LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi sự đa dạng và phong phú cả về số
lượng, chất lượng của các loại sản phẩm. Điều đó đặt ra câu hỏi lớn cho các doanh
nghiệp sản xuất là sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? Vì thế các
doanh nghiệp cần phải đặc biệt quan tâm đến khách hàng, nhu cầu và thị hiếu của
khách hàng để sản xuất và cung ứng những sản phẩm phù hợp. Muốn tồn tại và phát
triển, các doanh nghiệp phải bằng mọi cách đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng,
được người tiêu dùng chấp nhận và thu được lợi nhuận nhiều nhất có nghĩa là doanh
nghiệp phải thực hiện tốt công tác bán hàng. Một trong những yếu tố quyết định điều
đó là phải thực hiện tốt công tác hạch toán kế toán nghiệp vụ bán hàng. Hạch toán kế
toán nghiệp vụ bán hàng sẽ cho doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình một cách cụ thể thông qua các chỉ tiêu doanh thu
và kết quả lỗ, lãi. Đồng thời còn cung cấp những thông tin quan trọng giúp cho các
nhà quản lý phân tích, đánh giá, lựa chọn các phương án sản xuất, kinh doanh để đầu
tư vào doanh nghiệp có hiệu quả nhất.
Sau thời gian tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như bộ
máy quản lý của công ty, em nhận thấy rằng kế toán nói chung và kế toán bán hàng
của công ty nói riêng là một bộ phận quan trọng trong việc quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, nên nó luôn đòi hỏi phải được hoàn thiện. Vì vậy em đã
chọn đề tài:
“Kế toán bán nhóm hàng quần áo thời trang tại công ty TNHH thời trang
”
Chuyên đề tốt nghiệp của em gồm ba chương chính:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu về đề tài kế toán bán hàng
Chương II: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán bán nhóm hàng
quần áo thời trang tại công ty TNHH Thời trang ,
Chương III: Kết luận đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế
toán bán nhóm hàng quần áo thời trang tại công ty TNHH thời trang .
1
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Ths. cùng
các cán bộ kế toán trong công ty TNHH Thời trang đã giúp đỡ em hoàn thành
hoạt động kinh tế tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề mà các doanh nghiệp luôn băn
khoăn lo lắng là: “Hoạt động kinh doanh có hiệu quả không? Doanh thu có trang trải
được toàn bộ chi phí bỏ ra hay không? Làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận?”. Thật
vậy, xét về mặt tổng thể các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không những chịu tác
động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động của quy luật cung cầu và quy luật cạnh
tranh, khi sản phẩm của doanh nghiệp được chấp nhận trên thị trường có nghĩa là giá
trị sản phẩm được thực hiện, lúc này doanh nghiệp sẽ thu được một khoản tiền,
khoản tiền này được gọi là doanh thu. Nếu doanh thu đạt được có thể bù đắp toàn bộ
chi phí bất biến và khả biến bỏ ra, thì phần còn lại sau khi bù đắp được gọi là lợi
nhuận. Bất cứ doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng mong muốn lợi nhuận đạt được
là tối đa, để có lợi nhuận thì doanh nghiệp phải có mức doanh thu hợp lí, phần lớn
trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì doanh thu đạt được chủ yếu là do quá
trình tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm. Do đó việc thực hiện hệ thống kế toán về tiêu thụ
sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
5
Công ty TNHH Thời trang được thành lập vào năm 2007, đứng trên thị
trường thời trang được gần hai năm cùng với sự cố gắng, cũng như có những hoạch
định, tổ chức hợp lý công ty đã có chỗ đứng và tạo được dấu ấn trong làng thời trang
Việt Nam. Nhưng cùng với sự khó khăn của nền kinh tế, hiện giờ công ty cũng đang
phải đương đầu với nhiều thách thức và khó khăn đặc biệt là sự cạnh tranh của các
công ty khác, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay sự cạnh tranh đó
ngày càng găy gắt hơn.
1.2.XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI
Kế toán bán hàng là một nội dung chủ yếu của công tác kế toán, nó phản ánh
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ. Với ý nghĩa to lớn đó, kế
toán bán hàng đòi hỏi các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường áp dụng các biện
pháp phù hợp với doanh nghiệp mình mà vẫn khoa học, đúng chế độ kế toán do nhà
nước ban hành.
Để thấy được tầm quan trọng của hệ thống kế toán nói chung và bộ phận kế
thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và
các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở thời điểm và
trạng thái hiện tại
Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp sau:
-Phương pháp tính theo giá đích danh: được áp dụng đối với doanh nghiệp
có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được
-Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này thì giá trị của
từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn
kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất
trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập
một lô hàng về, phụ thuộc và tình hình của doanh nghiệp
-Phương pháp nhập trước, xuất trước: áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn
kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho
còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ.
Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng
7
nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được
tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn
kho
-Phương pháp nhập sau, xuất trước: áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn
kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn
lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương
pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhận sau hoặc
gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu
kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí
sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi
nhận. Tất cả các khoản chênh lệch giữa khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải
lập ở cuối niên độ kế toán năm nay phải lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn
kho đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng
bán hàng doanh nghiệp sử dụng phải thuộc danh mục hệ thống tài khoản kế toán do
Bộ tài chính quy định. Trường hợp doanh nghiệp, công ty cần bổ xung tài khoản cấp
1, cấp 2 hoặc sửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp
hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn
bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.
