CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN
PHẨM IN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề giải pháp phát triển thương mại các
sản phẩm in.
Ngày nay các sản phẩm in là một trong những mặt hàng không thể thiếu được
trong cuộc sống hiện đại. Có thể nói hiện nay các sản phẩm in đã xuất hiện trong tất
cả các mặt của cuộc sống: từ sách vở, ấn phẩm báo chí, bao bì các sản phẩm và trong
các phương tiện quảng cáo như tờ rơi, cactalog…Các sản phẩm in với chức năng chủ
yếu là làm phương tiện truyền thông tin về sản phẩm đến tay người tiêu dùng; truyền
thông, quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp tới khách hàng, và là sản
phẩm góp phần hoàn thiện cho sản phẩm chính. Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu
của con người không chỉ là những sản phẩm đảm bảo chất lượng tốt mà còn đòi hỏi
sản phẩm có hình thức, mẫu mà đẹp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu về cái đẹp, nét văn
minh hiện đại.
Trong hơn một thập kỷ qua, ở nước ta công nghiệp in luôn là ngành ăn nên làm ra
với doanh thu bình quân tăng trên dưới 15%/năm. Cũng vì thế mà ngành in đã một
thời có sức hấp dẫn to lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Theo Hiệp hội In Việt Nam, chỉ trong chưa đầy 10 năm, nhất là sau khi Luật Doanh
nghiệp có hiệu lực và các quy định về thành lập nhà in được nới lỏng, số công ty in ở
Việt Nam đã tăng tới sáu lần, lên đến hơn 2.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp trong ngành đang gặp phải mối đe dọa từ sự bùng nổ của các sản phẩm công
nghệ thông tin, và mối đe dọa của các doanh nghiệp in ấn chính là sự phát triển của
Internet, viễn thông di động và các dịch vụ giá trị gia tăng của những dịch vụ này.
Trong bối cảnh chúng ta đang tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu,
tình hình cạnh tranh diễn ra khốc liệt ngay cả những sản phẩm trong nước và những
sản phẩm của nước ngoài. Một sản phẩm muốn tồn tại được thì phải phát triển toàn
diện, từ khâu marketing, khâu xúc tiến sản phẩm, đến phát triển thị trường, cạnh tranh.
Với các sản phẩm in ấn cũng không phải là một ngoại lệ trong điều kiện canh tranh
gay gắt như ngày nay, thêm vào đó các phương tiện điện tử ngày càng phát triển thay
thế được cho nhiều hình thức truyền thông cũ thì ngành in cũng như các doanh ngiệp
trong những năm qua chưa tương xứng với tiềm năng? Do đâu thị trường sản phẩm in
mới chỉ tập trung ở khu vực trung tâm địa bàn Hà Nội? Các nhân tố ảnh hưởng tới
phát triển thương mại sản phẩm in là gì? Thực trạng việc phát triển thương mại sản
phẩm in trên địa bàn Hà Nội như thế nào? Đâu là những thành công và những hạn chế
2
cần khắc phục để phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội. Để khắc
phục được những hạn chế kể trên, các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm in nói chung
và công ty CP thiết kế in Bắc Việt nói riêng cần thực hiện những giải pháp gì? Các
câu hỏi đặt ra đồng thời cũng là những vấn đề cần được nghiên cứu trong đề tài “giải
pháp phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội (lấy công ty cổ phần
thiết kế in Bắc Việt làm đơn vị nghiên cứu)”
1.3. Mục đích của luận văn
Về mặt lý luận: hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến việc phát
triển thương mại sản in từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các
giải pháp phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội.
Về mặt thực tiễn: Khảo sát, phân tích thực trạng về phát triển thương mại sản
phẩm in trên địa bàn Hà Nội, qua đó phát hiện những vấn đề cần giải quyết nhằm thúc
đẩy phát triển thương mại sản phẩm này. Từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển
thương mại các sản phẩm in ấn trên địa bàn Hà Nội nói chung và áp dụng trong phát
triển thương mại sản phẩm in của công ty CP thiết kế in Bắc Việt nói riêng.
1.4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Để phù hợp với năng lực, bối cảnh nghiên cứu, đề tài được triển khai thực hiện
ở phạm vi nghiên cứu sau:
Về mặt nội dung: Phát triển thương mại sản phẩm in là một khái niệm với nội
hàm khá rộng, vì vậy luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển
thương mại sản phẩm in trên các khía cạnh mở rộng quy và nâng cao hiệu quả thương
mại, trong đó tập trung vào nhóm các giải pháp thị trường.
