Nâng cao hiệu quả sử dụng Tài sản lưu động tại công ty cổ phần Tập đoàn Hưng Hải - Pdf 25

Chuyên   t t nghip 1 GVHD: TS Phan Hu Ngh
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vô
cùng mạnh mẽ. Đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập WTO đã đưa nước ta hội
nhập toàn diện và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Điều đó đã tạo ra nhiều
thời cơ và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Để tồn tại và phát triển
trong một môi trường năng động và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi các
doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện mình để có đủ khả năng tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Có nhiều mảng, nhiều khía cạnh mà một
doanh nghiệp cần phải quan tâm khi muốn đạt được hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao nhất. Một trong các vấn đề đó là việc quản lý và sử dụng tài sản của
doanh nghiệp. Bởi lẽ, tài sản của doanh nghiệp tham gia vào từng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, dù là trực tiếp hay gián tiếp.
Tài sản của doanh nghiệp gồm hai loại là TSCĐ và TSLĐ. TSLĐ đảm
bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường
xuyên, liên tục. Từ đó có thể thấy việc tổ chức quản lý và sử dụng TSLĐ có
hiệu quả hay không sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý tài chính nói
chung của doanh nghiệp.
Sau một thời gian thực tập có điều kiện đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty
cổ phần Tập đoàn Hưng Hải, nhận thấy được những ưu điểm cũng như những
khó khăn còn gặp phải trong công tác quản lý và sử dụng TSLĐ của công ty,
em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ tại
công ty cổ phần Tập đoàn Hưng Hải”. Nội dung chính của đề tài gồm có 3
chương chính:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài lưu động
của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty
cổ phần Tập đoàn Hưng Hải.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại
công ty cổ phần Tập đoàn Hưng Hải.
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547

hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận.
Doanh nghiệp hoạt động không tách rời với các mối quan hệ với môi
trường xung quanh. Nền kinh tế thị trường càng phát triển đặt ra những điều
kiện về chất lượng, mẫu mã, giá cả của hàng hóa, chất lượng của dịch vụ ngày
càng cao hơn, tinh tế hơn. Do đó, để có đủ sức cạnh tranh các doanh nghiệp
buộc phải không ngừng cải tiến sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có
hiệu quả và chất lượng cao. Trong sự vận động của thị trường, các mối quan hệ
tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất đa dạng trong toàn bộ quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất - kinh
doanh, các nhà tài chính doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 4 GVHD: TS Phan Hu Ngh
qua phương thức giải quyết ba vấn đề cơ bản quan trọng của tài chính doanh
nghiệp. Đó là:
Một là, nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại
hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn
của doanh nghiệp và là cơ sở để sự toán vốn đầu tư.
Hai là, nguồn vốn đầu tư doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn nào?
Ba là, doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng có liên quan chặt chẽ
tới quản lý TSLĐ của doanh nghiệp.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả các vấn đề của tài chính doanh
nghiệp, nhưng là các vấn đề lớn nhất, quan trọng nhất mà mỗi quyết định về
các vấn đề đó đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình hoạt động của doanh
nghiệp. Mỗi vấn đề đó bao gồm nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong phạm vi khoá luận này sẽ chỉ phân tích tới những nội dung cơ bản của
công tác quản lý TSLĐ trong doanh nghiệp.
Trước hết là những lý luận chung về TSLĐ cũng như công tác quản lý
TSLĐ của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm về TSLĐ của doanh nghiệp.

• Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm đầu tư chứng khoán
ngắn hạn có khả năng thanh khoản cao, đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự
phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là những tài sản có tính thanh khoản cao nhưng
thêm vào đó chúng còn có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Khi có nhu cầu
thanh toán, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán này để chi trả.
• Các khoản phải thu, còn được gọi là các khoản tín dụng thương
mại, bao gồm: các khoản phải thu khách hàng, các khoản trả trước cho người
bán, các khoản VAT được khấu trừ, các khoản phải thu nội bộ và các khoản
phải thu khác. Các khoản phải thu này có thể được hình thành qua các mối
quan hệ kinh doanh với khách hàng, với các nhà cung cấp hay với chính cán bộ
công nhân viên của doanh nghiệp.
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 6 GVHD: TS Phan Hu Ngh
• Dự trữ, tồn kho: đó là các nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, các sản phẩm dở dang hay bán
thành phẩm, thành phẩm lưu kho. Khoản mục này ở các doanh nghiệp khác
nhau là khác nhau tùy thuộc vào hoạt động của doanh nghiệp đó.
• TSLĐ khác: bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí
trả trước, chi phí dở dang, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các
khoản thế chấp, kí cược, kí quỹ…
Tuy vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục đó
trong TSLĐ của mình. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp khác nhau mà các
khoản mục đó có thể thay đổi khác nhau nhưng thông thường bao gồm: tiền
mặt và chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu, dự trữ.
1.1.3 Cơ cấu TSLĐ của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại dựa vào tính thanh khoản của các loại tài sản, TSLĐ
bao gồm 4 khoản mục chính: ngân quỹ, chứng khoán có khả năng thanh khoản
cao, các khoản phải thu và dự trữ. Cơ cấu TSLĐ có thể được hiểu là tỷ trọng
của từng loại TSLĐ trong tổng số TSLĐ của doanh nghiệp. Đối với mỗi loại tài
sản đó, doanh nghiệp luôn đứng trước sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Các

