LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất tạo ra hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng nhưng mục đích của nhà sản xuất
không chỉ dừng lại ở đó mà điều quan trọng là thực hiện giá trị và giá trị sử dụng, tức
là phải bán được nhiều hàng hóa, khi đó nhà sản xuất mới thu được lợi nhuận. Do đó,
sau giai đoạn sản xuất hàng hóa được đưa vào lưu thông. Trong lĩnh vực lưu thông, các
đơn vị thương mại thực hiện chức năng lưu chuyển hàng hóa, tức là đưa hàng hóa từ
nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Quá trình tất yếu này làm phát sinh các khoản chi để
thực hiện hoạt động mua hàng, dự trữ, bảo quản và bán hàng. Những chi phí này không
tạo ra giá trị mới nhưng đó là những chi phí cần thiết để lưu chuyển hàng hóa, đảm bảo
cho quá trình lưu chuyển hàng được liên tục. Các khoản chi này sẽ được bù đắp bằng
doanh thu bán hàng.
Tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO- tổ chức thương mại
thế giới. Mỗi người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ những
thuận lợi và khó khăn để nắm bắt thời cơ và vượt qua thách thức. Để tồn tại và đứng
vững được trên thị trường thì đòi hỏi doanh nghiệp phải kinh doanh sao cho có hiệu
quả và phải có lãi. Nghiên cứu phân tích chi phí lưu thông sẽ giúp cho nhà quản lý đưa
ra được chiến lược kinh doanh nhằm giảm bớt chi phí lưu thông nâng cao hiệu quả
kinh doanh cho công ty mình. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại
Công ty cổ phần thương mại Hà Tây em đã chọn đề tài: “ Vận dụng một số phương
pháp thống kê phân tích chi phí lưu thông tại Công ty cổ phần thương mại Hà Tây giai
đoạn 2000-2007” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình.
Nội dung chính của chuyên đề là sử dụng một số phương pháp thống kê như phân tích
dãy số thời gian, chỉ số, hồi quy tương quan,… phân tích biến động qui mô, cơ cấu của
tổng mức chi phí lưu thông và tỷ suất chi phí lưu thông. Trên cơ sở phân tích sẽ giúp
cho nhà quản lý đưa ra được giải pháp giảm chi phí lưu thông cho công ty mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu chuyên đề của em gồm ba chương:
1
Chương I : Khái quát về Công ty cổ phần thương mại Hà Tây và chi phí lưu thông của
doanh nghiệp thương mại.
Chương II: Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp thống kê phân tích chi
phí lưu thông của doanh nghiệp thương mại.
22/8/2003 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tây.
Đăng ký kinh doanh số: 0303000111
Do phòng kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tây cấp.
Vốn điều lệ 2.000.000.000 đồng ( Hai tỷ Việt Nam Đồng).
Gồm 20.000 cổ phần, mệnh giá 100.000đ/cp.
Trong quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần thương mại Hà
Tây đã phát triển qua 6 giai đoạn.
Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1965.
3
Công ty cổ phần thương mại Hà Tây tiền thân là Công ty điện máy và chất đốt Hà
Tây thành lập 5/1960 theo quyết định số 1978/GPUB, đăng ký kinh doanh 0678090
ngày 20/5/1960 do sở Thương nghiệp tỉnh Hà Tây.
Đây là giai đoạn miền Bắc đi vào xây dựng xã hội, miền Nam tiếp tục chiến đấu
giành độc lập cho nước nhà. Trong giai đoạn này, do mới được thành lập và miền Bắc
mới được thống nhất. Cùng với cả miền Bắc sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa Công
ty điện máy và chất đốt Hà Tây được thành lập, với cơ sở máy móc lạc hậu, rệu rã sau
chiến tranh, nguyên liệu không đủ, cũng như các loại phụ liệu thiếu, ngoài ra còn thiếu
điện, thiếu dầu, thiếu than, sản lượng kinh doanh thấp, trình độ khoa học kỹ thuật và
thiết bị lạc hậu, trình độ chuyên môn yếu kém.
Giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975.
Tháng 7/1965 sau 5 năm đi vào hoạt động đã sát nhập với Công ty vật liệu kiến thiết
Sơn Tây thành công ty Vật liệu kiến thiết Hà Tây .