Về không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về công ty cổ phần thiết kế in
Bắc Việt và có tham chiếu một số doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm in khác trên địa
bàn Hà Nội (Công ty cổ phần quảng cáo Đông Nam Á, Công ty in mỹ thuật Thăng
dạng, có thể là phục vụ công tác tư tưởng văn hóa, góp phần nâng cao dân trí, hoặc là
những sản phẩm đi kèm nhằm hoàn thiện cho các sản phẩm khác (bao bì sản phẩm,
sách hướng dẫn, catalog, tem nhãn…) nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều hình thức in ấn cũng như có rất nhiều sản
phẩm in khác nhau, các hình thức in trên các chất liệu khác nhau sẽ cho ra các sản
phẩm in đặc thù. Ví dụ như in trên các chất liệu là nhựa, giấy, vải, gốm sứ…Các sản
phẩm in có thể là các loại sản phẩm phục vụ cho những ngành khác nhau như ngành
công nghiệp đóng gói, bao bì, xây dựng, và các sản phẩm mang tính chất thẩm mỹ,
quảng cáo…
Trên thị trường Việt Nam hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào
cung ứng các sản phẩm in ấn, với mảng in trên chất liệu giấy có thể kể đến một số
doanh nghiệp có thương hiệu lớn như : in Hà Nội, in Thăng Long, in Đông Nam Á, in
Bắc Việt …với các sản phẩm chủ đạo có thể kể đến đó là các sản phẩm: lịch độc
5
quyền, lịch phôi, các ấn phẩm báo chí, tạp chí, cactalog, các sản phẩm bao bì hộp giấy,
túi giấy, kẹp file, phong bì thư, tờ rơi…Ngoài ra kể từ khi chúng ta mở cửa thị trường
cũng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài có điều kiện tham gia vào lĩnh
vực kinh doanh các sản phẩm in. Điều này làm tăng tính cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực này.
2.1.2 Phát triển thương mại sản phẩm in
Phát triển thương mại là tất cả các hoạt động của con người tác động theo
hướng tích cực đến lĩnh vực thương mại (cụ thể là tác động đến các hoạt động mua
bán sản phẩm và cung ứng dịch vụ) làm cho lĩnh vực này ngày càng được mở rộng về
quy mô, tăng về chất lượng, nâng cao hiệu quả và phát triển một cách bền vững.
Qua khái niệm trên có thể hiểu: Phát triển thương mại sản phẩm in là một quá
trình bao gồm sự mở rộng về quy mô, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ sản phẩm in một cách ổn
định và bền vững gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu các sản phẩm in và cơ cấu thị trường
tiêu thụ các sản phẩm in một cách hợp lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả thương mại
sản phẩm in, đáp ứng hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội –môi trường, tối đa hóa lợi
ích của khách hàng và hướng tới sự PTTM một cách bền vững.
lớn hơn, đóng góp ngày một nhiều hơn vào thương mại hàng hóa hay xa hơn rộng hơn là
tổng sản phẩm quốc dân, mặt khác cũng phải quan tâm đến việc sử dụng hiệu quả các
nguồn lực về vốn và lao động của sản phẩm in. Bên cạnh đó, hiệu quả thương mại cao cũng
đồng nghĩa với tính bền vững, phát triển thương mại sản phẩm in hướng tới mục tiêu tạo
thêm công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước, nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân, đồng thời bảo vệ môi trường. Hay nói khác đi là phải kết hợp giữa mục tiêu
kinh tế, xã hội và môi trường thì sự phát triển thương mại sản phẩm mới bền vững và lâu
dài không ảnh hưởng đến việc phát triển trong tương lai. Với sản phẩm in ấn ngoài những
lợi ích kinh tế có được do nó mang lại như có tác dụng cung cấp thông tin một cách hữu
hiệu, giúp truyền đạt thông tin tới khách hàng và người tiêu dùng mạnh mẽ hơn…Trong các
sản phẩm in đó cũng chứa đựng những hóa chất độc hại trong nguyên liệu, chất liệu dùng
để tạo ra sản phẩm, vì vậy khi phát triển thương mại sản phẩm in cần thiết phải quan tâm tới
vấn đề bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu những tác dụng không tốt tới sức khỏe con
người.
