Kế toán bán nhóm hàng thiết bị chiếu sáng tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I - Pdf 25

Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Về mặt lý thuyết: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý điều tiết vĩ mô của nhà nước theo
định hướng XHCN như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán
kinh doanh độc lập, tự chủ. Hoạt động của doanh nghiệp đã và đang phát triển
mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tính phức tạp của nó đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả nhằm đứng vững trên
thị trường. Trong đó, bán hàng là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển
không chỉ đối với doanh nghiệp thương mại mà còn đối với sự phát triển của
bất kỳ doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, kế toán
bán hàng là một đòi hỏi mang tính cấp thiết đặc biệt được quan tâm chú trọng
trong công tác kế toán.
Các chuẩn mực kế toán Việt Nam như: VAS 02 “Hàng tồn kho”; VAS
14 “Doanh thu và thu nhập khác”; VAS 21 “Trình bày BCTC”,… đã tạo hành
lang pháp lý quan trọng cho việc hạch toán doanh thu bán hàng, xác định giá
vốn hàng bán và trình bày thông tin trên BCTC. Tuy nhiên, do tính chất phức
tạp việc vận dụng các chuẩn mực vẫn còn những bất cập cần được hưóng dẫn
và hoàn thiện. Ngày 20/3/2006 Bộ Tài Chính đã ban hành chế độ kế toán
doanh nghiệp theo quyết định 15/2006/QĐ/BTC thay thế cho quyết định
1141/2001/QĐ cho thấy sự hoàn thiện từng bước của chế độ kế toán Việt
Nam. Điều này đã thoả mãn và phục vụ tốt yêu cầu của giai đoạn phát triển
kinh tế thị trường, phù hợp cho việc Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới.
Công tác kế toán bán hàng tại doanh nghiệp còn tồn tại không ít sai sót
nghiêm trọng cần khắc phục như ghi nhận doanh thu sai thời điểm; chưa phản
ánh đúng nội dung, kết cấu của tài khoản sử dụng; hệ thống sổ kế toán sử
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B

nhóm hàng thiết bị chiếu sáng tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I”.
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
1.3. Mục tiêu nghiên cứu.
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, em hi vọng sẽ hệ
thống hóa được lý luận về công tác kế toán bán hàng; tìm hiểu kỹ hơn về
chuẩn mực, chế độ kế toán và các quy định khác của Nhà nước có liên quan
đến nghiệp vụ bán hàng.
Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực tiễn công tác kế toán bán hàng tại
công ty và đưa ra những giải pháp thiết thực giúp công ty Cổ phần Khí cụ
điện I tổ chức tốt hơn công tác kế toán bán nhóm hàng thiết bị chiếu sáng, phù
hợp với các quy định của nhà nước cũng như tình hình thực tế của doanh
nghiệp. Từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường,
nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện tốt
nghĩa vụ của mình đối với các cổ đông góp vốn, với người lao động, với Nhà
nước và các đối tượng khác có liên quan.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, quy định về khung kết cấu luận
văn của trường đại học Thương Mại và kiến thức về vấn đề nghiên cứu nên
phạm vi nghiên cứu của đề tài có những giới hạn nhất định.
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về kế toán bán nhóm hàng thiết bị chiếu
sáng.
Không gian nghiên cứu: Tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 3 năm 2011.
1.5. Kết cấu.
Luận văn có kết cấu gồm bốn chương:
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài.

 Chiết khấu thương mại: “Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp
bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”.
 Giảm giá hàng bán: “Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người
mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu”.
 Giá trị hàng bán bị trả lại: “Giá trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối
lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh
toán”.
 Chiết khấu thanh toán: “Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán
giảm tiền cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời
hạn thanh toán của hợp đồng”.
2.1.3. Giá vốn hàng bán.
Theo VAS 02 hàng tồn kho thì giá vốn của hàng hoá tiêu thụ được hiểu
là toàn bộ chi phí thực tế cấu thành nên sản phẩm, hàng hoá và là biểu hiện về
mặt giá trị của thành phẩm, hàng hoá. Đối với các DNTM, giá vốn hàng bán
là trị giá vốn của hàng hóa, các chi phí khác như chi phí hao hụt mất mát của
hàng tồn kho sau khi trừ đi các khoản bồi thường, dự phòng giảm giá hàng
tồn kho phải trích lập trong kỳ.
2.2. Một số lý thuyết về kế toán bán hàng.
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
2.2.1. Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
2.2.1.1. Phương thức bán buôn hàng hóa.
Khái niệm: Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị
thương mại, các doanh nghiệp sản xuất … để thực hiện bán ra hoặc để gia
công chế biến rồi bán.
Đặc điểm: Khi thực hiện phương thức bán buôn hàng hóa, hàng hóa vẫn
nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào tiêu dùng nên giá trị và giá trị sử

