Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực, xuất phát từ nguồn tài
liệu có chọn lọc, uy tín.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2011
Sinh viên
Trần Ngọc Trang.
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
1
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
2
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT TÊN BẢNG
Trang
01 Zimbawe Inflation rate
02 Lạm phát do cầu kéo
03 Lạm phát do chi phí đẩy
04 Lạm phát giai đoạn 1995-2007
05 Biểu đồ so sánh lạm phát 1995-2005
06 Một số chỉ tiêu căn bản của nền kinh tế Việt Nam
07 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực của VN từ năm
2001
08 Một số chỉ tiêu vĩ mô của Việt Nam, 2002-2006
09 Bảng thể hiện chỉ số CPI và chênh lệch so với tháng
trước trong năm 2008
10 Biểu đồ diễn biến CPI năm 2009
11 Diễn biến giá tiêu dùng trong năm 2010
kinh tế vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn ở mức cao và chưa trở vể mức khi chưa
có lạm phát. Và tới thời điểm hiện nay, năm 2011, lạm phát đang là điểm
nóng được đem ra bàn luận trên các trang báo, diễn đàn kinh tế ở Việt Nam.
Giá xăng, giá nhà, giá các mặt hàng tiêu dùng… tăng tới chóng mặt trong
những tháng đầu năm 2011 vừa qua đã và sẽ luôn là một vấn đề cần quan tâm
của mọi người dân Việt Nam. Và nếu như chúng ta không có một biện pháp
kiềm chế lạm phát hiệu quả, thì chắc chắn tình cảnh lạm phát ba con số
(1981-1988) sẽ quay trở lại.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài: “ Lạm phát và thực trạng
kiềm chế lạm pháp ở Việt Nam, giai đoạn 1995-2011” . Đề tài là một sự sâu
chuỗi về các giai đoạn lạm phát ở Việt Nam với những thành công và thất bại
trong công cuộc chống lạm phát giai đoạn 1995-2011; để từ đó các nhà làm
chính sách, các nhà lãnh đạo có thể hoạch định ra một đường lối đúng đắn
nhất đưa đất nước vượt qua cơn bão lạm phát.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa ngân hàng
Học viện ngân hàng, các anh/chị trong ngân hàng Agribank chi nhánh Cầu
Giấy đã chia sẻ và chỉ dạy để tác giả có thêm những kiến thức bổ ích hoàn
thiện đề tài này. Xin chân thành cảm ơn.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài: Lạm phát và thực trạng kiềm chế lạm phát ở Việt Nam tổng
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
5
Chuyên đề tốt nghiệp
hợp các biện phát kiềm chế lạm phát cửa nước ta trong giai đoạn 1995-2011,
nhằm đưa ra những hướng đi đúng đắn giúp Việt Nạm vượt qua cơn bão lạm
phát trong thời điểm hiện tại.
3. Những đóng góp mới của đề tài.
Đề tài đưa ra nhằm mục đích hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về
lạm phát và các phạm trù liên quan đến lạm phát để giúp người đọc có cái
nhìn tổng quan nhất về lạm phát. Bên cạnh đó, đề tài trình bày một cách
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1. Khái niệm.
1.1. Một số vấn đề về lạm phát:
1.1.1. Thế nào là lạm phát?
Lạm phát dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu
hết các hàng hóa, dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó trong một
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
7
Chuyên đề tốt nghiệp
thời gian nhất định. Tức là khi giá trị của hàng hóa dịch vụ tăng lên
đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi cùng với một số tiền
nhất định. Có thể nói lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá.
Nói một cách cụ thể hơn , lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của
đồng tiền. Giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số
lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một
giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.
Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi mức giá chung và được tính theo công thức:
1.1.2. Đo lường lạm phát bằng cách nào ?
Mức giá chung của nền kinh tế được nhìn nhận theo 2 cách. Chúng ta
coi mức giá là giá của một giỏ hàng hóa và dịch vụ. Khi mức giá tăng mọi
người phải trả nhiều tiền hơn cho những hàng hóa dịch vụ mà họ mua. Chúng
ta có thể coi mức giá cũng như là giá trị của tiền. Sự gia tăng mức giá có
nghĩa là giá trị của tiền giảm bởi vì mỗi đồng tiền bỏ ra lúc này mua được ít
hàng hóa hơn trước.
Mức giá chung được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số
điều chỉnh (GDP). Chỉ số giá bao gồm một số loại như sau:
• Chỉ số giá bán lẻ - CPI – Consumer Price Index
• Chỉ số giá bán buôn – WPI - Wholesale Price Index
• Chỉ số giá sản xuất – PPI – Producer Price Index,
định tính.