Giai đoạn này, Mỹ đổ bộ chiến tranh miền bắc lần 2, làm cho cả miền Bắc nói chung
lại lâm vào khó khăn về mọi mặt, một mặt vừa tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc, một mặt vừa chống Mỹ đổ bộ, mặt khác lại tiếp viện cho miền Nam tiếp tục
chiến đấu. Không nằm ngoài tình hình đó, Công ty vật liệu kiến thiết Hà Tây cũng
nhận được nhiệm vụ phục vụ nguyên nhiên vật liệu cho ngành xây dựng, nghành giao
thông, phục vụ đời sống cho nhân dân hậu chiến tranh. Trong giai đoạn này, tuy có sự
mở rộng quy mô kinh doanh của công ty nhưng cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng
của nền kinh tế xã hội tình hình kinh doanh của công ty cũng vẫn gặp rất nhiều khó
Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1991.
Tháng 11/1987 sở thương nghiệp giao cho công ty kinh doanh hàng kim khí,
điện máy và đổi tên công ty thành Công ty Vật liệu điện máy và chất đốt Hà Sơn
Bình.
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử
của Đảng và dân tộc, Đại hội khẳng định: “Đảng phải tự đổi mới - đổi mới tư duy,
đổi mới tác phong lãnh đạo, đổi mới tầm nhìn. Không còn cách nào khác, tư tương
5
“lấy dân làm gốc” chuyển nền kinh tế theo cơ cấu cũ sang kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước là sự lựa chọn có tính tất yếu”.
Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng đã tạo ra sự biến đổi sâu sắc nền kinh tế
của nước ta. Dưới sự quản lý của sở Thương nghiệp tạo điều kiện và cơ hội mới để
phát triển cho Công ty vật liệu điện máy và chất đốt nhưng cũng phải đối mặt với
những thách thức to lớn của cơ chế thị trường.
Đặc điểm nổi bật của tình hình kinh doanh của Công ty giai đoạn này là sự ra đời
của các bách hóa có tại các huyện, thị xã, và các xã. Giai đoạn này công ty kinh
doanh mặt hàng vật liệu điện máy và chất đốt. Nhưng nhìn chung thời kỳ này mặt
hàng kinh doanh của công ty vẫn còn lạc hậu, khoa học kỹ thuật còn kém, mặt hàng
chưa đa dạng, và có nhiều mặt hàng nhập lậu xâm nhập vào thị trường Việt
Nam.Hậu quả của tình hình trên đã gây khó khăn cho việc quản lý sản xuất và lưu
thông vật liệu điện máy và chất đốt, làm thất thu ngân sách Nhà nước.
Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2003.
Tháng 10/1991 tách Hà Sơn Bình thành 3 tỉnh do vậy tên gọi của công ty là
công ty vật liệu điện máy chất đốt Hà Tây.
Đây là giai đoạn phát triển hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước. Đồng thời đây cũng là giai đoạn phát triển công ty theo hướng hiện đại
hóa. Trong giai đoạn này công ty xem xét và giải quyết giải thể một số cửa hàng,
bách hóa trực thuộc công ty ở các địa phương làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ. Đồng
thời tổ chức cho cán bộ đi đào tạo, ưu tiên cho những cán bộ quản lý.
Sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) mà trọng tâm là
mua hàng hóa của một số nhà máy lớn và bán ra ngoài tỉnh như Hòa Bình, Thanh
Hóa…
• Nhiệm vụ của Công ty Cổ phần Thương Mại Hà Tây
Xây dựng và tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh theo qui chế hiện hành để
thực hiện các mục đích và nội dung hoạt động của công ty.
7
Đăng ký kinh doanh và kinh doanh theo đúng ngành nghề .
Nguồn vốn do các cổ đông đóng góp, nguồn vốn tự có, nguồn vốn vay , hoạt
động để đảm bảo sản xuất kinh doanh nội địa trên trận thủ chính sách chế độ và
pháp luật của nhà nuớc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế .
Có kế hoạch đòa tạo cán bộ công nhân viên nhằm không ngừng nâng cao trình
độ năng lực.
Thực hiện đầy đủ an toàn lao động giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
Quản lý chỉ đạo các đơn vị trực thuộc công ty kinh doanh có hiệu quả theo qui
chế hiện hành của nhà nước và bộ Thương Mại.
Công ty luôn tìm tòi nghiên cứu mở rộng thị trường kinh doanh từ địa bàn Hà
Đông- Hà Nội- Sài Gòn…và một số tỉnh lân cận khác. Đầu tư về chiều sâu mở rộng
kinh doanh lấy mặt hàng sắt thép làm mũi nhọn.