nghiệp đặt ra. Hơn nữa, thông qua việc quản lý TSLĐ giúp các chủ sở hữu, các
nhà đầu tư và đối tác có thể biết được thực trạng sử dụng TSLĐ trong doanh
nghiệp, thông qua đó thể hiện một phần năng lực của nhà quản lý. Công tác
quản lý TSLĐ bao gồm: quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao,
các khoản phải thu và dự trữ
1.2.1 Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao.
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp tại ngân hàng. Nó được sử dụng để trang trải các khoản chi tiêu
trong doanh nghiệp như: mua nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, trả
lương cho công nhân viên, mua sắm TSCĐ, trả tiền thuế… Bản thân tiền mặt là
tài sản không sinh lãi hoặc có tỷ suất sinh lời thấp. Nhưng nếu doanh nghiệp
giữ một lượng tiền mặt dư thừa sẽ làm giảm hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở
hữu và do vậy sẽ ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc giữ
một lượng tiền mặt trong kinh doanh là vấn đề hết sức cần thiết, bởi:
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 8 GVHD: TS Phan Hu Ngh
Thứ nhất, đảm bảo cho các giao dịch hàng ngày. Những giao dịch
thường xuyên diễn ra trong ngày có thể là: thanh toán cho khách hàng, thanh
toán cho nhà cung cấp, thu tiền từ khách hàng… Từ những giao dịch đó mà tạo
ra các số dư giao dịch.
Thứ hai, bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ
cho doanh nghiệp, chẳng hạn chuyển khoản thanh toán cho nhà cung cấp hay
khách hàng, cho vay để sản xuất… Số dư tiền mặt này được gọi là số dư bù
đắp.
Thứ ba, đáp ứng nhu cầu dự phòng cho các biến động bất thường liên
quan đến các dòng tiền vào và ra trong doanh nghiệp. Loại tiền này tạo nên số
dư dự phòng.
Thứ tư, duy trì số dư nhằm mục đích đầu cơ để cho phép doanh nghiệp
tận dụng các cơ hội kiếm lời.
Bên cạnh đó việc giữ tiền mặt cũng có những lợi thế nhất định:

Hình 1.1: Sơ đồ luân chuyển giữa tiền mặt và chứng khoán thanh khoản cao.
Một trong các chính sách quản lý TSLĐ quan trọng chính là việc xây
dựng một mức dự trữ tiền mặt hợp lý. Mức dự trữ tối ưu liên quan đến việc
đánh đổi chi phí cơ hội của việc giữ tiền và chi phí giao dịch do thiếu hụt quỹ
tiền mặt. Để xác định được mức tiền mặt tối ưu, có hai mô hình đã được phát
triển nhằm hỗ trợ cho các nhà quản trị tài chính.
1.2.1.1 Mô hình Baumol.
Mô hình này được ứng dụng nhằm thiết lập một mức dự trữ tiền mặt tối
ưu. Cũng giống như các mô hình khác, mô hình này được xây dựng dựa trên
những giả định:
• Doanh nghiệp áp dụng tỷ lệ bù đắp tiền mặt không đổi.
• Không có số thu tiền mặt trong kỳ hoạch định.
• Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn.
• Dòng tiền rời rạc chứ không liên tục.
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 10 GVHD: TS Phan Hu Ngh
Hình 1.2: Mô hình Baumol.
Theo mô hình này, lượng dự trữ tiền mặt tối ưu được xác định là:
M
*
= (2Mⁿ × C
b
/i)
1/2
Trong đó:
M
*
: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm.
C
b

xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân.
Hai là, chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán.
Ba là, lãi suất càng cao thì các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy
khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống.
Hình 1.3: Mô hình Miller – Orr.
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức:
d = 3(¾ × C
b
× V
b
/i)
1/2
Trong đó:
d: khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ.
C
b
: chi phí cho mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán.
V
b
: phương sai của thu chi ngân quỹ.
i: lãi suất.
Đây là mô hình được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng trên thực tế. Khi áp
dụng mô hình này, mức tiền mặt ở giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền
mặt tối thiểu. Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 12 GVHD: TS Phan Hu Ngh
vào số liệu thực tế của một quỹ trước đó để tính toán. Khi doanh nghiệp hoàn
toàn dự kiến được luồng tiền vào và tiền ra một cách chắc chắn thì hầu như
doanh nghiệp chỉ cần giữ lại một lượng tiền không đáng kể, còn lại sẽ đầu tư
vào chứng khoán ngắn hạn để kiếm lời.

Chi phí này bao gồm:
+ Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí do giảm
giá hàng hóa…
+ Chi phí tài chính: chi phí sử dụng vốn như lãi tiền vay, chi phí về
thuế, khấu hao…
Gọi số lượng mỗi lần cung cấp hàng hóa là Q, lượng dự trữ trung bình sẽ
là .
Gọi C
1
là chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa. Tổng chi phí lưu kho của
doanh nghiệp là C
1
× .
Nếu số lượng hàng mỗi lần cung ứng tăng sẽ làm tổng chi phí lưu kho
tăng.
• Chi phí đặt hàng: bao gồm chi phí giao dịch và vận chuyển hàng hóa.
Loại chi phí này thường ổn định, không phụ thuộc vào số lượng hàng hóa được
mua.
Gọi D là toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng trong một đơn vị thời gian
thì số lượng lần cung ứng hàng hóa sẽ là D/Q.
Gọi C
2
là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là C
2
×D/Q
Nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm thì tổng chi phí đặt hàng tăng.
Gọi TC là tổng chi phí tồn kho, ta có:
TC = C
1
×

hàng, và gây mất lòng tin đối với khách hàng. Nhưng nếu đặt hàng quá sớm sẽ
làm tăng lượng nguyên liệu tồn kho. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải xác
định điểm đặt hàng mới kịp thời và kinh tế nhất.
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chi phí
0
Chuyên   t t nghip 15 GVHD: TS Phan Hu Ngh
Thời điểm đặt hàng mới được xác định bằng số lượng nguyên liệu sử
dụng mỗi lần × độ dài thời gian giao hàng.
Lượng dự trữ an toàn: Nguyên vật liệu được sử dụng mỗi ngày không
phải là một số cố định mà biến động không ngừng, nhất là đối với những doanh
nghiệp sản xuất mang tính thời vụ hoặc sản xuất những chủng loại hàng hóa
nhạy cảm với thị trường. Nếu đơn hàng đến trễ hay nhu cầu vật liệu lớn hơn
mong đợi trong khi chúng ta đang chờ hàng về, việc hết tồn kho có thể xảy ra,
có nghĩa là tồn kho không hữu hiệu. Vì vậy, để đảm bảo cho sự ổn định của sản
xuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một lượng hàng tồn kho ở mức an toàn.
Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hóa dự trữ tại thời điểm đặt hàng.
1.2.2.2 Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.
Tư tưởng cơ bản của phương pháp này là các doanh nghiệp trong một số
ngành nghề có liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ,
khi có đơn đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành thu gom trực tiếp những hàng hóa
và sản phẩm dở dang của doanh nghiệp khác mà không cần dự trữ.
Phương pháp này nếu được sử dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp có thề
giảm tới mức tối đa chi phí cho dự trữ vì lúc đó dự trữ của doanh nghiệp gần
như bằng 0. Tuy vậy, phương pháp này chỉ nên được áp dụng cho một số loại
dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp với các phương pháp quản lý
khác để đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.3 Quản lý các khoản phải thu.
Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử
dụng nhiều chiến lược khác nhau về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, về phương

doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu của khách hàng để có
thể có những thay đổi kịp thời phù hợp với tình hình thực tế.
Một chính sách tín dụng thương mại bao gồm: kỳ hạn tín dụng, tiêu
chuẩn tín dụng, chính sách thu tiền, chiết khấu.
• Kỳ hạn tín dụng là độ dài thời gian mà khoản tín dụng được cấp.
Việc tăng kỳ hạn tín dụng thường gây ra hiệu ứng kích thích doanh số, tuy
nhiên kèm theo đó là các khoản chi phí phát sinh liên quan tới các khoản gia
tăng doanh thu.
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 17 GVHD: TS Phan Hu Ngh
• Tiêu chuẩn tín dụng đề cập đến điểm mạnh và uy tín mà khách
hàng phải chứng minh để có thể nhận được tín dụng.
• Chính sách thu tiền đề cập tới các thủ tục mà doanh nghiệp tuân
thủ để thu tiền từ các khoản thu đến hạn. Quá trình thu tiền có thể tốn kém về
mặt chi phí xét trên phương diện chi phí trực tiếp và danh tiếng bị tổn thất. Tuy
nhiên ít nhất phải có tính kiên định cần thiết để tránh tình trạng kéo dài thời
gian thu tiền quá mức và để tối thiểu hóa tổn thất hiện hữu.
• Chính sách chiết khấu. Chiết khấu có thể thu hút sự chú ý của
khách hàng và khuyến khích khách hàng thanh toán sớm để được hưởng chiết
khấu. Song chiết khấu vì thế cũng sẽ làm giảm thu nhập trên mỗi đơn vị hàng
bán cho doanh nghiệp. Do đó, các nhà quản trị cần cân nhắc kỹ các điểu khoản
của chính sách chiết khấu đảm bảo lợi ích cho cả khách hàng và doanh nghiệp.
1.3 Hiệu quả sử dụng TSLĐ.
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, hiệu quả luôn là tiêu chí được xem xét hàng
đầu. Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là khái niệm phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với mục tiêu xác
định do con người đặt ra. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng tài sản trong
doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và
sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục

Thời gian bình quân kỳ kinh doanh
K
2
= ────────────────────

Số vòng quay hàng tồn kho
∗ Kỳ thu tiền bình quân hay thời gian thu tiền là số ngày của một vòng
quay các khoản phải thu. Tỷ số này cho biết, cứ trung bình K
2
ngày thì doanh
thu từ bán chịu hàng hóa cho khách hàng được thanh toán. Tỷ số này càng nhỏ
chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao.
Tổng số ngày trong kỳ
K
3
= ─────────────────────

Số vòng quay khoản phải thu trong kỳ
Trong đó, số vòng quay các khoản phải thu trong kỳ được xác định bằng:
Doanh thu bán chịu trong kỳ
Số vòng quay khoản phải thu trong kỳ

= ─────────────────
Các khoản phải thu bình quân
Do đó, công thức xác định kỳ thu tiền bình quân có thể được viết lại:
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 19 GVHD: TS Phan Hu Ngh
Khoản phải thu
K
3

đáp ứng nhu cầu giao dịch hàng ngày với khách hàng, các nhà cung cấp, các
đối tác kinh doanh cũng như với ngân hàng. Lượng tiền đó thay đổi từng ngày.
Hơn thế nữa, các chứng khoán thanh khoản cao là nguồn thanh khoản quan
trọng đối với doanh nghiệp trong những trường hợp khẩn cấp. Do đó, việc xác
định lượng tiền tồn quỹ tối thiểu là bao nhiêu liên quan đến nhiều vấn đề khác,
trong đó có việc đảm bảo tính thanh khoản tốt nhất cho doanh nghiệp.
* Vòng quay TSLĐ
Doanh thu thuần trong kỳ
K
7
= ───────────────
TSLĐ bình quân trong kỳ
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 20 GVHD: TS Phan Hu Ngh
Chỉ tiêu này cho biết, mỗi đơn vị TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại bao
nhiêu đơn vị doanh thu thuần. TSLĐ bình quân là bình quân số học của TSLĐ
ở đầu kỳ và cuối kỳ. Thông thường kỳ sử dụng để tính là 1 năm. Do vậy, TSLĐ
sử dụng bình quân trong kỳ được tính theo công thức:
Tổng TSLĐ bình quân các quý trong năm
TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ = ───────────────────────

Số quý trong năm
∗ Kỳ luân chuyển TSLĐ: là số ngày bình quân cần thiết để TSLĐ thực
hiện một vòng quay trong kỳ. Thời gian của một vòng luân chuyển càng ngắn
thì tốc độ lưu chuyển càng nhanh, hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao. Chỉ tiêu
này phản ánh sự phát triển của trình độ quản lý và sử dụng TS trong doanh
nghiệp.
Thời gian của kỳ phân tích
K
8

Thông thường K
10
≤ 100 là tốt nhất do sự tương xứng giữa các khoản
phải thu của khách hàng với các khoản phải trả nhà cung cấp. Nếu K
10
> 100 thì
doanh nghiệp cần hết sức chú ý vì điều đó chứng tỏ tình hình tài chính của
doanh nghiệp đang có vấn đề. Các khoản phải thu của khách hàng vượt quá các
khoản phải trả cho nhà cung cấp đe dọa khả năng thanh toán của doanh nghiệp
khi có các khoản nợ đến hạn phải trả do TSLĐ lúc này chủ yếu từ các khoản
phải thu.
* Tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành.
Tổng TSLĐ
K
11
= ─────────────