2.2 Một số lý thuyết về vấn đề phát triển thương mại các sản phẩm in
2.2.1 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại nhóm sản phẩm in
a. Chỉ tiêu về quy mô thương mại sản phẩm in
Khi nói đến khái niệm phát triển, không thể không nhắc đến khía cạnh tăng lên
về quy mô. Chỉ tiêu quy mô thương mại sản phẩm in chính là tổng giá trị của sản
phẩm in do quá trình lưu thông đem lại trong một khoảng thời gian xác định. Đối với
sản phẩm in, hoạt động thương mại của sản phẩm in có phát triển hay không thể hiện ở
7
chỗ quy mô thị trường của sản phẩm in đó có ngày một tăng theo cả chiều rộng lẫn
chiều sâu hay không. Nó được thể hiện bởi số lượng sản phẩm in được tiêu thụ, doanh
thu bán hàng, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ sản phẩm và thị phần của doanh
nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh.
Biểu hiện của sự gia tăng quy mô tiêu thụ sản phẩm in chính là sự tăng lên của
số lượng sản phẩm tiêu thụ. Phát triển thương mại sản phẩm in đồng nghĩa với việc mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh cũng như quy mô tiêu thụ của sản phẩm in. Sự gia
tăng của số lượng hàng hóa tiêu thụ chính là biểu hiện của sự phát triển thương mại
xác sản phẩm in của doanh nghiệp mình có phát triển đạt mục tiêu đề ra hay không, từ
đó đặt ra các chiến lược kinh doanh hợp lý.
Ngoài các nhân tố trên, quy mô thương mại sản phẩm in còn được phản ánh bởi
tỷ lệ thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh hay thị phần của doanh nghiệp. Thị phần
càng lớn chứng tỏ sức mạnh chi phối thị trường của doanh nghiệp.
Dựa vào thị phần của doanh nghiệp ta thể so sánh tỷ lệ phần doanh thu sản
phẩm in của doanh nghiệp so với doanh thu toàn ngành và với các đối thủ cạnh tranh
nhất. Từ đó giúp doanh nghiệp đề xuất được những kế hoạch mở rộng thị phần cho
phù hợp.
Như vậy, khi quy mô thương mại được mở rộng sẽ tạo điều kiện để tăng số
lượng hàng hóa luân chuyển, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm in, đảm bảo được mức
doanh thu, lợi nhuận đặt ra và nâng cao hơn nữa thị phần của doanh nghiệp trên thị
trường từ đó góp phần đẩy mạnh được phát triển thương mại sản phẩm in của doanh
nghiệp trên thị trường.
b. Chỉ tiêu về chất lượng thương mại
Ở đây ta hiểu chất lượng trong phát triển thương mại theo nghĩa rộng. Chỉ tiêu
về chất lượng thương mại được thể hiện bởi sự ổn định của tốc độ tăng trưởng tiêu thụ
sản phẩm in và sự chuyển dịch trong cơ cấu sản phẩm ( cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị
trường và cơ cấu khách hàng)
Sự ổn định của tốc độ phát triển
Tốc độ phát triển thương mại sản phẩm in được đánh giá qua tốc độ tăng trưởng
tiêu thụ sản phẩm in trên thị trường. Thông thường có 2 chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng
9
trưởng tiêu thụ sản phẩm in đó là tốc độ tăng trưởng theo khối lượng tiêu thụ và tốc độ
tăng trưởng theo doanh thu tiêu thụ. Thông qua chỉ tiêu tốc độ phát triển chúng ta có
thể đánh giá được tính đều đặn hay gián đoạn, ổn định hay bất định của thực trạng phát
triển thương mại sản phẩm in trên thị trường. Nếu tốc độ tăng trưởng doanh thu hay
khối lượng sản phẩm in cao và ổn định đó là dấu hiệu tốt chứng tỏ công tác PTTM sản
phẩm in có sự cải thiện về chất lượng, trong trường hợp tốc độ tăng trưởng chậm hoặc
nhanh nhưng không ổn định điều đó thể hiện sự sụt giảm về chất lượng PTTM của các
A
) là tỷ trọng về doanh thu tiêu thụ sản phẩm in (A)
Sự chuyển dịch trong cơ cấu sản phẩm in ấn giúp doanh nghiệp có những định
hướng tốt hơn trong việc phát triển thương mại sản phẩm in nhằm đáp ứng được tốt