hàng tại địa điểm do hai bên đã thỏa thuận. Sau khi giao hàng, đại diện bên
mua sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hóa đã được
chuyển giao cho khách hàng, hàng hóa được xác định là tiêu thụ.
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo phương thức gửi hàng: DNTM nhận hàng
từ nhà cung cấp của mình gửi đi bán cho khách hàng mà không về nhập kho
của doanh nghiệp. Khi khách nhận được hàng sẽ ký vào chứng từ bán hàng,
hàng được xác định là bán, doanh thu được ghi nhận.
2.2.1.2. Phương thức bán lẻ hàng hóa.
Khái niệm: Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho
người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua
về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.
Đặc điểm: Với phương thức bán lẻ thì hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu
thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã
được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ, giá bán
thường ổn định.
Phân loại: Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau:
- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán lẻ trong đó việc thu
tiền ở người mua và việc giao hàng cho người mua tách rời nhau. Theo hình
thức này, mỗi quầy hàng có một nhân viên thu ngân làm nhiệm vụ thu tiền
của khách hàng rồi viết hóa đơn, tích kê giao cho khách hàng để họ đến nhận
hàng ở quầy hàng do mậu dịch viên bán hàng giao. Hết ca hoặc hết ngày, mậu
dịch viên căn cứ vào hóa đơn, tích kê giao cho khách và kết quả kiểm kê hàng
tồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong ngày hoặc trong ca làm việc
làm cơ sở cho việc lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền
và nộp tiền cho thủ quỹ. Với hình thức này, việc mua hàng và thanh toán tách
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán

8
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
2.2.1.3. Phương thức bán hàng đại lý.
Là phương thức bán hàng trong đó DNTM giao hàng cho cơ sở nhận
bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng.
Trong đó, bên có hàng gửi là bên giao đại lý còn bên nhận hàng gửi là
bên nhận đại lý. Thông thường giữa hai bên phải tiến hành ký hợp đồng đại lý
trong đó quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên, tỷ lệ phần trăm
hoa hồng của dịch vụ bán hàng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại
lý vẫn thuộc quyền sử hữu của DNTM, do đó hàng chưa thể xác định là hàng
bán. Sau khi bán được hàng, cơ sở nhận đại lý sẽ lập bảng kê hàng bán gửi
cho doanh nghiệp, đồng thời ghi nhận khoản hoa hồng bán hàng đại lý được
hưởng dựa trên số hàng đã bán và tỷ lệ phần trăm hoa hồng, tiền hàng nợ bên
giao đại lý. Khi đó doanh nghiệp mới được ghi nhận doanh thu.
2.2.1.4. Các phương thức bán hàng khác.
Một số trường hợp xuất hàng khác cũng được xác định là hàng bán
như:
- Xuất hàng hóa để trả lương cho cán bộ công nhân viên: Thực chất đây là
việc doanh nghiệp bán hàng cho nhân viên và thực hiện bù trừ tiền lương.
- Xuất hàng để đổi lấy hàng hóa khác không cùng bản chất (trao đổi hàng hóa
có giá trị, giá trị sử dụng khác nhau).
- Xuất hàng tiêu dùng nội bộ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp hay xuất hàng hóa để khuyến mãi.
2.2.2. Các phương thức thanh toán.
Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, việc xác định hình thức thanh toán,
thời điểm thanh toán có ý nghĩa rất lớn. Một phần nó đảm bảo quyền lợi của
người bán thu tiền được sau khi đã giao hàng, bù đắp được chi phí bỏ ra và
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mặt khác, điều khoản thanh toán còn là
một biện pháp kích thích tiêu thụ, đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển vốn, nâng cao