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
9
∑
QoPt.
∑
QoPo.
x 100
Chuyên đề tốt nghiệp
Về mặt định lượng: lạm phát thể hiện những mức đô nghiêm trong
khác nhau và dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm phát được tính trong năm, phân
theo cách này thì lạm phát có các loại sau:
Lạm phát vừa phải – Mild inflation : được đặc trưng bằng giá cả
tăng chậm và có thể dự đoán được,là loại lạm phát ở mức một con
số - dưới 10%/năm. Loại lạm phát này được xem là là tích cực và
cần thiết vì nó có khả năng tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
Lạm phát phi mã – Galloping inflation :Là loại lạm phát ở mức hai
đến ba con số ( tỷ lệ tăng giá trên 10% đến <100%), từ 10% 100%
900% một năm. Loại lạm phát này tác động tiêu cực đến nền kinh
tế, với những hậu quả cực kỳ khó khăn cho đời sống kinh tế, xã hội,
chính trị trong nước.
Siêu lạm phát – Hyper inflation : Là loại lạm phát 4 con số, tỳ lệ
tăng giá từ 1000 %/năm trở lên. Đồng tiền gần như mất giá hoàn
toàn. Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn
làm được chức năng trao đổi. Đây thực sự là một giai đoạn cực kỳ
hỗn loạn, bất ổn định kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Những ví
dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức những năm
đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng,
có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ, đạt cực điểm
lên đến 10.000.000.000%, Hungary sau Thế chiến II với tỉ lệ lạm
cường độ cũng như mức độ tác động.
Lạm phát cao và lạm phát thấp – High inflation and Low inflation:
Theo quan điểm của Gary Smith thì lạm phát cao là mức lạm phát mà
tỷ lệ tăng thu nhập tăng thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Ngược lại lạm phát
thấp là mức tăng thu nhập tăng tăng cao hơn mức độ tăng của tỷ lệ
lạm phát.
3. Nguyên nhân của lạm phát.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, Phân loại theo
nguyên nhân của lạm phát chúng ta có các loại lạm phát sau:
Lạm phát do cầu kéo – Demand pull inflation : Nguyên nhân này
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
12
SAS
AD
1
AD
0
P
P
P
0
Y
p
Y
1
Y
LAS
Chuyên đề tốt nghiệp
xảy ra khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng cung trong
cùng thời điểm đó. Trường hợp này xuất hiện có thể là do tổng
cho sản xuất tăng giá. Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi
nhiều chi phí hơn; thiên tai, mất mùa, lụt bão, động đất… làm giảm
năng lực sản xuất; khủng hoảng ngành dầu mỏ do các liên minh dầu
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
13
Chuyên đề tốt nghiệp
mỏ tăng giá hoặc chiến tranh vùng vịnh làm tăng giá, giá dầu tăng
làm tăng chi phí trong ngành năng lượng, từ đó làm tăng chi phí đầu
vào trong các ngành khác. Các chi phí sản xuất tăng làm tăng giá
thành sản phẩm và buộc doanh nghiệp tăng giá bán để bù đắp chi
phí. Giá bán tăng - tạo lạm phát. Nhưng mặt khác giá bán tăng, theo
quy luật cung cầu sẽ làm tổng cầu giảm xuống, các doanh nghiệp sẽ
cắt giảm sản xuất hoặc sa thải nhân công. Hậu quả dẫn đến cho nền
kinh tế lúc này là vừa có lạm phát lại vừa bị suy thoái, tỉ lệ thất
nghiệp tăng cao. Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức vừa phải là một
điều kiện rất tốt cho nền kinh tế, nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản
xuất. Nhưng lạm phát do chi phí đẩy thì dù bất kỳ mức độ nào cũng
đều không tốt, vì bản thân nó đã mang trong mình sự suy thoái kinh
tế. Do vậy nó còn được gọi là lạm phát đình trệ.
→ Về việc khi nền Kinh tế xảy ra cùng lúc 2 nguyên nhân gây ra lạm
phát, lạm phát cầu kéo & lạm phát chi phí đẩy:
Trong thực tế 2 loại lạm phát có thể xảy ra cùng 1 lúc. Nếu đường cầu
dịch chuyển sang phải kết hợp đường cung dịch sang trái hay lên trên thì giá
tăng, sản lượng có thể, giảm hoặc không đổi tùy theo mức độ dịch chuyển của
2 đường. Đối với lạm phát do cầu kéo, ta kiềm chế lại bằng cách CP rút tiền
bớt ra khỏi nên Kinh tế, NHTƯ giảm lượng cung tiền (MS), CP giảm chi tiêu
(giảm G). Còn loại lạm phát do chi phí đẩy, CP kiềm chế bằng cách áp dụng
CS tài khóa và tiền tệ mở rộng nhằm đưa sản lượng nên Kinh tế về mức sản
lượng tiềm năng (YP). Còn tùy trường hợp cụ thể, bằng cách xem xét tổng thể
nền Kinh tế bị loại lạm phát nào nặng hơn để đưa ra CS kiềm chế lạm phát
cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp
hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân
bằng.