Công ty Cổ phần Thương Mại Hà Tây có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước
đúng và đầy đủ theo chế độ hiện hành.
Xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm phù hợp với nhu cầu thị trường.
Bảo toàn và phát triển nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty ngày càng
khang trang văn minh thương mại quốc doanh để Công ty thực hiện vai trò chủ đạo
của ngành thương mại.
3. Hình thức sở hữu của Công ty cổ phần thương mại Hà Tây.
Công ty tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, theo hình thức bán toàn
bộ số vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiện có cho người lao động, hiện nay số vốn
của Công ty được sở hữu là vốn cổ phần do người lao động nắm giữ.
Thuận lợi:
Công ty Cổ phần Thương Mại Hà Tây nằm trên địa bàn thị xã Hà Đông ngay
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty.
Hội đồng quản trị gồm 3 thành viên: Do cổ đông bầu ra, trong đó:
Ban giám đốc
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Phòng
tổ chức,
hành
chính
Phòng
kinh
doanh
Phòng
kế
toán
Trạm
bán
buôn
Cửa
hàng
bán lẻ
Quầy
Số
3
Quầy
Số
4
Quầy
Số
5
Ban Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các phòng ban của Công ty và cửa hàng, trạm.
Với tư cách pháp nhân của Công ty Cổ Phần Thương Mại Hà Tây đứng đầu là Chủ
Tịch Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm toàn bộ trước Ủy ban nhân dân Tỉnh Hà
Tây, Sở Thương Mại Hà Tây và tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty.
Phòng tổ chức: gồm 5 thành viên là 1 trưởng phòng , 1 phó phòng, 3 nhân viên.
Chức năng nhiệm vụ của phòng tổ chức là tham mưu cho giám đốc về tổ chức, sắp
xếp quản lý cán bộ và lao động, phụ trách các công việc hành chính như bảo vệ,
văn thư, quan tâm đến chính sách xã hội.
Quản lý cán bộ nhân viên, vị trí làm việc của từng người, quyền hạn và trách nhiệm
của họ với công ty. Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai việc thực hiện các văn
11
bản, gnhị định của nhà nước về quản lý cán bộ, xây dựng nội quy công ty, tổ chức
công tác bảo vệ an ninh trật tự nơi làm việc, chăm lo sức khỏe cho cán bộ nhân
viên.
Đồng thời nghiên cứu các biện pháp xây dựng các phương án nhămg hoàn
thiện việc trả lương, phân phối tiền thưởng hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng,
bố trí cán bộ, đề bạt. Chuẩn bị các thủ tục giải quyết chế độ cho người lao động như
thôi việc, BHXH, BHYT và các chế độ khác liên quan đến người lao động.
Phòng kinh doanh: gồm có 3 thành viên là trưởng phòng, phó phòng và một
nhân viên.
Chức năng của phòng kinh doanh là tham mưu cho giám đốc công ty chỉ đạo
hướng dẫn, thự hiện kinh doanh, mở rộng thị trường mặt hàng kinh doanh.
Nhiệm vụ của phòng kinh doanh là xây dựng chiến lược kinh doanh cho toàn
công ty đáp ứng yêu cầu hoạt động của công ty , giải quyết các thủ tục cần thiết cho
các nghiệp vụ mua hàng, bán hàng và tìm tòi nguồn hàng cũng như mối tiêu thụ
hàng. Nắm bắt kịp thời chính xác tình hình biến động của thị trường về giá cả mặt
hàng kinh doanh, nhắm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Phòng kế toán: thực hiện chức năng hạch toán kế toán, kiểm tra giám sát quá
trình kinh doanh của công ty, chấp hành đầy đủ quy định về công tác kế toán tài
chính, kế toán vốn, tài sản, các nghiệp vụ phát sinh trong ngày, trong kỳ kinh
công ty. Ngược lại, các phòng ban và các đơn vị trực thuộc có quan hệ hỗ trợ lẫn
nhau trong công tác kinh doanh. Việc điều hành, quản lý trực tiếp giúp người lãnh
đạo trực tiếp theo dõi, nắm bắt được việc thực hiện kinh doanh trong công ty để đưa
ra những biện pháp, phương hướng, đường lối giải quyết kịp thời, chính xác. Như
vậy, bộ máy tổ chức của công ty được gọn nhẹ. Do đó, hạn chế được những thủ tục
rườm rà không cần thiết, giúp cho việc kinh doanh và thực hiện các quyết định
được tiến hành nhanh chóng, chính xác và kịp thời.
5. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thương mại Hà Tây.
5.1. Quy trình sản xuất của công ty.
Công ty Cổ Phần Thương Mại Hà Tây là loại hình doanh nghiệp thương mại,
hàng hóa để để tiêu thụ không phải tự sản xuất ra mà chủ yếu là mua vào và bán ra
13
nên công tác tổ chức kinh doanh là quy trình luân chuyển hàng hóa và được thực
hiện dưới sơ đồ sau:
Ở khâu mua vào căn cứ vào nhu cầu thị trường, lập kế hoạch phong kinh doanh
tìm nguồn hàng và thực hiện quá trình mua hàng. Sau khi mua vào Công ty bán
theo hai hình thức:
+ Có thể bán buôn vận chuyển thẳng cho khách hàng không chấp nhận nhập kho.
+ Có thể mua về nhập kho rồi mới xuất hàng bán lẻ hoặc xuất bán buôn qua kho.
Trong khâu mua hàng: Công ty mua chủ yếu của các đơn vị sản xuất lớn, nên
đảm bảo được chất lượng hàng hóa, giá ổn định.
Đó là các doanh nghiệp: Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên, Công ty Cổ
phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông; Công ty Quang điện tử; Công ty
Blusecopc, công ty TNHH thép và vật tư SIMCO, công ty TM và Xây dựng Nam
Sơn
Khách hàng chủ yếu: Công ty CP Đầu tư Xây dựng Lũng Lô, Công ty CP Xây
dựng và Thương Mại Thanh Bình, công ty Cổ phần VINACONEX 2, công ty Cổ
phần Xây dựng HUD 1… và các khách lẻ.
5.2 Các loại dịch vụ, các loại sản phẩm và thị trường của Công ty Cổ Phần Thương
Mại Hà Tây.
ty Cổ Phần Thương Mại Hà Tây cho công cuộc đổi mới của nền kinh tế đất nước.
Đơn vị: VNĐ
STT CHỈ TIÊU NĂM 2004 NĂM 2005 NĂM 2006
1 Doanh thu thuần
46.372.316.035 48.752.374.626 49.227.668.579
2 Giá vốn hàng bán
1.968.726.310 47.206.492.024 47.568.752.678
3
Chi phí bán hàng + quản lý doanh
nghiệp
1.972.009.741 1.542.663.731 1.640.458.158
4 Lợi nhuận khác
8.698.926 3.662.774
5 Lợi nhuận trước thuế
4.523.570 11.917.797 22.120.517
6 Tỷ suất hiệu quả kinh doanh (%) 0.01 0.02 0.04
15
Từ bảng trên cho ta thấy một đồng doanh thu năm 2004 tăng từ 0.01% lên đến 0.02%
năm 2005, và tăng 0.04% năm 2006.
Ta thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng lên, đây có thể coi là một biểu hiện
tốt với một công ty kinh doanh thương mại. Vì nó phản ánh hiệu quả kinh doanh
của Công ty tương đối tốt.
II. Những vấn đề chung về chi phí lưu thông của doanh nghiệp thương mại.
1. Khái niệm về chi phí lưu thông của doanh nghiệp thương mại.
1.1. Khái niệm:
Trong lĩnh vực lưu thông, các đơn vị thương mại thực hiện chức năng lưu
chuyển hàng hóa, tức là đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Quá trình tất
yếu này làm phát sinh các khoản chi phí để thực hiện hoạt động mua hàng, dự trữ, bảo
quản và bán hàng. Những chi phí này không tạo ra giá trị mới nhưng đó là những chi
việc bảo tồn và di chuyển của hàng hóa. Ví dụ: Chi phí đóng gói, chi phí chuyên
chở, bảo quản hàng hóa…
Những chi phí này được tính thêm vào giá trị hàng hóa, vì lao động của công nhân
làm những việc này là lao động sản xuất, lao động của họ có tham gia ra giá trị và
giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
Xã hội nào có sự tồn tại và phát triển của thương nghiệp thì tất yếu có hai loại chi
phí trên. Việc phấn đấu làm cho chi phí lưu thông thuần túy ngày càng giảm và chi
phí lưu thông bổ sung ngày càng tăng trong tổng chi phí lưu thông bỏ ra có ý nghĩa
kinh tế đặc biệt to lớn.
Nếu nghiên cứu chi phí lưu thông dưới giác độ thống kê học, có hai cách
hiểu khác nhau về nội dung chi phí lưu thông.