hơn những yêu cầu của thị trường, giúp doanh nghiệp chú trọng tới những sản phẩm
chủ lực mà doanh nghiệp có ưu thế trên thị trường. Để phát triển thương mại sản phẩm
in trên thị trường thì tỷ trọng của sản phẩm có hàm lượng chất xám cao sẽ có xu hướng
ngày càng tăng lên và các sản phẩm mang tính thủ công ngày càng giảm xuống. Điều
này không những làm cho lĩnh vực thương mại sản phẩm in ngày càng phát triển mà
còn góp phần nâng cao đời sống người dân do được sử dụng những sản phẩm tiên tiến
của thị trường. Ngoài sự chuyển dịch về cơ cấu sản phẩm in, để đo lường xem xét sự
10
phát triển của thương mại sản phẩm in ta có thể xem xét đến sự chuyển dịch về cơ cấu
khách hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cơ cấu thị trường sản phẩm được thể hiện
qua việc mở rộng sang các thị trường tiềm năng, thị trường có nhu cầu sử dụng các sản
phẩm in cao, thâm nhập và khai thác các thị trường truyền thống, đồng thời thu hẹp
các thị trường không kinh doanh hiệu quả để tập trung vào các thị trường có tiềm năng
cao. Đối với chuyển dịch cơ cấu khách hàng, đây là việc xác định tập khách hàng chủ
lực, phân khúc thị trường theo đối tượng khách hàng nhằm nâng cao chất lượng phát
triển thương mại sản phẩm in của doanh nghiệp.
c. Hiệu quả thương mại:
Hiệu quả thương mại là phạm trù phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra hay nguồn lực sử dụng để đạt kết quả đó. Ở đây, bản chất của
hiệu quả thương mại chính là trình độ sử dụng chi phí hay các nguồn lực để đạt kết
quả theo mục tiêu. Biểu thức chung của hiệu quả thương mại:
H=K/C.
Trong đó:
H là hiệu quả thương mại.
K là kết quả đạt được.
C là chi phí bỏ ra hay nguồn lực sử dụng.
ngày càng có hiệu quả. Mặt khác, lợi nhuận nhiều sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư
hơn sẽ làm cho hoạt động thương mại sản phẩm trở nên sôi động hơn nhưng cũng tạo
ra nhiều khó khăn hơn do tính cạnh tranh trên thị trường trở lên khốc liệt hơn. Tuy
nhiên điều này lại kích thích cho thương mại sản phẩm in phát triển do các doanh
nghiệp kinh doanh sản phẩm in sẽ phải tìm các giải pháp để nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình trên thị trường và cung ứng các sản phẩm tốt nhất cho người tiêu dùng
để khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.
- Hiệu quả sử dụng các nguồn lực thương mại.
Nguồn lực thương mại được hiểu là tất cả các yếu tố tài nguyên thiên nhiên,
vốn, công nghệ và nhân lực là những yếu tố và điều kiện khách quan để tạo ra các yếu
tố và các điều kiện cần thiết đảm bảo hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ
ở phạm vi vi mô đồng thời cũng đảm bảo cho quá trình tổ chức, quản lý hoạt động
thương mại trong nền kinh tế diễn ra trên thị trường một cách liên tục, thông suốt và
ngày càng phát triển.
Quy mô và chất lượng của các nguồn lực thương mại sẽ quyết định đến quy mô
và hiệu quả của hoạt động thương mại. Trình độ huy động và sử dụng các nguồn lực
quyết định đến khả năng CNH-HĐH thương mại, khả năng phát triển thương mại, hơn
nữa còn quyết định đến khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế về kinh tế, thương
mại của quốc gia. Các nguồn lực thương mại bao gồm các nguồn lực tự nhiên, nguồn
lực lao động, nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại, nguồn
lực thông tin…Các nguồn lực thương mại có ý hết sức quan trọng đến sự phát triển
thương mại các sản phẩm in do đó phải biết cách kết hợp, sử dụng chúng sao cho hợp
lý đem lại hiệu quả tối ưu nhất cho các doanh nghiệp.
Gọi : H
v
là hiệu quả sử dụng vốn.
12
Π là lợi nhuận của các doanh nghiệp in.
V là vốn kinh doanh của các doanh nghiệp in.