Lạm phát do nhập khẩu: Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán
sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá
chung bị giá nhập khẩu đội lên.
Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng do:
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
15
Chuyên đề tốt nghiệp
NHTƯ mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi
mất giá so với ngoại tệ.
NHTƯ mua công trái theo yêu cầu của nhà nước
Quản lý tiền mặt kém hiệu quả
Chi tiêu ngân sách ngày càng lớn
Sức hút của thị trường chứng khoán
Tâm lý hoang mang của người dân trước giá cả của thị trường
tăng cao ( mua vàng hay ngoại tệ dự trữ….)
Tất cả nguyên nhân trên làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên
gây ra lạm phát.
Lạm phát đẻ ra lạm phát: khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự
tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy
mạnh tiêu dùng hiện tại. tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung gây ra lạm
phát.
4. Tác động của lạm phát.
4.1. Tác động tiêu cực.
4.1.1. Lạm phát dự kiến được
Chi phí mòn giày: vì lạm phát làm xói mòn giá trị thực tế mà chúng ta
nắm giữ nên để tránh sự mất giá của đồng tiền mọi người sẽ giữ ít tiền
trong ví của mình hơn, tức là gửi tài sản dưới dạng tiền gởi ngân hàng.
kiệm.
Thuế thu nhập đánh vào lãi suất danh nghĩa thu được từ những khoản
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
17
Chuyên đề tốt nghiệp
tiết kiệm, mặc dù một phần lãi suất danh nghĩa chỉ đơn thuần là bù lạm phát.
Để xem xét lạm phát, chúng ta chú ý đến ví dụ bằng số sau:
Nền kinh tế 1
(giá ổn định)
Nền kinh tế 2
(lạm phát)
1. Lãi suất thực tế
2. Tỷ lệ lạm phát
3. Lãi suất danh nghĩa (Lãi suất
thực tế + Tỷ lệ lạm phát)
4. Lãi suất giảm do thuế suất
25% (0.25 x Lãi suất danh
nghĩa)
5. Lãi suất danh nghĩa sau thuế
(0.75 x Lãi suất danh nghĩa)
6. Lãi suất thực tế sau thuế
(Lãi suất danh nghĩa sau thuế
x Tỷ lệ lạm phát)
4%
0
4
1
3
3
4%
cũng hiểu khi giá cả trong nền kinh tế tăng lên điều đó có nghĩa là thu
nhập thực tế của những người có thu nhập cố định hay ít thay đổi như
quân nhân, cán bộ hưu trí, lương của cán bộ công nhân viên trong cơ quan
hành chính nhà nước giảm xuống.
Thứ hai, là làm môi trường kinh tế rối ren. Lạm phát quá cao tức là ở
mức trên 20%/năm, là nơi tiềm ẩn và chứa đựng các mầm mống có khả
năng đe dọa đến tiến trình phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong một
nền kinh tế mà giá cả tăng lên liên tục và tăng ở mức cao thì thật là một
môi trường kinh tế đầy bát nháo.
Thứ ba, là các chính sách về kinh tế xã hội tài chính tiền tệ tín dụng rất
khó định hướng thực hiện, và cũng có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong
lĩnh vực tài chính tiền tệ tín dụng thông qua các vấn đề lãi suất thực, lãi
suất danh nghĩa, cung tiền, vay nợ Ngoài ra,lạm phát xảy ra còn là môi
trường tốt để những hiện tượng tiêu cực trong đời sống phát sinh như đầu
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
19
Chuyên đề tốt nghiệp
cơ, tích trữ gây cung hàng hóa giả tạo.
Thứ tư, tác hại đặc biệt của lạm phát không dự kiến là tái phân phối của
cải một cách tùy tiện, lạm phát bất ngờ phân phối lại của cải giữa các
thành viên trong xã hội không theo công lao và nhu cầu của họ. Sự phân
phối này xảy ra vì trong nền kinh tế có rất nhiều khoản vay được tính toán
bằng đơn vị tính là tiền. Khi giá cả thay đổi không đoán trước được nó sẽ
phân phối lại của cải giữa người đi vay và người cho vay. Nếu lạm phát
có thể dự đoán trước được thì người đi vay và người cho vay đã tính đến
lạm phát khi đưa ra lãi suât danh nghĩa.