Một là, chi phí lưu thông bao gồm chi phí mua vào, chi phí dự trữ, chi phí bán ra.
Chi phí này thường được sử dụng gắn liền với doanh thu. Chênh lệch giữa doanh số
bán ra với chi phí lưu thông theo cách hiểu này là lợi nhuận kinh doanh thương mại.
Hai là, Chi phí lưu thông chỉ bao gồm chi phí dự trữ và chi phí bán hàng. Chi phí
lưu thông theo cách hiểu này được dùng gắn liền với giá trị sản xuất thương mại,
tức là gắn liền với chiết khấu thương mại. Chênh lệch giữa chúng cũng là lợi nhuận
kinh doanh thương mại.
17
Chi phí lưu thông là chỉ tiêu thời kỳ. Do vậy, khi tổ chức điều tra chi phí lưu thông
phải xác định thời kỳ điều tra. Đặc điểm chỉ tiêu chi phí là yếu tố quyết định vấn đề
và phương pháp phân tích thống kê.
Chi phí lưu thông là chỉ tiêu tuyệt đối, có thể được tính theo giá so sánh hay giá
hiện hành.
Trong doanh nghiệp thương mại, các chi phí hoạt động kinh doanh có thể không
hoàn toàn giống với chi phí của một nhà sản xuất. Nhưng nói chung hầu hết các
hoạt động kinh doanh đều có các chi phí nguyên vật liệu, lao động, thuê mượn, vận
tải…Việc xác định rõ phạm vi tính chi phí lưu thông có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc tính đúng và tính đủ chi phí lưu thông và xác định kết quả kinh doanh của công
ty và tạo tiền đề cho việc quản lý tốt và có biện pháp làm giảm chi phí lưu thông.
trực tiếp phải dễ tính toán, đủ lớn để chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí
trực tiếp. Ta có hai loại chi phí trực tiếp là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và
chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là tổng số tiền mua nguyên vật liệu cấu thành
những sản phẩm hoặc dịch vụ, hoặc liên quan trực tiếp tới sản phẩm hoặc dịch
vụ đó. Để được coi là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì số lượng nguyên vật
liệu phải dễ tính toán, chi phí cho nguyên vật liệu đó phải đủ lớn để chiếm tỷ
trọng đáng kể trong tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí lao động trực tiếp: là số tiền mà doanh nghiệp phải trả dưới dạng tiền
công, tiền lương, tiền thưởng cho những công nhân trực tiếp tham gia vào quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp.
• Chi phí gián tiếp: Mọi công việc kinh doanh không chỉ có các chi phí trực
tiếp mà còn có các chi phí khác liên quan đến các hoạt động kinh doanh như chi phí
thuê nhà xưởng, điện, vận tải, giấy phép, sữa chữa, bảo trì, chi phí quản lý, chi phí
quảng cáo giới thiệu hàng, chi phí chi hoa hồng…Chi phí gián tiếp là tất cả các chi phí
khác ngoài chi phí trực tiếp đã trình bày ở trên mà doanh nghiệp cần có để tiến hành
hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí gián tiếp không liên quan trực tiếp đến một
sản phẩm hay dịch vụ nào đó cụ thể.
19
Nghiên cứu chi phí lưu thông theo khoản mục cho phép xác định hướng phấn đấu để
giảm chi phí lưu thông phù hợp.
Phân loại chi phí lưu thông theo mối quan hệ với qui mô kinh doanh.
Chi phí lưu thông phụ thuộc vào qui mô hàng hóa, đặc tính của hàng hóa và tốc
độ lưu chuyển hàng hóa. Nếu phân loại chi phí lưu thông theo mối quan hệ với qui mô
kinh doanh thì ta chia thành hai loại:
• Chi phí khả biến( biến phí – A) là những chi phí mà quy mô của nó phụ
thuộc vào quy mô kinh doanh. Ví dụ, chi phí bao bì, chi phí thù lao lao động,
chi phí vận chuyển bốc vác, chi phí nguyên vật liệu …
• Chi phí bất biến( chi phí – B) là những chi phí mà quy mô của nó không
hoặc ít phụ thuộc vào quy mô kinh doanh. Ví dụ: chi phí quản lý, chi phí
Nghiên cứu kết cấu chi phí theo tiêu thức nàu cho phép đánh giá mức độ chi phí ở
mỗi gia đoạn kinh doanh, phân bổ tổng chi phí cho hàng đã bán xong, và hàng tồn
kho cuối kỳ nghiên cứu. Chi phí hàng tồn kho cuối kỳ được kết chuyển vào chi phí
lưu thông kỳ sau.
