Thực hiện chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu ở Tổng cục hải quan - Pdf 25

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Khoa Thơng mại và kinh tế quốc tế

CHUyên đề
thực tập tốt nghiệp
Đề t ài:

THC HIN CHNH SCH THU I VI HNG HểA
NHP KHU TNG CC HI QUAN
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hằng
Lớp : Hải quan 49
MSSV : CQ490831
Giáo viên hớng dẫn : GS.TS Hoàng Đức Thân
Hà Nội, 05/2011
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, ở bất kỳ thời đại nào thuế luôn là một công
cụ để thể hiện quyền lực nhà nước, thuế còn là nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ
nhu cầu chi tiêu của xã hội. Tại Việt Nam, thuế nhập khẩu chiếm 25% tỉ trọng thu
thuế của quốc gia. Với tốc độ gia tăng và đa dạng hoá của xu thế hội nhập, với yêu
cầu thực hiện các cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế như từng bước phải cắt
giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế nhập khẩu chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Đây cũng là một khó khăn trong công tác thu của ngành Hải quan Việt Nam với
thực tế là thuế nhập khẩu hàng hóa luôn bị giảm mạnh theo các cam kết trong hội
nhập. Bên cạnh đó, chính sách thuế đặc biệt là chính sách thuế nhập khẩu của chúng
ta trong thời gian qua cũng tồn tại rất nhiều bất cập. Điều đó đã làm hạn chế tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, thương mại và
đầu tư giữa Việt Nam và các nước. Công tác thực hiện chính sách thuế nhập khẩu
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cần phải được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp

của nhà nước về những vấn đề liên quan. Trên cơ sở đó, chuyên đề đã sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp (với
nguồn dữ liệu, thông tin được tác giả thu thập từ các website, số liệu thống kê của
cơ quan quản lý, sách báo, tạp chí…); phương pháp kết hợp nghiên cứu với thực
tiễn, phương pháp thống kê so sánh…
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Về mặt lý luận: chuyên đề góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về thuế, quản
lý thuế, vai trò của thuế trong tiến trình hội nhập…. Ngoài ra, trong phần đề xuất,
chuyên đề cũng đã đề xuất các biện pháp hỗ trợ chống nợ đọng thuế. Chống nợ
đọng thuế hiện là một nhiệm vụ hết sức phức tạp và nặng nề của ngành Hải quan và
của Tổng cục Hải quan.
Về ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao hiệu quả trong công tác thực hiện chính sách
thuế nhập khẩu nhằm góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, phát
huy vai trò bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện tốt các cam kết trong hội nhập,
góp phần thực hiện tốt các chính sách đối ngoại của đất nước trong từng thời kỳ.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ biểu,
chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng thực hiện chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu ở
Tổng cục Hải quan
4
Chương III: Phương hướng và biện pháp tăng cường thực hiện chính sách thuế đối
với hàng nhập khẩu của Tổng cục Hải quan
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ
NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về thuế nhập khẩu và chính sách thuế nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm, chức năng và vai trò của thuế nhập khẩu
1.1.1.1. Khái niệm
Thuế nhập khẩu là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa nhập khẩu

Từ đặc điểm trên, người nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu không phải là
người chịu thuế mà người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu. Nhà
nhập khẩu thu thuế đối với người tiêu dùng khi bán hàng hóa đó
b). Tính xung đột
Xuất phát từ những lợi ích khác nhau của các nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất
trong nước, khi sử dụng chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu luôn phát sinh
những xung đột về lợi ích sau đây:
- Chính sách thuế theo hướng bảo hộ sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các nhà đầu tư
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua việc đánh thuế đối với hàng nhập
khẩu, giá cả của hàng nhập khẩu sẽ cao hơn vì phải xông thêm một khoản thuế vào
giá bán của hàng nhập khẩu nên đã tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa sản xuất
trong nước. Vì vậy, với xu hướng này, các nhà đầu tư sản xuất trong nước thường
ủng hộ duy trì hàng rào thuế quan cao và càng lâu dài càng tốt
- Chính sách thuế theo hướng cắt giảm nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại
được các nhà kinh doanh hàng hóa nhập khẩu và người tiêu dùng hàng hóa thường
ủng hộ. Bởi vì, thuế đối với hàng nhập khẩu được xem là rào cản làm cản trở khả
năng thâm nhập thị trường nội địa của hàng hóa nhập khẩu; khi hàng hóa nhập khẩu
phải chịu thuế càng cao thì giá cả hàng hóa nhập khẩu càng bị đẩy lên tương ứng.
Trong trường hợp đó, người tiêu dùng sẽ có ít cơ hội lựa chon, mua hàng hóa nhập
khẩu với giá cao hoặc mua hàng tương tự trong nước với giá thấp hơn. Vì vậy, với
xu hướng này, các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng thường ủng hộ cắt giảm thuế
quan càng thấp, càng sớm thì càng tốt.
c) Tính rủi ro cao
Nghiệp vụ xác định đối với hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện là áp mã số thuế,
thuế suất, giá tính thuế, kiểm tra thực tế hàng hóa, giám định chất lượng hàng hóa.
Mỗi khâu nghiệp vụ đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn sâu mới có thể xác định
được chính xác các chỉ tiêu tính toán để xác định số thuế phải nộp. Vì vậy, chỉ cần
6
một trong số các chỉ tiêu tính toán chưa chính xác thì sẽ dẫn đến xác định sai số
thuế phải nộp.