Hiệu quả sử dụng vốn: H
cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sinh thái, nguồn nước, không khí, tiếng
ồn, phá huỷ hệ sinh thái, quần thể động thực vật, do vậy thương mại phát triển sản
13
phẩm in cần có sự tham gia của các doanh nghiệp in, hiệp hội in và sự quản lý của Nhà
nước nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế bền vững. Như vậy phát triển thương
mại sản phẩm in bền vững phải kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế xã hội và môi trường.
2.2.2. Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm in
a.Nhóm nhân tố thuộc về thị trường
Các nhân tố thuộc về thị trường ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm
in trên thị trường Hà Nội bao gồm:
- Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm in: Sở thích thị hiếu
của người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến cầu sản phẩm in trên thị trường. Sở thích thị
hiếu của người tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào tập tính tiêu dùng, vào thu nhập, vào
quan điểm của mỗi người. Với các sản phẩm in như lịch Tết, sách báo, tạp chí…
Những sản phẩm càng có hình thức, mẫu mã ưa nhìn sẽ khiến người tiêu dùng ưu tiên
chọn lựa sản phẩm. Các sản phẩm in được bán trên thị trường càng phù hợp với sở
thích và thị hiếu bao nhiêu thì càng được ưa chuộng bấy nhiêu, qua đó sức mua sẽ tăng
lên thúc đẩy thương mại sản phẩm in phát triển hơn. Sản phẩm in ấn là những sản
phẩm rất đặc thù, cầu về sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến cung sản phẩm. Do đó
kích thích được cầu sản phẩm sẽ có tác dụng rất lớn đến việc phát triển thương mại về
các sản phẩm in.
- Quy mô cơ cấu thị trường sản phẩm in: quy mô cơ cấu thị trường sản phẩm in
là các nhân tố xuất phát từ phía cung sản phẩm in. Nhân tố này quy định các sản phẩm
in được bán trên thị trường, mẫu mã, chủng loại, đồng thời nói về sự chiếm lĩnh của
hàng hóa, sản phẩm trên thị trường so với các loại khác, thể hiện thị phần độc chiếm
lớn hay nhỏ.
- Cạnh tranh trên thị trường: Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường, nó
là động lực để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển. Các đối thủ khi tham
gia cạnh tranh phải có nhận thức đúng đắn về cạnh tranh, phải tuân thủ nguyên tắc
cạnh tranh lành mạnh từ đó phát huy nội lực, nâng cao chất lượng, mẫu mã, sản phẩm
Điều này khiến các doanh nghiệp khó khăn hơn trong việc thu hồi vốn, kinh doanh
không hiệu quả. Như vậy giá bán quá cao sẽ làm giảm qua mô và hiệu quả thương mại
sản phẩm in.
Chất lượng sản phẩm in do sản xuất tạo ra, các doanh nghiệp in có xu hướng
tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày một tốt hơn, nhiều tính năng hơn. Và chất
lượng sản phẩm in có ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, chất lượng
sản phẩm in tốt, cầu sản phẩm in sẽ cao hơn, lúc đầu làm tăng quy mô thương mại, sau
đó làm chuyển dịch cơ cấu thương mại và đồng thời cũng làm tăng hiệu quả thương
mại và ngược lại.
15
Mạng lưới phân phối sản phẩm in là toàn bộ các kênh doanh nghiệp thiết lập và
sử dụng trong phân phối sản phẩm. Mạng lưới phân phối sản phẩm in càng rộng khắp
thì sản phẩm in sẽ nhanh đến tay người tiêu dùng và tiếp xúc được gần khách hàng
hàng hơn. Ngoài ra, trên thị trường ngày càng phát triển hơn thì nhân tố ảnh hưởng tới
phát triển thương mại sản phẩm in còn phải đề cập đến vấn đề về thương hiệu. Thương
hiệu khẳng định uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Có rất nhiều sản phẩm được
ưa chuộng nhờ vào thương hiệu của mình vì vậy phát triển thương hiệu cũng là yếu tố
ảnh hưởng đồng thời kích thích phát triển thương mại sản phẩm in.
c. Nhân tố về luật pháp:
Luật pháp là một khung các nguyên tắc và luật lệ do xã hội quy định để điều tiết
các hành vi của các thành viên trong xã hội trong đó có các hoạt động thương mại.