3. Vai trò của chi phí lưu thông trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại.
Chi phí lưu thông là những khoản chi phí cần thiết để đưa hàng hóa từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu dùng. Vì vậy nếu không có chi phí lưu thông thì không thể nối liền sản
xuất và tiêu dùng, không thể hình thành mối liên hệ kinh tế giữa các vùng do đó dẫn
đến sản xuất đình trệ.
Việc xác định được chi phí lưu thông trong doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà quản lý
kinh doanh tốt hơn. Việc tính chi phí sẽ giúp cho nhà quản lý cải tiến hoạt động
kinh doanh như:
- Tính chi phí giúp doanh nghiệp định giá bán. Khi nắm được tổng chi phí, doanh
nghiệp sẽ định giá bán sao cho có lợi nhuận.
- Tính chi phí giúp doanh nghiệp kiểm soát và giảm các chi phí. Khi nắm được tất
cả các chi phí, doanh nghiệp sẽ đưa ra được các giải pháp tốt hơn, ít tốn kém
hơn cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ của mình.
- Tính chi phí giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong kinh
doanh. Khi nắm được tổng chi phí cho mỗi loại sản phẩm hay dịch vụ, bạn có
21
thể đưa ra quyết định sáng suốt hơn về việc tung ra thị trường loại sản phẩm hay
dịch vụ nào mang lại lợi nhuận cao nhất.
- Tính toán chi phí giúp doanh nghiệp lập kế hoạch kinh doanh cho tương lai. Khi
nắm vững được các loại chi phí, bạn có thể lập kinh doanh tốt. Ví dụ, bạn cần
nắm được tất cả các chi phí trước khi lập kế hoạch doanh thu và chi phí hay kế
hoạch lưu chuyển tiền mặt.
Như vậy, chi phí lưu thông góp phần làm tăng giá trị và giá trị sử dụng của hàng
hóa, góp phần nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động
xã hội.
Yếu tố chi phí Số tiền
23
1. Chi phí nguyên, vật liệu
2. Chi phí nhân công.
3. Chi phí khấu hao tài sản cố định
4. Chi phí dịch vụ mua ngoài
5. Chi phí bằng tiền khác
6. Chi phí vận chuyển, bốc dỡ.
Tổng cộng
Báo cáo kết quả kinh doanh
Năm …
Chỉ tiêu Quý trước Quý này Liên kết từ đầu năm
1. Doanh thu thuần
2. Doanh thu bán hàng
3. Giá vốn hàng bán
4. Lợi nhuận gộp
5. Doanh thu từ hoạt động tài chính
6. Chi phí bán hàng
7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
8. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
9. Thu nhập khác
10.Chi phí khác
11.Lợi nhuận khác
12.Tổng thu nhập trước thuế
13.Thuế thu nhập phải nộp
14.Lợi nhuận sau thuế.
Bảng kê chi tiết hàn mua vào, bán ra
Tháng… năm………….
24
Tên
đưa
vào
phí
1
2
3
4
5
6
Tổng
Qua các chỉ tiêu tổng hợp được về chi phí lưu thông tại doanh nghiệp cho ta nhận
xét như sau: nhìn chung là các chỉ tiêu về chi phí tại doanh nghiệp khá đầy đủ.
Nhưng bên cạnh đó, các dữ liệu rất phức tạp, khó tổng hợp.
Các chi phí phát sinh còn chưa thể hiện một cách chi tiết nhất.
Tuy tại công ty chi phí lưu thông, mức lưu chuyển hàng hóa có tổng hợp cho các
quầy hàng nhưng chưa cụ thể cho các mặt hàng, đây chính là hạn chế về mặt thống
kê chỉ tiêu chi phí lưu thông cho từng mặt hàng. Và các chỉ tiêu tính thường tính
theo giá hiện hành.
2. Nguyên tắc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê chi phí lưu thông.
Để xây dựng hệ thống chỉ tiêu đầy đủ, chính xác thì cần phải xây dựng hệ thống chỉ
tiêu theo các nguyên tắc sau:
• Đảm bảo tính hướng đích: Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cần đảm bảo
đáp ứng đúng nhu cầu, đối tượng, những thông tin cần thiết đảm bảo tính thiết
thực của hệ thống chỉ tiêu xây dựng nên. Nhiệm vụ phân tích nào thì sử dụng
25