công nghiệp non trẻ trong nước cho đến khi chúng đủ vững mạnh để cạnh tranh
sòng phẳn trên thị trường quốc tế…
7
1.1.2. Chính sách thuế nhập khẩu
1.1.2.1. Nội dung cơ bản của chính sách thuế nhập khẩu
Chính sách thuế nhập khẩu chính là tổng hợp các phương hướng của nhà nước
vào từng giai đoạn trong lĩnh vực nộp thuế nhập khẩu và các biện pháp để đạt được
những mục tiêu đã định
Theo đó, chính sách thuế nhập khẩu góp phần thể hiện phương hướng và đường
lối động viên thu nhập trong nền kinh tế quốc dân dưới hình thức thuế nhập khẩu.
Chính sách thuế nhập khẩu được thực hiện bằng cách thiết lập các văn bản pháp luật
trong lĩnh vực nộp thuế nhập khẩu, xây dựng biểu thuế và các ưu đãi trong từng giai
đoạn phát triển nhất định.
Nội dung của chính sách thuế nhập khẩu phải đáp ứng được những mục tiêu sau:
- Mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước:
Tùy theo đặc điểm kinh tế của mỗi nước mà có những mức độ bảo hộ khác
nhau. Ở những nước có nền kinh tế phát triển cao, khả năng cạnh tranh của hàng
hóa nội địa lớn thì biện pháp thuế quan sử dụng cho mục đích này thường ít được
coi trọng. Tuy nhiên đối với những nước đang phát triển hoặc các nước theo đuổi
chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu thì lại hết sức coi trọng mục
tiêu bảo hộ
Thuế nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc tác
động vào giá của hàng hóa nhập khẩu trên thị trường, cụ thể:
Đối với những hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất,
nếu đánh thuế thấp sẽ có tác dụng trực tiếp đến đầu vào của sản phẩm. Giảm giá cả
đầu vào giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có thêm điểu kiện để đổi mới công
nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước.
Nhà nước còn thể hiện chủ trương quan điểm của mình qua nội dung chính sách
thuế nhập khẩu. Chính sách thuế nhập khẩu sẽ là tín hiệu hướng dẫn sản xuất,