Về việc lập chứng từ kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên
quan đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng
từ kế toán chỉ lập 1 lần cho 1 nghiệp vụ bán hàng phát sinh. Nội dung chứng từ kế
toán phải đầy đủ các chỉ tiêu, rõ ràng, trung thực với nội dung nghiệp vụ kinh tế bán
hàng phát sinh. Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt, số
tiền phải khớp, đúng với số tiền viết bằng số.
Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên theo quy định cho mỗi chứng từ.
Đối với chứng từ lập nhiều liên phải được lập một lần cho tất cả các liên theo cùng
một nội dung bằng máy tính, máy chữ hoặc viết lồng bằng giấy than. Trường hợp đặc
biệt phải lập nhiều liên nhưng không thể viết 1 lần tất cả các liên chứng từ thì có thể
9
viết 2 lần nhưng phải đảm bảo thống nhất nội dung và tính pháp lý của tất cả các liên
chứng từ.
Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng
từ mới có giá trị thực hiện.
Tất cả các chứng từ kế toán do doanh nghiệp lập hoặc từ bên ngoài chuyển
đến đều phải tập trung vào bộ phận kế toán của doanh nghiệp. Bộ phận kế toán kiểm
tra những chứng từ kế toán đó và chỉ sau khi kiểm tra và xác minh tính pháp lý của
chứng từ thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán.
Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bước sau:
-Lập, tiếp nhận, xử lý chứng từ kế toán
-Kế toán viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toán hoặc trình
giám đốc doanh nghiệp ký duyệt
-Phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán, định khoản và ghi sổ kế toán.
-Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán.
2.1.2.Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ lãnh đạo công ty, các nhân viên kế toán tại
công ty TNHH Thời trang . Gồm: Giám đốc, kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế
toán bán hàng.
Các câu hỏi phỏng vấn được chuẩn bị trước, khi phỏng vấn em sẽ đặt ra câu
hỏi cho người được phỏng vấn, khi người được phỏng vấn trả lời câu hỏi thì em tiến
hành ghi chép lại các câu trả lời đó để làm cơ sở cho việc viết chuyên đề sau này.
11
Phương pháp điều tra trực tiếp giúp cho em có được các thông tin chính xác
nhất, giải đáp các thắc mắc, các vấn đề khó hiểu, tìm hiểu được các nghiệp vụ chi tiết
tại doanh nghiệp. Nó phục vụ cho việc viết chuyên đề được chi tiết và chính xác nhất.
2.2.ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG NHÂN TỐ
MÔI TRƯỜNG ĐẾN KẾ TOÁN BÁN HÀNG
2.2.1.Quá trình hình thành, phát triển, chức năng, nhiệm vụ của công ty
TNHH thời trang
Công ty TNHH thời trang , tên giao dịch quốc tế là Thuy Tien Fashion
Company. Được thành lập vào ngày 22 tháng 8 năm 2007. Người sáng lập công ty là
bà Lý Thị Huyền với số vốn điều lệ là: 1.000.000.000 VNĐ. Công ty TNHH Thời
trang là một trong những doanh nghiệp tư nhân lớn hoạt động sản xuất kinh doanh
trên các lĩnh vực bán buôn, bán lẻ các mặt hàng quần áo, giầy dép thời trang.
Mặc dù mới thành lập được gần hai năm, nhưng công ty đã tạo dựng được một
hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại. Khi mới thành lập công ty chỉ có một cơ
sở duy nhất tại 28- Lương Văn Can – Hàng Đào- Hoàn Kiếm- Hà Nội. Sau gần hai
năm hoạt động và phát triển hiện nay công ty có 1 cơ sở sản xuất và có 8 cửa hàng,
gian hàng trưng bày sản phẩm được phân phối tại các trung tâm của thành phố Hà
Nội.
Với đội ngũ công nhân lành nghề, bán hàng chuyên nghiệp, cùng với những
sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phong cách thời trang công ty đang dần tạo ấn
tượng cũng như đang hình thành chỗ đứng trong thị trường thời trang.
Công ty TNHH Thời trang với hoạt động chính là mua bán, sản xuất, thiết
quản lí kho
Phòng kế toán
tài chính
Phòng kinh
doanh
Phòng kĩ
thuật
Bộ
phận
thiết
kế
Bộ
phận
sản
xuất
Bộ
phận
bán
hàng
Bộ
phận
khai
thác thị
trường
13
Phòng còn có trách nhiệm tổ chức việc bán hàng, kiểm tra việc thực hiện các nội quy
bán hàng của các cửa hàng về giá cả và chất lượng. Vì thế phòng kinh doanh được
chia thành hai bộ phận
Bộ phận bán hàng: Nhiệm vụ tổ chức việc bán hàng, kiểm tra việc thực
hiện các nội quy bán hàng của các cửa hàng về giá cả và chất lượng sản phẩm.
cáo kế toán, báo cáo tài chính theo quy định hiện hành. Các cửa hàng, gian hàng
trưng bày sản phẩm không tổ chức hạch toán riêng, chỉ được bố trí một nhân viên
kinh tế làm nhiệm vụ tập hợp và phân loại các chứng từ theo các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh rồi gửi về phòng kế toán công ty theo định kỳ.
Bộ máy tổ chức kế toán tại công ty TNHH Thời trang như sau:
Kế toán trưởng
Bộ
phận
kế toán
bán
hàng
Bộ
phận
kế toán
mua
hàng
Thủ
quỹ
Bộ
phận
kế toán
hàng
tồn kho
Bộ
phận
kế toán
TSCĐ
Bộ
phận
kế toán