính giá Nguyên vật liệu.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu.
1.1.1.1Khái niệm:
Vật liệu là những đối tợng lao động, thể hiện dới dạng vật hoá. Trong các
doanh nghiệp, vật liệu đợc sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm:
Đặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất- kinh doanh
nhất định và toàn bộ giá trị vật liệu đợc chuyển hết một lần vào chi phí kinh
doanh trong kỳ. Khi tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, vật liệu bị
biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn. Vật liệu đợc hình thành từ nhiều nguồn khác
nhau nh mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp liên doanh, vốn góp của các
thành viên tham gia công ty, , trong đó, chủ yếu là do doanh nghiệp mua
ngoài.
1.1.1.3 Vai trò của nguyên vật liệu:
Có thể nói, vật liệu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp sản xuất (Công nghiệp, nông nghiệp,
xây dựng cơ bản vật liệu là yếu tố vô cùng quan trọng, chi phí vật liệu thờng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí để tạo thành sản phẩm). Do vậy vật liệu
không chỉ quyết định đến số lợng sản phẩm mà còn ảnh hởng trực tiếp đến chất
lợng sản phẩm tạo ra. Nguyên vật liệu có đảm bảo quy cách, chủng loại sự đa
dạng thì sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu và phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng ngày càng cao của xã hội. Nh vậy vật liệu có một giá trị vô cùng quan
trọng không thể phủ nhận trong quá trình sản xuất kinh doanh.

chống rỉ, hơng liệu, xà phòng, giẻ lau );
-Nhiên liệu: là những thứ vật liệu đợc dùng để cung cấp nhiệt lợng trong quá
trình sản xuất, kinh doanh nh than, củi, xăng dầu, hơi đốt, khí đốt ;
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
-Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế
cho các máy móc, thiết bị, phơng tiện vận tải ;
-Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ ) mà doanh nghiệp mua vào
với mục đích đầu t cho xây dựng cơ bản;
-Phế liệu: là các loại vật liệu thu đợc trong quá trình sản xuất hay thanh lý
tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt );
-Vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ cha kể trên
nh bao bì, vật đóng gói, các loại vật t đặc chủng v.v
1.1.3. Phơng pháp tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá vật liệu về thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của vật liệu.
Theo quy định vật liệu đợc tính theo giá thực tế (giá gốc). Tức là vật liệu khi
nhập kho hay xuất kho đều đợc phản ánh trên sổ sách theo giá thực tế.
1.1.3.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá gốc ghi sổ vật liệu trong các trờng hợp cụ thể đợc tính nh sau:
Với các vật liệu mua ngoài: giá thực tế (giá gốc) ghi sổ gồm trị giá mua
ngoài của vật liệu thu mua [là giá mua ghi trên hoá đơn của ngời bán đã trừ(-)
các khoản chiết khấu thơng mại và giảm giá hàng mua đợc hởng, cộng (+) các
loại thuế không đợc hoàn lại (nếu có) và các chi phí thu mua thực tế (chi phí
vận chuyển, bốc dỡ; chi phí bao bì; chi phí của bộ phận thu mua độc lập; chi phí
thuê kho, thuê bãi; tiền phạt lu kho, lu hàng, lu bãi )].
Nh vậy, trong giá thực tế của vật liệu trong doanh nghiệp tính thuế theo ph-
ơng pháp khấu trừ không bao gồm thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ mà bao
gồm các khoản thuế không đợc hoàn lại nh thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt (nếu có).

xuất kho
*
Giá đơn vị bình
quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 cách sau:
Cách 1: Giá đơn vị
bình quân cả kỳ dự
trữ
=
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lợng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong
kỳ
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhng độ chính xác không cao. Hơn
nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hởng đến công tác quyết
toán nói chung.
Cách 2: Giá đơn vị
bình quân cuối kỳ
trớc
=
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)
Lợng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ trớc)
Cách này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động
của từng loại vật liệu, dụng cụ, sản phẩm hàng hoá trong kỳ, tuy nhiên không
chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả vật liệu, dụng cụ, hàng hoá
cũng nh giá thành sản phẩm trong kỳ.
Cách 3: Giá đơn vị
bình quân sau mỗi

Ngoài các phơng pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để giảm
nhẹ việc ghi chép cũng nh bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế toán, để tính
giá thực tế của vật liệu xuất kho, kế toán còn sử dụng phơng pháp giá hạch toán.
Theo phơng pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ đợc tính theo giá
hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Cuối kỳ, kế toán
sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất
kho (hoặc tồn kho cuối kỳ)
=
Giá hạch toán
từng loại xuất kho
*
Hệ số giá từng loại

Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm hoặc từng thứ vật liệu chủ
yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý. Về thực chất, việc sử dụng giá
hạch toán để ghi sổ các loại hàng tồn kho nói chung chính là một thủ thuật của
kế toán nhằm phản ánh kịp thời tình hình biến động hiện có của từng loại hàng
tồn kho. Giá trị từng loại hàng tồn kho tính theo phơng pháp giá hạch toán đúng
bằng giá trị từng loại hàng tồn kho tăng, giảm hiện có tính theo phơng pháp giá
đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.4. Nhiệm vụ của hạch toán nguyên vật liệu.
Vật liệu là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chi phí vật
liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm cho nên yêu cầu quản lý vật
liệu và công tác tổ chức vật liệu là hai điều kiện cơ bản luôn song hành cùng
nhau. Hạch toán vật liệu có chính xác, kịp thời, đầy đủ thì lãnh đạo mới nắm đ-
ợc chính xác tình hình thu mua, dự trữ, và sử dụng vật liệu cả về kế hoạch và
thực hiện, từ đó có những biện pháp thích hợp trong quản lý. Mặt khác tính

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết theo phơng pháp thẻ song song.
1.2.2. Kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Theo phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển, công việc cụ thể tại kho giống
nh phơng pháp thẻ song song ở trên. Tại phòng kế toán, kế toán sử dụng sổ đối
chiếu luân chuyển để hạch toán số lợng và số tiền của từng thứ (danh điểm) vật
liệu theo từng kho. Sổ này đợc ghi mỗi tháng 1 lần vào cuối tháng trên cơ sở
các bảng kê nhập, bảng kê xuất từng thứ (danh điểm) vật liệu; mỗi danh điểm
ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng, kế toán đối chiếu số lợng vật liệu trên sổ đối
chiếu luân chuyển với thẻ kho của thủ kho; đồng thời đối chiếu số tiền của từng
danh điểm vật liệu với kế toán tổng hợp (theo giá hạch toán ở các bảng tính
giá).
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Thẻ
hoặc
sổ kế
toán
chi
tiết
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Bảng tổng hợp nhập,
xuất, tồn kho
Kế toán tổng hợp
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Chuyên đề tốt nghiệp
Phơng pháp này mặc dầu đã có cải tiến nhng việc ghi chép vẫn còn trùng
lặp.

nhận đợc chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ (giá hạch
toán). Tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ.
Đồng thời, ghi số tiền vừa tính đợc của từng nhóm vật liệu (nhập riêng, xuất
riêng) vào bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số d đầu tháng để
tính ra số d cuối tháng của từng nhóm vật liệu. Số d này đợc dùng để đối chiếu
với cột số tiền trên sổ số d (số liệu trên sổ số d do kế toán vật t tính bằng cách
lấy số lợng tồn kho * giá hạch toán).
1.3. Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
Để hạch toán vật liệu nói riêng và hàng tồn kho nói chung, kế toán có thể áp
dụng một trong 2 phơng pháp: kiểm kê định kỳ và kê khai thờng xuyên. Việc sử
dụng phơng pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng doanh
nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý và vào trình độ cán bộ kế toán cũng
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Phiếu nhập kho

Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán tổng hợp
Phiếu giao nhận chứng từ
nhập
Bảng luỹ kế nhập, xuất,
tồn vật tư
Phiếu giao nhận chứng từ
xuất
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Ghi định kỳ

về nhập kho (kể cả số đang gửi kho ngời bán).
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đờng tăng thêm trong kỳ.
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đờng kỳ trớc đã nhập kho hay chuyển giao
cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.
D nợ: giá trị hàng đang đi đờng (đầu và cuối kỳ).
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan khác nh 133, 331, 111, 112, 632 .
Căn cứ vào giấy báo nhận hàng, nếu xét thấy cần thiết, khi hàng về đến nơi,
có thể lập ban kiểm nhận để kiểm nhận vật liệu thu mua cả vể số lợng, chất l-
ợng, quy cách Ban kiểm nhận căn cứ vào kết quả thực tế ghi vào Biên bản
kiểm nhận vật t. Sau đó bộ phận cung ứng sẽ lập Phiếu nhập kho vật t trên cơ
sở hóa đơn, giấy báo nhận hàng và biên bản kiểm nhận rồi giao cho thủ kho.
Thủ kho sẽ ghi số vật liệu vào phiếu rồi chuyển cho phòng kế toán làm căn cứ
ghi sổ. Trờng hợp phát hiện thừa, thiếu, sai quy cách, thủ kho phải báo cho bộ
phận cung ứng biết và cùng ngời giao lập biên bản.
1.3.1.2. Phơng pháp hạch toán:
a, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ:
Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ ( đã thực hiện việc
mua bán hàng hoá có hóa đơn, chứng từ ghi chép kiểm tra đủ). Thuế GTGT đầu
vào đợc tách riêng, không ghi vào giá thực của vật liệu. Nh vậy, khi mua hàng
trong tổng giá thanh toán phải trả cho ngời bán, phần giá mua cha thuế đợc ghi
tăng giá trị vật t mua vào, còn phẩn thuế GTGT đầu vào đợc ghi vào số đợc
khấu trừ. Kế toán sử dụng tài khoản 133 (1331) -Thuế GTGT đầu vào của hàng
hoá dịch vụ mua ngoài).
b, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp:
Đối với cơ sở sản xuất không đủ điều kiện để tính thuế GTGT theo phơng
pháp khấu trừ thì thuế GTGT đầu vào đợc ghi vào giá thực tế nguyên vật liệu.
Nh vậy, khi mua vật liệu thuế GTGT đầu vào đợc tính vào giá của vật liệu. Kế