Luật pháp liên quan đến các hoạt động trao đổi, buôn bán bao gồm các bộ luật về
thương mại, luật doanh nghiệp thương mại và các bộ luật khác có liên quan đến phát
triển thương mại của doanh nghiệp như: luật khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi
trường, cấm tiêu thụ hàng trái phép, hàng nhái Các hoạt động thương mại không
ngừng vận động và phát triển vì thế luật pháp cũng không ngừng phát triển và hoàn
thiện. Nội dung của luật pháp không rõ ràng, chậm ban hành thông tư hướng dẫn thực
hiện Sẽ gây đình trệ cho việc phát triển thương mại sản phẩm của bất kỳ doanh
nghiệp in nào. Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển và tiến bộ của khoa học diễn
ra nhanh chóng nên việc vi phạm bản quyền diễn ra khá phổ biến nhất là đối với các
thể kể đến một số công trình điển hình như sau:
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung (2004) với đề tài: Giải pháp đẩy mạnh tiêu
thụ sản phẩm in của công ty in Hà Giang. Luận văn tốt nghiệp, Đại học Kinh tế Quốc Dân.
- Đề tài nghiên cứu việc phát triển tiêu thụ sản phẩm in của công ty in Hà Giang, thông
qua nghiên cứu về thực trạng hoạt đông kinh doanh của công ty, tác giả đưa ra giải
pháp Maketing để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của công ty. Ví dụ như chính sách về
giá cả, khuyến mãi, kênh phân phối…
Tác giả : Bùi Minh Tâm (2009) với đề tài ‘‘Kinh doanh vật tư Nhập khẩu của
công ty cổ phần XNK ngành in SIC’’ . Thể loại : chuyên đề tốt nghiệp. Đại học kinh tế
Quốc Dân. Đề tài chú trọng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh nhập khẩu vật tư phục vụ cho ngành công nghiệp in và đưa ra các giải pháp
nhằm thực hiện tốt hơn nữa hoạt động kinh doanh vật tư nhập khẩu nhằm cung ứng
nguồn hàng cho các doanh nghiệp sản xuất trong ngành in trong nước.
Tác giả Nguyễn Thái Dũng (2008) với đề tài: ‘‘ Giải pháp phát triển nguồn
nhân lực cho ngành in’’.Thể loại tạp trí chuyên ngành. Công trình nghiên cứu thực
trạng nguồn nhân lực hoạt động trong ngành in, chỉ ra được những hạn chế cũng như
17
tiềm năng khai thác nguồn nhân lực phục vụ cho ngành in, từ đó đưa ra những giải
pháp phát triển nguồn nhân lực cho ngành.
Tác giả : TS Bùi Doãn Nề (2008) với bài viết : ‘‘ Doanh nghiệp in Việt Nam
đầu tư hay thu hẹp quy mô sản xuất’’. Thể loại tạp chí chuyên ngành.
Bài viết phân tích thực trạng chung của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2007 – 2008, tác giả đưa ra những luận điểm nói về
nguyên nhân gây ra khó khăn chung rất thuyết phục và đưa ra một số giải pháp nhằm
thúc đẩy ngành in phát triển theo chiều sâu và hiệu quả.
Qua tìm hiểu cho thấy có một sự khác biệt lớn giữa những đề tài, bài viết trên
với đề tài “ Giải pháp phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội (lấy công
ty cổ phần thiết kế in Bắc Việt làm đơn vị nghiêp cứu)”. Thể hiện ở góc độ và cách
tiếp cận vấn đề, cụ thể là nghiên cứu về phát triển thương mại sản phẩm ở góc độ vĩ
mô tiếp cận theo quan điểm của kinh tế thương mại, bằng việc tìm hiểu thực tiễn tại
Trong đó phân tích cụ thể thực trạng phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn
Hà Nội và của công ty CP thiết kế in Bắc Việt.
Nội dung này được trình bày trong chương III của luận văn. Trên cơ sở phân
tích ở chương III:
Kết luận ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
trong việc phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội của công ty cổ phần
thiết kế in Bắc Việt. Trong đó phát hiện ra một số nội dung cần được giải quyết như:
sự thiếu ổn định trong tốc độ tăng trưởng, công tác nghiên cứu thị trường và đối thủ
cạnh tranh còn chưa được chú trọng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua
chất lượng và giá cả sản phẩm…
Đề ra những giải pháp để phát triển thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà
Nội (gồm các giải pháp vi mô và vĩ mô), đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản
phẩm in nói chung và công ty CP thiết kế in Bắc Việt nói riêng.