phát triển, do điều kiện sản xuất lạc hậu, các loại thuế trong nước như thuế giá trị
gia tăng, thuế thu nhập,… chỉ chiếm 1 tỷ trọng nhỏ trong số thu ngân sách nhà nước
trong khi đó hàng hóa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước bằng nguồn
nhập khẩu từ nước ngoài lại khá lớn nên để vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa
bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước thì các nước này thường chọn chính
sách thuế nhập khẩu để có tỷ lệ động viên vào ngân sách tương đối cao
- Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu:
Khi mở cửa thị trường, vì mục tiêu lợi nhuận mà việc mua bán hàng hóa trở nên
đa dạng và diễn ra ở bất cứ đâu. Có thể là những hàng hóa phục vụ nhu cầu cơ bản
của con người, hàng hóa dịch vụ phục vụ sản xuất… Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng
có những hàng hóa có thể xâm hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia và ảnh hưởng
9
xấu đến sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần của người dân như vũ khí, ma túy,
những văn hóa phẩm đồi trụy…
Thông qua việc kiểm tra thu thuế nhập khẩu, để biết được thực chất hàng hóa
nhập khẩu qua của khẩu là loại hàng hóa gì, số lượng bao nhiêu, nhập khẩu từ nước
nào… thì nhà nước có thể kiểm soát được tất cả các loại hàng hóa nhâp khẩu vào
trong nước.
Kết hợp với những chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp, với những chính sách
về an ninh quốc phòng mà nhà nước đưa ra những quy định cho phép nhập khẩu
hàng hóa nào, cấm nhập những hàng hóa nào và kịp thời đưa ra những biện pháp xử
lý kịp thời không để lọt những hàng hóa trái phép vào thị trường trong nước.
Tóm lại, tùy theo tình hình kinh tế chính trị của thế giới và mỗi nước trong từng
giai đoạn lịch sử khác nhau mà việc sử dụng chính sách thuế nhập khẩu ở mỗi nước
cũng có những điểm khác nhau. Theo xu hướng chung thì khi nền kinh tế phát triển,
khả năng cạnh tranh lớn, hàng rào bảo hộ bằng thuế nhập khẩu trở nên không cần
thiết. Tuy nhiên ở những nước đang phát triển thì thuế nhập khẩu vẫn đóng một vai
trò quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất trong nước.
Ở Việt Nam hiện nay, thuế nhập khẩu được sử dụng vào hai mục tiêu chính là
bảo hộ và khuyến khích đầu tư sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách

vậy, chỉ cần một thay đổi nhỏ về chính trị - kinh tế - xã hội trong nước nói riêng và
nước ngoài nói chung là một trong những nhân tố đảm bảo cho sự ổn định của
chính sách thuế nhập khẩu.
Ngoài ra, chính sách thuế nhập khẩu còn phụ thuộc vào nhận thức của công dân.
Các công dân có một nhận thức đúng đắn về hiệu quả mà chính sách thuế nhập
khẩu đem lại cho chính bản thân họ cũng như cho tổng thể nền kinh tế thì các quy
định pháp luật liên quan đến những chính sách đó sẽ được họ chấp hành một cách
nghiêm túc và đầy đủ. Khi đó, chính sách thuế nhập khẩu mới có thể thực hiện một
cách thuận lợi để đạt được các mục tiêu đề ra.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Hải quan trong thực hiện chính
sách thuế xuất nhập khẩu hàng hóa.
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Tổng cục Hải quan
a). Chức năng
Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, giúp Bộ trưởng Bộ Tài
chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải quan; thực thi
pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước
b). Nhiệm vụ, quyền hạn
Tổng cục Hải quan thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của Luật Hải
quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan và những nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể sau đây:
11
Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật về ngành
hải quan; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành hải quan và tổ chức thực
hiện nghiêm túc sau khi được phê duyệt.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của ngành hải quan:
- Kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
phương tiện vận tải, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
- Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong
phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan
- Thực hiện các biện pháp phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng

- Phòng Chính sách.
- Phòng Trị giá.
- Phòng Phân loại hàng hóa.
- Phòng Dự toán – Tổng hợp.
- Phòng Quản lý nợ và Kế toán thuế.
Nhiệm vụ cụ thể của các phòng do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quy
định.
Biên chế của Cục Thuế xuất nhập khẩu do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
quyết định trong tổng số biên chế được giao.
1.2.2.2. Vị trí và chức năng
a). Cục Thuế xuất nhập khẩu là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, có chức
năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thực hiện quản lý nhà
nước về thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; trực tiếp tổ chức
thực hiện nghiệp vụ về thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn được giao và theo quy định của pháp luật.
b). Cục Thuế xuất nhập khẩu có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài
khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
1.2.2.3. Nhiệm vụ và quyền hạn
a). Trình Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính:
- Văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá tính thuế xuất khẩu, nhập
khẩu; phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản
lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Chiến lược, kế hoạch, dự toán dài hạn, trung hạn, hàng năm về thu thuế và
thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các chương trình, đề án về quản lý
thuế theo phân công của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung các văn
bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế, các cơ chế tài chính liên quan đến thu ngân
sách nhà nước;
13
- Ý kiến tham gia về dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực

nhân trong nước và ngoài nước, tổ chức tiếp nhận tin báo, tố giác; yêu cầu các cơ
quan, đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ công tác quản lý
thuế xuất khẩu, nhập khẩu;
14
- Kiểm tra cơ quan hải quan các cấp thực hiện công tác thu thuế, quản lý nợ
thuế, xử lý nợ thuế, kế toán thuế, cưỡng chế thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế;
- Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu;
- Xét duyệt các báo cáo kế toán thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu của các Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
d). Tổ chức triển khai thực hiện các vấn đề kỹ thuật của Hiệp định trị giá hải
quan (GATT), các cam kết quốc tế về trị giá hải quan; Công ước hài hòa hóa mô tả
và mã hóa hàng hóa (HS) của Tổ chức Hải quan thế giới; các cam kết quốc tế về
phân loại hàng hóa và cắt giảm thuế; thực hiện hợp tác quốc tế về trị giá hải quan,
phân loại hàng hóa theo phân công của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.
e). Tham mưu giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong lĩnh vực thuế theo quy định của pháp luật.
f). Đề xuất khen thưởng định kỳ, đột xuất đối với các đơn vị, cá nhân ngoài
ngành hải quan có thành tích trong công tác thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu.
g). Tổ chức nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong công tác
quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
h). Thống kê, đánh giá, tổng kết tình hình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ
được giao theo chế độ quy định.
i). Phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan xây dựng chương trình, nội
dung giảng dạy nghiệp vụ về thuế, quản lý thuế trong ngành hải quan.
k). Quản lý cán bộ, công chức và tài chính, tài sản được giao theo quy định của
pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ Tài chính.
l). Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giao và

Trung Quốc
- Từng bước xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng về chính sách thuế nhập khẩu đối
với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
16
1.3.2. Chính sách thuế của Indonesia
Hệ thống chính sách thuế của Indonesia được cải cách từ năm 1994 với mục tiêu
tăng số thu về thuế để đảm bảo yêu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước. Hệ thống
này bao gồm chủ yểu là thuế thu nhập và thuế GTGT, gộp thuế thu nhập cá nhân và
thuế thu nhập doanh nghiệp thành một loại thuế suất đơn giản chỉ có 3 thuế suất
theo lũy tiến từng phần: 15%; 25%; 35%
Năm 2001 Indonesia tiếp tục giai đoạn cải cách mới với nội dung chủ yếu:
- Về thuế GTGT: Thuế GTGT được mở rộng diện chịu thuế và hiện có một
mức thuế suất là 10%; dự kiến sẽ tăng thuế suất lên 12.5%
- Về thuế TNDN: thay đổi các khái niệm về đối tượng cư trú, cơ sở thường trú
phù hợp với thông lệ quốc tế; Mở rộng diện chịu thuế; Thuế suất lũy tiến từng phần
10%, 20% và 35%; Cơ quan thuế và đối tượng chịu thuế có thể ký thỏa thuận trước
về giá đối với các giao dịch quốc tế để quản lý và chuyển giá; Ưu đãi thuế đối với
đầu tư ( chỉ áp dụng đối với những vùng kém phát triển, hoặc sử dụng công nghệ
cao) bằng cách giảm 30% thuế TNDN, cho khấu hao nhanh gấp hai lần, cho chuyển
lỗ sang các năm sau
- Về thuế TNCN: Mở rộng diện thu nhập chịu thuế; thuế suất lũy tiến là 10%,
20% và 35%; Cho phép giảm trừ gia cảnh (vợ, con) khi tính thu nhập chịu thuế. Kết
quả của cải cách thuế trên đã làm tăng tỉ lệ động viên từ thuế trong GDP từ 15.2%
lên 18%, số thu chủ yếu từ thuế gián thu ( thuế giá trị gia tăng chiếm 28.6%; thuế
nhập khẩu chiếm 6.1%; thuế TTĐB chiếm 5.7%)
1.3.3. Chính sách thuế của Malaysia
Vấn đề chính sách thuế rõ nhất của Malaysia là chuyển trọng tâm từ thuế trực
thu sang hệ thống thuế có phạm vi bao quát hơn đối với tiêu dùng, thông qua việc
xóa bỏ thuế đối với lợi nhuận siêu ngạch, giảm thuế suất đối với thuế thu nhập;
miễn thuế lợi nhuận và lợi tức cổ phần trong thời gian tối đa 10 năm đối với những