Bên có: kết chuyển giá thực tế hàng đang đi đờng cuối kỳ.
D nợ: giá thực tế hàng đang đi đờng.
Tài khoản 152: Nguyên liệu, vật liệu . Dùng để phản ánh giá thực tế
nguyên, vật liệu tồn kho, chi tiết theo từng loại.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho cuối kỳ.
Bên có: kết chuyển giá thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ.
D nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho.
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
khác có liên quan nh 133, 111, 112, 331 .Các tài khoản này có nội dung và kết
cấu giống nh phơng pháp kê khai thờng xuyên.
1.3.2.2. Phơng pháp hạch toán
Trình tự hạch toán vật liệu theo phơng pháp kiểm kê định kỳ đợc khái quát
theo sơ đồ. (xem sơ đồ 1.5).
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Thu Giang- Líp Q10K3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Thu Giang- Líp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Các hình thức sổ kế toán vận dụng trong công tác kế toán nguyên
vật liệu.
Sổ kế toán là một phơng tiện vật chất cơ bản, cần thiết để ngời làm kế toán
ghi chép, phản ánh có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng nh
theo đối tợng.
Hình thức tổ chức sổ kế toán là hình thức kết hợp các loại sổ kế toán khác
nhau về chức năng ghi chép, về kết cấu, nội dung phản ánh theo một trình tự
nhất định trên cơ sở của chứng từ gốc.
Các doanh nghiệp khác nhau về loại hình, quy mô và các điều kiện kế toán

dụng máy tính. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo cáo
dễ bị trễ nhất là trong điều kiện thủ công, sổ sách trong hình thức này gồm:
-Sổ cái: Là sổ phân loại dùng để hạch toán tổng hợp. Mỗi tài khoản đợc phản
ánh trên một vài trang sổ cái theo kiểu ít cột hoặc nhiều cột.
-Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: Là sổ ghi thời gian, phản ánh toàn bộ chứng từ
ghi sổ đã lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi sổ và
kiểm tra, đối chiếu với bảng cân đối phát sinh. Mọi chứng từ ghi sổ sau khi lập
xong đều phải đăng ký vào sổ này để lấy số hiệu và ngày tháng. Số hiệu của
chứng từ ghi sổ đợc đánh giá liên tục từ đầu tháng (hoặc đầu năm) đến cuối
tháng (hoặc cuối năm). Ngày, tháng trên chứng từ ghi sổ tính theo ngày ghi Sổ
đăng ký chứng từ ghi sổ.
-Bảng cân đối tài khoản: Dùng để phản ánh tình hình đầu kỳ, phát sinh trong
kỳ và tình hình cuối kỳ của các loại tài sản và nguồn vốn với mục đích kiểm tra
tính chính xác của việc ghi chép.
-Các sổ, thẻ hạch toán chi tiết: Dùng để phản ánh các đối tợng cần hạch toán
chi tiết (vật liệu, dụng cụ, tài sản cố định, chi phí sản xuất, tiêu thụ )
1.4.4 Hình thức Nhật ký chứng từ.
Hình thức này phù hợp với doanh nghiệp có số lợng nghiệp vụ nhiều và
điều kiện kế toán thủ công, dễ chuyên môn hoá cán bộ kế toán. Tuy nhiên đòi
hỏi trình độ kế toán phải cao. Mặt khác không phù hợp với kế toán bằng máy.
Sổ sách trong hình thức này bao gồm:
Sổ nhật ký chứng từ: Nhật ký-chứng từ mở hàng tháng cho một hoặc một
sổ tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau và có liên quan với nhau theo yêu
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
cầu quản lý. Nhất ký- chứng từ đợc mở theo số phát sinh bên Có của tài khoản
đối ứng với bên Nợ các tài khoản có liên quan, kết hợp giữa ghi theo thời gian
và ghi theo hệ thống, giữa hạch toán tổng hợp và hạch toán phân tích.
-Sổ cái: Mở cho từng tài khoản tổng hợp và cho cả năm. chi tiết theo từng
tháng trong đó bao gồm: số d đầu kỳ, số phát sinh bên Nợ của tài khoản đối ứng