Các giải pháp tập trung vào các vấn đề như: Đẩy mạnh công tác thị trường, nâng cao
chất lượng sản phẩm phấn đấu hạ giá thành, tăng cường công tác tổ chức và quản lý
mạng lưới tiêu thụ, đổi mới máy móc thiết bị đầu tư vào công nghệ hiện đại, phát triển
nguồn nhân lực cho ngành in…Nội dung này sẽ được trình bày trong chương IV của
luận văn.
19
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM IN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Bất kỳ một công trình nghiên cứu nào cũng có những phương pháp nghiên cứu
riêng và tùy theo đối tượng nghiên cứu sẽ sử dụng và kết hợp phương pháp khác nhau
nào làm trọng điểm. Thực hiện đề tài “ giải pháp phát triển thương mại sản phẩm in
trên địa bàn Hà Nội (lấy công ty CP thiết kế in Bắc Việt làm đơn vị nghiên cứu) ” đã
sử dụng đến các phương pháp sau:
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
a. Phương pháp phiếu điều tra trắc nghiệm
luận văn này.
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các số liệu liên quan đến tình hình
phát triển thương mại sản phẩm in về mặt quy mô, các chỉ tiêu về hiệu quả và chất
lượng… Được sử dụng trong phần 3.4 của luận văn.
3.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
a.Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách
dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở. Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp
về yếu tố không gian, thời gian cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường và phương
pháp tính toán. Có hai hình thức là so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối.
Với các dữ liệu đã thu thập được như doanh thu, lợi nhuận, nguồn vốn kinh
doanh, cơ cấu sản phẩm in, giá cả các sản phẩm, có thể vận dụng phương pháp so sánh
để đối chiếu giữa các năm với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp từ 2006 đến 2010. Kết
quả so sánh sẽ cho ta biết được mức tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của công ty qua
các năm nghiên cứu, sự thay đổi giá cả và cơ cấu mặt hàng tiêu thụ, tốc độ và tỷ suất
lợi nhuận cũng như hiệu quả sử dụng các nguồn lưc để từ đó giúp doanh nghiệp có
phương hướng kinh doanh phù hợp với điều kiện biến đổi của thị trường.
b. Phương pháp chỉ số
Sử dụng các chỉ số để đánh giá được sự tăng lên hay giảm xuống, tỷ trọng, thị
phần của việc tiêu thụ sản phẩm in của các công ty nghiên cứu trên thị trường Hà Nội
về mặt qui mô trong giai đoạn 2006-2010 qua đó đánh giá được các vấn đề phát triển
21
thương mại trong hiện tại, và dự báo xu hướng phát triển thương mại sản phẩm này
trong tương lai.
3.1.3 Phương pháp khác
Có thể sử dụng các đồ thị, biểu đồ, biểu hình hoặc các mô hình, phần mềm
chuyên dụng bằng máy tính và công nghệ thông tin để phân tích đánh giá các vấn đề
thực trạng và dự báo trong tương lai về thương mại sản phẩm in trên địa bàn Hà Nội.
Những phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong phần 3.4 của luận văn.
3.2 Đánh giá tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến việc phát triển
duy trì và đòi hỏi ngày một cao hơn về chất lượng, màu sắc và mẫu mã. Mảng in lớn
nhất hiện nay vẫn là in nhãn hàng và bao bì. Loại sản phẩm này phát triển theo sự tăng
trưởng của các nghành công nghiệp khác, đặc biệt trong nghành công nghiệp chế biến.
Năm 2010, GDP cả nước tăng 6.78%, trong đó công nghiệp tăng không quá 10%, theo
đó ngành in nhãn hàng và bao bì phục vụ cho các nghành công nghiệp trên địa bàn Hà
Nội cũng tăng trong khoảng 10%. Đó cũng là đối tượng lớn nhất và tiềm năng lâu dài
của ngành công nghiệp in cũng như các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm in trên thị
trường Hà Nội ngày nay. Mảng in có tỷ lệ tăng trưởng tốt tiếp theo xét trên thị trường
Hà Nội là các loại catalogue, tờ rơi, các loại chứng từ, hóa đơn, thẻ cào vv…đang ngày
một lớn theo sự phát triển của nền kinh tế, của hệ thống các doanh nghiệp và các loại
dịch vụ.
