TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC THUẾ PHẦN: THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT - Pdf 25

TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC THUẾ
PHẦN: THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
I. Nội dung bài giảng
Chương I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế Tiêu thụ đặc biệt
Chương II. Đối tượng chịu thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế Tiêu
thụ đặc biệt
Chương III. Thủ tục quản lý thuế Tiêu thụ đặc biệt.
Chương IV. Một số nội dung sửa đổi về thuế Tiêu thụ đặc biệt đến năm
2010
II. Yêu cầu đối với học viên
- Nắm vững những nội dung cơ bản về thuế TTĐB theo quy định hiện
hành như đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, phương
pháp tính thuế.
- Nắm bắt được định hướng hoàn thiện của thuế TTĐB nói riêng trong
thời gian tới.
- Vận dụng được Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt trong công tác quản lý thuế
hiện hành.
1
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA
THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1. Khái niệm
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ
biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu
dùng đặc biệt, Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt. Đối với Việt Nam, tiền thân của
thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951. Luật
Thuế TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990, ban đầu chỉ nhằm vào 6 mặt
hàng: thuốc lá, rượu, bia, pháo, bài lá và vàng mã. Kể từ khi ban hành đến nay,
Luật thuế TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung sửa đổi cho phù hợp với chính sách

hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập của
những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này.
Do đối tượng của Thuế TTĐB chỉ áp dụng với một số hàng hoá, dịch vụ
nên các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB cao để hướng dẫn sản
xuất, tiêu dùng qua đó cũng điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu
dùng các hàng hoá dịch vụ có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội.
- Thuế TTĐB chỉ thu ở khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu, cung ứng
hàng hoá dịch vụ. Khi hàng hoá và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì
không phải chịu thuế TTĐB.
- Cơ sở được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp đối với nguyên liệu đã nộp
thuế TTĐB nếu có chứng từ hợp pháp. Số thuế TTĐB được khấu trừ đối với
nguyên liệu tối đa không quá số TTĐB tương ứng với số nguyên liệu dùng sản
xuất ra hàng hoá đã tiêu thụ. Việc khấu trừ tiều thuế TTĐB được thực hiện cùng
với việc khai nộp thuế, xác định bằng công thức:
Số thuế TTĐB phải nộp= Số thuế TTĐB phải nộp của hàng xuất kho tiêu
thụ trong kỳ - Số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nguyên vật liệu mua vào tương ứng
với số hàng xuất kho tiêu thụ trong kỳ.
Đặc điểm này cho phép phân biệt thuế TTĐB với thuế GTGT. Thuế
GTGT được thu trên mỗi khâu sản xuất luân chuyển của hàng hoá, dịch vụ. Vì
vậy, việc quản lý thuế TTĐB đòi hỏi phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đảm bảo
hạn chế đến mức tối đa sự thất thu thuế TTĐB tại khâu sản xuất, cung ứng dịch
vụ hoặc nhập khẩu.
3. Vai trò của Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện
chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội. Để thực hiện mục
tiêu này, việc áp dụng thuế TTĐB nhằm hạn chế sản xuất, cung ứng một số hàng
hoá, dịch vụ mà việc sản xuất, tiêu dùng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường,
có hại cho sức khoẻ của người dân làm ảnh hưởng tới sự phát triển của quốc gia
3
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

Năm 2006
( TT)
Thuế
TTĐB
6.230 7.377 8.954 12.609 15.703 17.478
Tỷ trọng
%
6,29 6,41 6,39 7,31 7,71 7,17
Tổng số thu
từ thuế và
phí
99.048
115.10
1
140.038 172.497
203.80
7
243.466
(Nguồn: Ban Dự toán - Tổng Cục Thuế)
4. Mối liên hệ giữa thuế tiêu thụ đặc biệt và các sắc thuế khác.
Thuế nhập khẩu có mục đích bảo hộ, thuế TTĐB có mục đích điều tiết
đặc biệt, thuế GTGT có mục đích điều tiết phổ cập. Mỗi mục đích được một sắc
thuế đảm nhiệm, vì vậy chúng độc lập với nhau. Chúng có quan hệ với nhau
thông qua việc chuyển thuế thông qua việc chuyển thuế vào giá cả hàng hoá,
dịch vụ.
4
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì phải chịu thuế giá trị gia
tăng đối với số lượng hàng hóa, dịch vụ đã kê khai nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.
Chẳng hạn, cơ sở trực tiếp sản xuất khi bán ra những mặt hàng thuộc diện chiụ