bắt tình hình sản xuất của ban giám đốc dễ dàng hơn, nhanh nhạy hơn, chính
xác hơn và có những biện pháp kịp thời trong sản xuất, giúp cho những nhà lãnh
đạo có những hớng đi phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng 2
Thực trạng về công tác kế toán Nguyên vật liệu tại
Công ty thăng long (talimex)
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Thăng Long (TALIMEX).
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nớc chuyên sản xuất hàng may
mặc xuất khẩu. Tiền thân là Xí nghiệp sản xuất máy khâu Hà Nội, đến năm
1994, xí nghiệp đợc đổi tên thành Công ty Thăng Long với tên giao dịch là
TALIMEX.
Công ty có hai cơ sở sản xuất sau:
Cơ sở 1 tại 43 đờng Giảng Võ - Ba Đình-Hà Nội.
Điện thoại: 04.8.432.902 04.8.430.492.
Fax: 04.7.365.262.
E-mail:
Cơ sở 2 đặt tại Khơng Trung -Thanh Xuân - Hà Nội.
Điện thoại: 04.5.652.859.
Fax: 04.5.652.860.
Công ty Thăng Long đợc thành lập vào ngày 03/10/1973 theo quyết định
số 199/UBQP của UBND thành phố Hà Nội có nhiệm vụ nghiên cứu và chế thử
máy khâu gia đình. Lúc này, xí nghiệp gồm 30 ngời trong đó có nhiều kỹ s và
thợ bậc cao về cơ khí.
Trong những ngày đầu thành lâp xí nghiệp còn gặp nhiều khó khăn nh:
Cơ sở lao động, vật chất nghèo nàn, thiết bị cần thiết đã cũ và không

trong việc cải tạo, nâng cấp mẫu mã sản phẩm trong những năm đầu của thập
kỷ 90.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Năm 1995, Công ty đã đầu t cho sản xuất hai dây chuyền may mặc của
Nhật Bản và Đài Loan bằng nguồn vốn vay và nguồn vốn huy động. Đồng thời,
cũng xây dựng và cải tạo lại nhà xởng.
Trong 3 năm 1995, 1996, 1997 tình hình tài chính của Công ty rất khó
khăn nên trong tháng 2/1998 nhà nớc và UBND thành phố Hà Nội đã cấp cho
Công ty toàn bộ tài sản cố định mà Công ty đã đầu t trong 3 năm qua.
Năm 2002 là năm Công ty đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu sản xuất kinh
doanh, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật mà Sở Công Nghiệp đã giao cho. Sản phẩm
chính của Công ty lúc bấy giờ là áo T-shirt (áo sơ mi) đợc thiết kế sản phẩm
trên vi tính, máy cắt dập liên hoàn. Đồng thời Công ty cũng đầu t dây chuyền
sản xuất một số phụ liệu phục vụ cho nghành may nh sản xuất khoá đính, các
loại cúc và ôzê, in dệt nhãn mác. Với thế mạnh năm 2002 đến 2003 Công ty đã
mở rộng thị trờng quốc tế, thị trờng trong nớc, phấn đấu nâng cao tỷ lệ hàng bán
FOB bằng nguồn vật t trong nớc lên 70% tổng doanh thu hàng may mặc, phấn
đấu thu nhập bình quân năm của cán bộ công nhân viên lên 850.000đ/ng-
ời/tháng, phấn đấu hoàn thành vợt mức chỉ tiêu kỹ thuật mà Sở Công Nghiệp
giao cho.
Năm 2004, Công ty đã có một bớc ngoặt quan trọng đó là Công ty đã tiến
hành cổ phần hoá.
Năm 2005, Công ty có số lao động 550 ngời và đạt đợc những kết quả
cao.
Bảng số liệu 2.1 sẽ cho ta thấy trong 2 năm 2004-2005 hoạt động sản
xuất của Công ty Thăng Long đã thu đợc những thắng lợi lớn, mang lại cho
Công ty nhiều nguồn lợi đáng kể và đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân
viên.
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status