Trên thị trường Hà Nội hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp đang tham gia
vào cung ứng các sản phẩm in trên chất liệu giấy. Về mặt cơ cấu thị trường, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước chiếm khoảng 20% trong tổng số 350 doanh
nghiệp tham gia cung ứng sản phẩm trên thị trường, còn lại là số các doanh nghiệp tư
nhân, công ty cổ phần, công ty liên doanh…. Mức tăng trưởng hàng năm của các
doanh nghiệp trên địa bàn đạt khoảng 20% cao hơn so với mức tăng trưởng của toàn
ngành là 15%. Bên cạnh các doanh nghiệp in truyền thống thì các doanh nghiệp in tư
nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường vẫn tiếp tục tăng, trong
tổng số hơn 350 doanh nghiệp tham gia hoạt động cung ứng sản phẩm in trên địa bàn,
năm 2008, sản lượng tiêu thụ đem lại doanh thu khoảng 5.302,7 tỷ đồng, đáp ứng
khoảng 85% nhu cầu tiêu thụ trên địa bàn Hà Nội, năm 2009 tổng doanh thu tiêu thụ
khoảng 5.567,83 tỷ đồng tăng 5% so với năm 2008 và đáp ứng được 90% nhu cầu thị
trường. Năm 2010 doanh thu tiêu thụ đạt 6068,93 tỷ đồng tăng gần 9% so với năm 2009.
23
- Về hiệu quả thương mại : Đóng góp vào GDP và tạo công ăn việc làm cho xã
hội.Theo thống kê chưa đầy đủ của hiệp hội in Việt Nam, hiện nay trên địa bàn Hà Nội
có khoảng trên 350 doanh nghiệp in (bình quân tăng từ 10% một năm giai đoạn từ
1995-2010). Trong đó nhân lực nghành có khoảng 20.000 người, so với năm 2008 con
số này vào 11.000 người, trong đó chỉ có 80% số đó là công nhân lao động trực tiếp,
+ In lịch tết, in lịch độc quyền, lịch phôi
+ In tem bảo hành, nhãn mác quần áo, in delcan.
+ Các ấn phẩm in từ giấy khác…
b, Khái quát về tình hình phát triển thương mại sản phẩm in của công ty CP
thiết kế in Bắc Việt.
Trải qua hơn 9 năm hình thành và phát triển với tinh thần làm việc không mệt
mỏi của đội ngũ nhân viên, công ty đã trở thành nhà in hàng đầu tại các tỉnh phía Bắc,
là một trong số ít các doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá cao tại hội trợ nghành
công nghiệp in tổ chức tại Trung Quốc. Năm 2002 khi mới thành lập, công ty chỉ có
20 công nhân viên, sau gần 10 năm hoạt động tới nay công ty có 84 nhân viên làm việc
ở các bộ phận khác nhau. Công ty in BẮC VIỆT tiền thân là một xưởng in được gây
dựng từ những con người có kinh nghiệm lâu năm trong ngành in và hơn cả là lòng
yêu nghề, mong muốn cho ra những sản phẩm in ấn tốt nhất tới Khách Hàng. Trải qua
một thời gian dài gây dựng và phát triển, in BẮC VIỆT đã gặt hái được nhiều thành
công và dần trở thành nhà in tin cậy của nhiều khách hàng trong cả nước. Trong suốt
quá trình hoạt động kinh doanh của mình, công ty luôn coi việc phục vụ chu đáo khách
hàng là nhiệm vụ hàng đầu và luôn chấp hành các quy định và nghĩa vụ đóng thuế với
nhà nước đúng thời hạn và quy định. Doanh thu của công ty liên tục tăng qua các năm,
mặc dù công ty đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu tham gia vào thị
trường kinh doanh sản phẩm in. Những khó khăn ban đầu có thể kể đến như thiếu vốn
đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại, trình độ quản lý và đội ngũ nhân lực còn non
trẻ. Trong những năm gần đây giai đoạn từ năm 2006 đên 2010 doanh thu của công ty
luôn tăng qua các năm, lợi nhuận sau thuế luôn dương. Hàng năm thu nhập bình quân
cho cán bộ công nhân viên trong công ty đạt khoảng 50 triệu đồng/người/ năm. Cơ cấu
sản phẩm của công ty cũng có những biến chuyển mạnh mẽ để đáp ứng xu thế của thị
trường. Ngoài mặt hàng lịch Tết có tính chất thời điểm vào giai đoạn cuối năm (chiếm
khoảng 25% doanh thu về tiêu thụ sản phẩm), các sản phẩm của công ty cũng có
25