× 100
Nợ ngắn hạn
Tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp là thước đo
khẳ năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó cho biết mức độ các
khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể
chuyển thành tiền trong thời gian tương ứng với các khoản nợ đó.
* Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các TS quay vòng
nhanh và nợ ngắn hạn. TS quay vòng nhanh là những TS có thể nhanh chóng
chuyển đổi thành tiền với chi phí thấp, bao gồm: tiền mặt, chứng khoán thanh
khoản cao, các khoản phải thu. TS tồn kho là các TS khó chuyển thành tiền hơn
trong tổng TSLĐ và dễ bị lỗ nhất nếu được bán. Tỷ số này được xác định bằng
công thức:
TS quay vòng nhanh

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của TSLĐ. Nó cho biết mỗi đơn
vị TSLĐ sử dụng đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
* Mức đảm nhiệm TSLĐ
TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
K
15
= ────────────────────
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết, để đạt được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp
phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Tại các doanh nghiệp khác nhau tình hình sử dụng TSLĐ có sự khác
nhau do chịu tác động của nhiều yếu tố. Có thể xem xét các nhân tố tác động
đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp theo hai nhóm chủ yếu:
1.4.1 Các nhân tố chủ quan.
Đây là nhóm các nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp. Một số các nhân tố
chính có thể kể đến như:
 Sự tương ứng giữa TSLĐ và TSCĐ trong cơ cấu tài sản của doanh
nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều có một cơ cấu TS riêng phù hợp với đặc điểm
của doanh nghiệp mình. Sự cân đối trong cơ cấu TS có tác động lớn đến hiệu
quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Nếu TSLĐ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 23 GVHD: TS Phan Hu Ngh
cho việc lưu trữ TSLĐ trong khi TSCĐ không đủ đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh. Nhưng nếu quá ít sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất trong khi chi phí
khấu hao cho TSCĐ lại cao hơn. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bị ứ
đọng, sử dụng thiếu hiệu quả, làm giảm lợi nhuận của chủ doanh nghiệp cũng
như của các nhà đầu tư. Do đó, xây dựng một cơ cấu TS hợp lý đảm bảo sử
dụng có hiệu quả đem lại lợi nhuận cao là rất cần thiết.
 Các nhân tố thuộc về trình độ quản lý của doanh nghiệp. Việc quản lý

chiếm khoảng 20 – 30% ∑TS. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các
ngành công nghiệp nhẹ thì nhu cầu về TSLĐ trung bình chiếm khoảng 50%
∑TS. Còn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch
vụ thì nhu cầu này chiếm đến khoảng 70 – 80% ∑TS. Do vậy các doanh nghiệp
cần có một chế độ quản lý, sử dụng riêng cho phù hợp với hoạt động của doanh
nghiệp mình.
1.4.2 Các nhân tố khách quan.
Đây là các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp không thể tự kiểm soát, thay đổi được. Các nhân tố ấy
có thể là:
 Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế. Nền kinh tế trong quá trình
vận hành luôn mang trong đó sự biến động. Sự biến động thường xuyên của
môi trường luôn đặt doanh nghiệp trước những nguy cơ phá sản nếu không có
sự thay đổi thích ứng kịp thời. Đó có thể là tác động của:
− Lạm phát: khi tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế tăng cao sẽ gây ra nhiều
thiệt hại không chỉ cho bản thân doanh nghiệp mà còn cả của toàn nền kinh tế.
Lạm phát làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng cao kéo theo giá của sản phẩm
hàng hóa dịch vụ cũng tăng theo và biến động không theo dự tính. Khi đó các
doanh nghiệp cần phải có các chính sách đối phó, các biện pháp phối hợp với
Chính Phủ để đưa lạm phát vào tầm kiểm soát, tránh gây ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và hiệu quả của cả nền kinh tế nói
chung.
− Sự thay đổi của lãi suất trên thị trường: bất cứ sự thay đổi nào về lãi
suất cũng có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả hiệu quả của doanh nghiệp. Khi
lãi suất tăng, chi phí sử dụng các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng tăng. Do
H Th Thu Hà – 1909 Mã SV: BH190547
Chuyên   t t nghip 25 GVHD: TS Phan Hu Ngh
đó, các doanh nghiệp cần xem xét đến các nguồn tài trợ đó nhằm có biện pháp
thay đổi hợp lý mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.
− Biến động về cung – cầu hàng hóa trên thị trường: thị hiếu của khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status