toán
Phương thức thanh toán trả chậm là một hình thức doanh nghiệp cấp tín
dụng cho các khách hàng của mình (tín dụng thương mại). Độ lớn, thời gian
của khoản tín dụng đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mối quan hệ với
khách hàng; doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm
có thời gian sử dụng lâu dài thường cho phép khách hàng trả chậm trong thời
gian dài hơn với khoản nợ lớn hơn so với các doanh nghiệp có tiềm lực tài
chính hạn chế; đồng thời cũng phụ thuộc vào điều kiện của khách hàng như
sức mạnh tài chính, khả năng thanh toán, tư cách tín dụng. Trong điều kiện
cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu các tiêu chuẩn tín dụng quá cao thì doanh
nghiệp có thể loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng gây khó khăn trong việc
tiêu thụ hàng hóa, nhưng nếu tiêu chuẩn tín dụng quá thấp thì có thể làm tăng
doanh số bán nhưng cũng làm cho rủi ro tín dụng càng cao, gia tăng các
khoản nợ khó đòi, chi phí thu tiền cũng tăng lên. Do đó, doanh nghiệp phải
xác định rõ chính sách tín dụng của mình phù hợp. Đồng thời, khi thực hiện
bán trả chậm đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức theo dõi tốt các khoản nợ về
mặt giá trị, tình hình thanh toán, thời gian thanh toán.
2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán bán hàng trong doanh
nghiệp thương mại.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào không kể là kinh doanh thương mại hay
sản xuất, công tác bán hàng là rất quan trọng và cũng là công cụ cần thiết
phục vụ cho quản lý. Chính vì vậy, thời gian qua đã có nhiều công trình
nghiên cứu về kế toán bán hàng trong DNTM ở những cấp độ nghiên cứu
khác nhau. Dưới đây là một số đề tài em được tham khảo:
Trong bài luận văn “Kế toán bán mặt hàng sữa tại công ty cổ phần sữa
Quốc tế” của sinh viên Vũ Thị Thuỷ lớp 41D2 trường Đại học Thương Mại
do ThS. Nguyễn Thị Hà hướng dẫn đã nêu ra những ưu điểm trong công tác
kế toán bán hàng của doanh nghiệp như chứng từ, tài khoản và sổ kế toán sử
dụng theo đúng biểu mẫu quy định, từng tháng có đóng thành quyển do đó dễ
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh

tiếp trong VAS 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”, VAS 01- “Chuẩn mực
chung” và VAS 02- “Hàng tồn kho”.
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
2.4.1.1. Kế toán bán hàng quy định trong VAS 14 – “Doanh thu và thu nhập
khác”.
* Xác định doanh thu:
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thu đã thu hoặc
sẽ thu được.
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản thu
hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu
thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì
doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản
sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu
theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu
có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự
về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo
ra doanh thu.
- Khi hàng hóa được trao đổi để lấy hàng hóa khác không tương tự thì việc
trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh
thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa nhận về, sau khi điều
chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi
không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì
doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa đem trao đổi, sau

hình thức ghi sổ kế toán, tính đơn giá hàng xuất kho từ đó tính giá vốn hàng
bán.
Thận trọng: Yêu cầu kế toán bán hàng phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, nợ phải thu khó đòi….
* Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: Kế toán bán hàng phải tuân theo
nguyên tắc trung thực, khách quan, kịp thời, đầy đủ và có thể so sánh.
2.4.1.3. Kế toán bán hàng quy định trong VAS 02 - “Hàng tồn kho”:
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
* Nguyên tắc xác định giá vốn hàng bán:
Trị giá hàng bán được tính theo giá gốc theo nguyên tắc giá phí.
Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính
theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm:
Chi phí mua, chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát
sinh để có được hàng hóa ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán.
* Xác định giá vốn hàng bán:
- Phương pháp tính theo giá đích danh
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
(a) Phương pháp tính theo giá đích danh:
Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh nghiệp
có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được, có đơn giá cao.
Khi thực hiện doanh nghiệp phải biết được các đơn vị hàng hóa bán ra thuộc
những lần mua nào và dùng đơn giá của lần mua đó để xác định giá trị hàng
đã xuất trong kỳ.
Ưu điểm: Thuận lợi cho kế toán trong việc tính giá hàng và cho kết quả tính

Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng hóa được mua trước
hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng hóa còn lại cuối kỳ là hàng
tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp
này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời
điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của
hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
Ưu điểm: Hàng tồn kho phản ánh trên bảng cân đối kế toán được đánh giá sát
với giá thực tế tại thời điểm lập báo cáo.
Nhược điểm: Doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại.
(d) Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua
sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là
hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá
trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng,
giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc
gần đầu kỳ còn tồn kho.
Ưu điểm: Thực hiện phương pháp này đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kế
toán và khi giá cả có xu hướng tăng lên thì doanh nghiệp có thể tạm hoãn
trách nhiệm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp do chi phí lúc đó là cao nhất.
Nhược điểm: Khi giá cả hàng hóa có xu hướng tăng lên, nếu doanh nghiệp
chạy theo việc mua hàng hóa nhập kho để tăng giá vốn hàng bán nhằm hoãn
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
16
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Giá gốc hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm

+ Số thuế xuất khẩu, thuế TTĐB của số hàng tiêu thụ.
+ Doanh thu hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán kết
chuyển vào cuối kỳ, kết chuyển xác định kết quả kinh doanh.
Bên có: Doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
TK 511 không có số dư cuối kỳ
TK 632 – “Giá vốn hàng bán”
- Nội dung: Dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ,
bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh
nghiệp xây lắp) bán trong kỳ.
- Kết cấu:
Bên Nợ:
+ Trị giá vốn của hàng hóa đã xuất bán trong kỳ.
+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh lệch giữa số dự phòng
phải lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết).
+ Trị giá hàng hóa hao hụt, mất mát sau khi trừ đi phần cá nhân bồi thường.
Bên Có:
+ Kết chuyển giá vốn của hàng xác định đã bán nhưng bị trả lại.
+ Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (Chênh lệch
giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước)
+ Kết chuyển xác định kết quả kinh doanh vào cuối kỳ.
TK 632 không có số dư cuối kỳ
TK 521 – “Chiết khấu thương mại”
- Nội dung: Dùng để phản ánh khoản chiết khấu thưong mại mà doanh nghiệp
đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua do việc người mua đã mua
hàng với số lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một

Bên có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang tài khoản 511.
TK 131 – “Phải thu của khách hàng”
- Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình
hình thanh toán các khoản phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền
bán hàng.
- Kết cấu:
Bên Nợ:
+ Số tiền phải thu của khách hàng về hàng hóa đã bán trong kỳ.
+ Số tiền thừa trả lại cho khách hàng.
Bên Có:
+ Số tiền khách hàng đã trả nợ.
+ Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng.
+ Khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng sau khi đã giao hàng và khách
hàng có khiếu nại.
+ Doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại (Có thuế GTGT hoặc
không có thuế GTGT).
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
19
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
+ Số tiền chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại cho người mua.
Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng.
Tài khoản này cũng dùng để phản ánh khoản tiền hàng khách hàng ứng
trước với số dư bên có, khi phát sinh khoản ứng trước ghi bên có, trừ tiền
hàng thì ghi bên nợ và có số dư cuối kỳ bên có. Không được bù trừ số dư của
hai loại tài khoản này vào cuối kỳ.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác: TK 111 – “Tiền mặt”,
TK 112 – “Tiền gửi ngân hàng”, TK 333 – “Thuế và các khoản phải nộp nhà
nước”, TK 157 – “Hàng gửi đi bán”, TK 1381 – “Tài sản thiếu chờ xử lý”,