cam kết với IMF bao gồm thuế GTGT chỉ có một mức thuế suất, giảm thuế nhập
khẩu thu nhập(mức thuế suất lũy tiến cao nhất là 50% giảm còn 37%). Về ưu đãi
đối với đầu tư, Thái Lan cho phép được hưởng kỳ miễn thuế đến 8 năm và giảm
50% cho 5 năm tiếp theo đối với lĩnh vực công nghệ cao và khu vực có điều kiện
địa lý khó khăn; đầu tư vào cơ sở hạ tầng được hưởng khoản trừ bổ sung đối với tài
sản đầu tư là 25%.
1.3.6. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về cải cách thuế quan rất phong phú. Từ
chính sách thuế của một số nước trên ta có thế rút ra một dố kinh nghiệm trong cải
cách thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói riêng như sau:
- Thực hiện thay đổi định kỳ mức thuế hiện hành
18
- Ban hành thêm những loại thuế mới để tăng thu ngân sách
- Cải tiến bộ máy quản lý thuế nhằm tăng thu trên cơ sở biểu thuế hiện hành,
giảm thất thu và trốn thuế
- Đào tạo đội ngũ cán bộ thuế giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Cải cách cơ bản toàn bộ cơ cấu về thuế. Tuy nhiên trong một thời gian ngắn
đòi hỏi cải cách thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói riêng một cách đồng bộ,
hoàn hảo thì cần thực hiện theo kế hoạch sau:
+ Thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải đảm bảo thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo hộ
chính đáng sản xuất nội địa, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước
+ Nâng cao tính hiệu quả của thuế xuất nhập khẩu: trên phương diện của người
chịu thuế thì thuế suất phải cho người nộp thấy bớt gánh nặng của thuế và thuế suất
vẫn phải mang đến cho nhà nước một năng suất tối đa mà không cản trở thậm chí
còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội.
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU Ở TỔNG CỤC HẢI QUAN
2.1. Thực trạng chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam
Luật thuế xuất, nhập khẩu đầu tiên của Việt Nam ra đời vào tháng 12 năm 1987

Các loại phân hoá học hay khóang chất chứa Kali
Máy đông lạnh dạng tủ dung tích 200lít
Máy đông lạnh dạng tủ dung tích 900lít
100
70
100
15
30
120
0
0
0
15
5
Nguồn: Tổng cục Thuế
Cho đến nay thì biểu thuế suất của một số nhóm mặt hàng đã được thay đổi
chẳng hạn như:
20
Bảng 2: Kết cấu biểu thuế suất hiện hành
Mã số Nhóm, tên mặt hàng Thuế suất (%)
1 2 3
300450.11
300450.19
300450.30
8418.3010
8418.3090
8509.10
8524.90.10
8703.10.11
8703.10.12

Ta có thế nhận thấy thuế suất đối với nhóm các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng
tăng lên để bảo hộ sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó khi gia nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải thực hiện các cam kết
quốc tế và khu vực về vấn đề cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan.
Điển hình nhất là chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung ASEAN (CEPT/
AFTA).
Có 4 loại Danh mục sản phẩm hàng hóa trong biểu thuế quan là các sản phẩm
hàng hóa thuộc đối tượng thực hiện CEPT. Đó là danh mục các sản phẩm giảm thuế
ngay (IL); các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế (TEL); các sản phẩm nông sản
chưa chế biến nhạy cảm (SL) và các sản phầm loại trừ hoàn toàn (GEL).
Căn cứ theo Hiệp định CEPT và thỏa thuận giữa Việt Nam và các nước thành
viên khác của ASEAN, chương trình cắt giảm thuế bắt đầu thực hiện từ 1/1/1996 và
hoàn thành vào 1/1/2006 để đạt được mức thuế suất cuối cùng là 0 – 5%, chậm hơn
các nước thành viên khác 3 năm. Cụ thể:
21
Với các mặt hàng thuộc danh mục IL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/1996 và kết
thúc với thuế suất 0 – 5% vào 1/1/2006. Các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải
giảm xuống 20% vào 1/1/2001. Các mặt hàng có thuế suất nhỏ hơn hoặc bằng 20%
sẽ giảm xuống 0 – 5% và 1/1/2003.
Các mặt hàng thuộc danh mục TEL sẽ được chuyển sang danh mục IL trong
vòng 5 năm, từ 1/1/1999 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20% để thực hiện giảm
thuế với thuế suất cuối cùng là 0 – 5% vào năm 2006. Đồng thời các bước giảm sau
khi đưa vào IL phải được thực hiện chậm nhất là 2 – 3 năm một lần và mỗi lần giảm
không ít hơn 5%
Các mặt hàng thuộc danh mục SL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004 và kết thúc
vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng là 0 – 5%. Riêng mặt hàng đường vào năm
2010 là 0 – 5%.
Các mặt hàng đã đưa vào các chương trình giảm thuế và được hưởng nhượng bộ
thì phải bỏ ngay các quy định về hạn chế số lượng (QRs) và bỏ dần các biện pháp
hạn chế phi thuế quan khác (NTBs) 5 năm sau đó.