Trong trường hợp cầu hàng hóa giảm thì tất yếu nền kinh tế rơi vào trạng
thái suy thoái kinh tế. Tại sao giá không tăng hoặc giảm, là vì tổng cung của nền
kinh tế lớn hơn tổng cầu. Cung lớn hơn nên chắc chắn các doanh nghiệp sẽ có
một lượng hàng hóa tồn kho không bán được, phản ứng của doanh nghiệp trong
ảnh hưởng, đều trở thành nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì
mỗi người đều là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi
nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định
nhất về giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng
hoá đã tăng lên gấp nhiều lần.
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền
khiến cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết
kiệm đánh mất của cải nhanh nhất.
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một
món hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
21
Chuyên đề tốt nghiệp
hơn. Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người
sung sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ
gánh hơn.
6. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp.
Hai chỉ báo về tình hình kinh tế được theo dõi chặt chẽ là lạm phát và thất
nghiệp. Hai đại lượng phản ánh tình hình kinh tế này gắn bó vói nhau như
thế nào? Bởi lẽ, như chúng ta đã thấy tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phụ thuộc vào
thuộc tính của thị trường lao động chẳng hạn như luật tiền lương tối thiểu, sức
mạnh thị trường của công đoàn, vai trò cuả tiền lương và hiệu quả của việc tìm
việc làm. Ngược lại,tỷ lệ lạm phát phụ thuôc trước hết vào sự gia tăng cung
tiền,do NHTW kiểm soát. Do đó, trong dài hạn, lạm phát và thất nghiệp không
có mối quan hệ nhiều với nhau. Nhưng trong ngắn hạn thì ngược lại,các nhà
kinh tế học vĩ mô thường cho rằng một trong mười nguyên lý của nền kinh tế
học là: xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp.
Nếu các nhà hoạch định chính sách tiền tệ mở rộng tổng cầu và chuyển nền kinh
tế lên phía trên đường tổng cung ngắn hạn, họ có thể tạm thời cắt giảm thất
phát sẽ trở thành một trong những chính sách lớn trong phát triển kinh tế của
các nước.
Ổn định tiền tệ nói chung và kiềm chế lạm phát nói riêng là việc Nhà
nước áp dụng các biện pháp về kinh tế là tổ chức và kỹ thuật để ổn định sức mua
của đồng tiền tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Như vậy việc áp dụng các biện pháp các biện pháp đó có tính chất chiến
lược cùng các biện pháp cấp bách trước mắt như sau:
8.1. Những biện pháp cơ bản chiến lược
Đây là biện pháp nhằm tác động toàn bộ lên mọi mặt hoạt động của
nềnkinh tế,với ý tưởng tạo ra sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước , một
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
23
Chuyên đề tốt nghiệp
quốc gia có nền kinh tế phát triển tốt và ổn định thì ở đó đồng tiền ổn định khá
vững chắc.Lạm phát ít có cơ hội để phát triển bộc phát.Những biện pháp cơ bản
chiến lược chưa thể phát huy tác dụng ngay , nhưng nếu không áp dụng những
biện pháp đó thì tình trạng lạm phát, tình trạng rối loạn của lưu thông tiền tệ sẽ
xảy ra triền miên không lối thoát. Những biện pháp cơ bản chiến lược có thể
gồm những biện pháp lớn như sau:
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội đúng đắn.
Điều chỉnh cơ cấu kinh tế,phát triển nghành mũi nhọn xuất khẩu.
Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước.
8.2. Những biện pháp cấp bách trước mắt.
Biện pháp này nhằm ổn định tiền tệ và chống đỡ lạm phát được thực hiện
trong hoàn cảnh lạm phát xảy ra nghiêm trọng, cơn sốt lạm phát cao thì sẽ có tác
dụng nhanh chóng hơn.Những biện pháp như vậy được gọi là những biện pháp
tình thế để đói phó với thực trạng báo động của tình hình tiền tệ giá cả.
Biện pháp tiền tệ – tín dụng:
• Quản lý chặt chẽ việc cung ứng tiền,thực hiện chính sách đóng
băng tiền tệ
Thứ nhất ,“Hạn chế tiền tệ” hay kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng.
Thứ hai, “Nới lỏng tiền tệ” hay lấy lạm phát trị lạm phát.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH
SÁCH KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2011
Có thể nói rằng lạm phát vừa là một phạm trù kinh tế khách quan, vừa là một
công cụ kinh tế được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế, vì việc phân phối sản
phẩm và thu nhập nói chung đều được thực hiện thông qua tiền tệ nên lạm phát là
Trần Ngọc Trang NHE-CĐ25
25