Trong trường hợp đã ghi nhận doanh thu nhưng phát sinh các khoản
giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị
trả lại) kế toán căn cứ vào biên bản có xác nhận của các bên liên quan về số
hàng yêu cầu trả lại hay giảm giá hoặc bảng kê về số hàng đã mua của khách
để ghi tăng các khoản giảm trừ doanh thu, giảm thuế GTGT phải nộp, khoản
phải thu nếu trừ vào công nợ hoặc giảm tiền nếu trả khách hàng bằng tiền vào
các sổ kế toán tương ứng. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển để xác định doanh thu
bán hàng thuần.
* Kế toán bán hàng trả góp:
Kế toán căn cứ vào các chứng từ bán hàng để ghi nhận doanh thu bán
hàng tương ứng với mức giá trả ngay, doanh thu chưa thực hiện (phần chênh
lệch giữa giá bán trả ngay và trả sau sau khi trừ thuế GTGT phải nộp), thuế
GTGT phải nộp tăng số tiền phải thu, số tiền thu lần đầu đồng thời căn cứ vào
phiếu xuất hàng ghi tăng giá vốn hàng bán và giá trị hàng giảm tương ứng.
* Kế toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa:
Hàng ngày hoặc định kỳ, nhận được bảng kê bán lẻ của mậu dịch viên
kế toán xác định doanh thu chưa thuế, thuế GTGT phải nộp của số hàng đã
tiêu thụ, tăng tiền; đồng thời ghi tăng giá vốn hàng bán và giảm giá trị hàng
tồn kho. Trong trường hợp số tiền mậu dịch viên nộp bị lệch với số tiền trên
bảng kê thì tùy từng nguyên nhân kế toán ghi vào các sổ kế toán tương ứng.
* Kế toán nghiệp vụ bán đại lý:
Tại đơn vị giao đại lý: Khi xuất hàng căn cứ vào chứng từ xuất kho hoặc
hóa đơn hàng mua (nếu mua gửi bán thẳng) kế toán ghi tăng giá trị hàng gửi
bán và giảm trị giá hàng tồn kho hay tiền hoặc tăng khoản phải trả người bán.
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
Khi bên nhận đại lý thông báo về số hàng đã bán, kế toán ghi tăng doanh thu,

Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
Trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
Quá trình xử lý nghiệp vụ kế toán bán hàng tương tự trường hợp doanh
nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nhưng giá trị hàng gửi
bán, doanh thu và giá vốn hàng bán được ghi nhận là giá trị đã bao gồm thuế
GTGT. Cuối kỳ xác định số thuế GTGT phải nộp căn cứ vào GTGT của hàng
hóa bán ra trong kỳ và thuế suất thuế GTGT.
 Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
KKĐK:
Kế toán nghiệp vụ bán hàng tương tự phương pháp KKTX nhưng khi
xuất kho hàng bán kế toán chỉ theo dõi về số lượng còn giá vốn hàng bán chỉ
được xác định vào cuối kỳ sau khi tổng hợp được giá trị hàng mua về nhập
kho trong kỳ, hàng mua đang đi đường và giá trị hàng tồn kho vào cuối kỳ sau
khi kiểm kê, khi đó ghi tăng giá vốn hàng bán vào TK 632 đối ứng với giảm
hàng hóa vào TK 611.
2.4.2.4. Sổ kế toán sử dụng:
 Đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung:
* Các loại sổ sử dụng: Sổ Nhật ký chung; sổ cái các tài khoản: TK 511; TK
521, TK 131, TK 632, TK 156; sổ chi tiết công nợ, sổ chi tiết hàng hóa, nhật
ký bán hàng, nhật ký thu tiền.
* Trình tự ghi sổ (Sơ đồ số 01):
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ
ghi sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ
số liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế
toán phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc
ghi sổ Nhật ký chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế
toán chi tiết liên quan. Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng
ngày, căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ
phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên quan; định kỳ hoặc cuối tháng, tuỳ khối

trong tháng (trong quý) kế toán tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từng
tài khoản trên Nhật ký - Sổ Cái. Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải được
khoá sổ để cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối tháng
GVHD: PGS – TS Nguyễn Phú Giang Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh
Lớp: K5 – HK1B
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm
toán
của từng đối tượng. Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảng
tổng hợp chi tiết" cho từng tài khoản. Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết”
được đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và Số dư cuối tháng của
từng tài khoản trên Sổ Nhật ký - Sổ Cái. Số liệu trên Nhật ký - Sổ Cái và trên
“Bảng tổng hợp chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp,
đúng được sử dụng để lập BCTC.
 Đối với hình doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:
* Các loại sổ sử dụng: sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, chứng từ ghi sổ, sổ cái các
tài khoản: TK 511, TK 632, TK 131, TK 156 và sổ chi tiết các tài khoản
tương ứng theo cầu quản lý của doanh nghiệp.
* Trình tự ghi sổ (Sơ đồ số 03):
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợp
chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế
toán lập Chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng ký
Chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào Sổ Cái. Các chứng từ kế toán
sau khi làm căn cứ lập Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán
chi tiết có liên quan.Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của các
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong tháng trên sổ Đăng ký Chứng từ
ghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và Số dư của từng
tài khoản trên Sổ Cái. Căn cứ vào Sổ Cái lập Bảng Cân đối số phát sinh. Sau
khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết
(được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập BCTC. Quan hệ đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status