và giảm còn 0 – 5% từ năm 2021
Danh mục nhạy cảm cao
Được chia ra thành 5 nhóm sản phẩm với các cam kết cắt giảm thuế
quan khác theo quy chế Tối huệ quốc được áp dụng
Nguồn: Hội thảo thương mại tự do FTA
Bảng 5: Lộ trình cắt giảm thuế quan theo FTA Asean - Nhật Bản (AJCEP)
Danh mục Nhật Bản Asean
Tất cả các sản phẩm Giảm hoặc miến theo từng
giai đoạn cho từng quốc gia
đối với các nhóm hàng theo
lãi suất cơ bản
Giảm hoặc miến theo từng
giai đoạn cho từng quốc gia
đối với các nhóm hàng theo
lãi suất cơ bản
Miễn thuế đối với 93% mặt
hàng nhập khẩu từ Asean theo
giá trị trong vòng 10 năm từ
khi bắt đầu có hiệu lực
Asean – 6: miễn thuế đối
với 90% mặt hàng nhập
khẩu từ Nhật Bản trong
vòng 10 năm
Nguồn: Hội thảo thương mại tự do FTA
23
Bảng 6: Lộ trình cắt giả thuế quan theo FTA Asean - Ấn Độ
Danh mục
Ấn Độ & Singapore,
Brunei, Indonesia,
Malaysia & Thái Lan

Philippines
Giảm còn 25% hoặc 50%
từ năm 2004 đối với
Campuchia và Việt Nam
Nhóm sản phẩm đặc biệt
Giảm còn 37,5% đối với mặt hàng dầu cọ thô, 50% với hồ tiêu và 45%
với dầu cọ tinh chế, cà phê, trà đen
Ngoài danh mục
Các sản phẩm sẽ được tái xem xét hàng năm nhằm nâng cao khả năng
thâm nhập thi trường
Nguồn: Hội thảo thương mại tự do FTA
Bảng 7: FTA khu vực ASEAN – Úc – New Zealand
Úc New Zeland Asean – 6 CLMV
Miễn thuế lập tức đối
với 96% mặt hàng
nhập khẩu từ 2010
Miễn thuế lập tức đối
với 85% mặt hàng
nhập khẩu từ 2010
Brunei, Malaysia,
Philippines,
Singapore & Thái
Lan: miễn giảm từ
năm 2020
Việt Nam: Miễn hoặc
giảm từ 2020
Miễn thuế các mặt
hàng còn lại từ năm
2020
Miễn thuế các mặt

thuộc bộ hồ sơ hải quan
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Certificate of Origin,
gọi tắt là C/O). Quy định tại Thông tư liên tịch này là chứng từ do cơ quan hay tổ
chức có thẩm quyền cấp xác nhận xuất xứ của một lô hàng xuất khẩu hay nhập
khẩu.
Nước xuất xứ hàng hóa là nước mà tại đó hàng hóa được sản xuất hoặc gia công,
chế biến phù hợp với quy định về xuất xứ nếu tại phụ lục kèm theo.
C/O phải nộp cho cơ quan hải quan trong các trường hợp sau:
- Hàng hoá có xuất xứ từ những nước được Việt Nam cho hưởng các ưu đãi về
thuế nhập khẩu hay về các chế độ quản lý khác theo quy định của pháp luật Việt
Nam hoặc theo các Hiệp định, thoả thuận quốc tế ký kết giữa Việt Nam với các
25

Trích đoạn Xỏc định nguồn gốc xuất xứ Kết quả thu thuế nhập khẩu của Tổng cục Hải Quan năm 2008 – Thực trạng triển khai thực hiện chớnh sỏch thuế đối với hàng húa nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Hạn chế và nguyờn nhõn trong thực hiện chớnh sỏch thuế đối với hàng húa nhập khẩu của Tổng cục hải quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status