a) Kinh doanh vũ trường, mát-xa (Massage), ka-ra-ô-kê (Karaoke);
b) Kinh doanh ca-si-nô (casino), trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot);
6
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
c) Kinh doanh giải trí có đặt cược;
d) Kinh doanh gôn (golf): bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;
đ) Kinh doanh xổ số.
Danh mục cụ thể về hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB nói trên được quy
định nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, điều tiết thu nhập của những người thu
nhập cao, phù hợp chủ trương, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và
Nhà nước trong từng thời kỳ. Khi áp dụng thuế TTĐB cần lưu ý một số hàng
hoá dịch vụ sau:
- Đối với thuốc lá điếu, xì gà: Đánh thuế TTĐB đối với tất cả các loại
thuốc lá có đầu lọc, không có đầu lọc, sản xuất bằng nguyên liệu trong nước,
nguyên liệu nhập khẩu.
- Rượu: Bao gồm tất cả các loại rượu ở các nồng độ khác nhau, kể cả
rượu thuốc được sản xuất từ các loại nguyên vật liệu khác nhau, kể cả rượu chế
biến từ hoa quả như rượu vang
- Bia: Bao gồm tất cả các loại bia, bia chai, bia hộp (bia lon), bia hơi, bia
tươi.
- Ôtô: Chỉ đánh thuế TTĐB đối với ôtô dưới 24 chỗ ngồi. Không đánh
thuế TTĐB đối với các loại xe chở người từ 24 chỗ ngồi trở lên; xe buýt, các
loại xe tải.
- Nhiên liệu: Chỉ đánh thuế TTĐB đối với xăng các loại và chế phẩm để
pha chế xăng. Không đánh thuế TTĐB đối với dầu hoả, diezel, khí đốt.
- Điều hoà nhiệt độ: Chỉ đánh thuế TTĐB có công suất từ 90.000 BTU
trở xuống, các loại điều hoà có công suất lớn không bị đánh thuế.
- Đối với dịch vụ kinh doanh giải trí có đặt cược: Chỉ đánh thuế TTĐB
đối với hoạt động cá cược; các hoạt động bán vé xem giải trí không bị đánh thuế
TTĐB.

loại thuế TTĐB đối với ôtô, như Malaysia đánh thuế theo trọng tải máy cao nhất
là 60% đối với xe hơi, Philippin đánh thuế 15% - 100% phụ thuộc vào trọng tải
máy, Trung Quốc đánh thuế từ 3% - 10%. Việt Nam đánh thuế TTĐB từ 15
-50% theo số lượng ngồi của xe.
+ Thuế TTĐB đối với nhiên liệu:
Các nước OECD đánh thuế TTĐB đối với nhiên liệu theo giá bán, giá
nhập khẩu chưa có thuế TTĐB, một số nước như Đài Loan, Malaysia, Philippin
đánh thuế TTĐB theo mức thu cố định trên đơn vị sản phẩm. Ở Thái Lan từ năm
1999 bãi bỏ thuế TTĐB đối với xăng dầu và khí hoá lỏng.
Xét trên khía cạnh điều tiết thu nhập từ thuế TTĐB đánh vào ôtô chủ yếu
điều tiết nhóm người thu nhập cao, song thuế TTĐB đối với nhiên liệu có phạm
vi ảnh hưởng rộng hơn, kể cả nhóm người có thu nhập thấp.
Việc đánh thuế TTĐB đối với xe ôtô và nhiên liệu cũng luôn tính đến
mục tiêu bảo vệ môi trường như vấn đề tắc đường, ô nhiễm khí thải.
- Thuế TTĐB đối với các hoạt động casino, hộp đêm, cá cược và bài lá:
xét trên khía cạnh khả năng mang lại thu nhập từ thuế TTĐB đối với hoạt động
này thì hiện nay các hoạt động này chưa nhiều bởi pháp luật Việt Nam còn công
8
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
nhận hạn chế các hoạt động trên. Tuy nhiên trong tương lại thì số thuế thu từ các
hoạt động trên là rất đáng kế. Hiện nay hầu hết các nước đều áp dụng thuế
TTĐB đối với hoạt động này. Ngoài ra các hoạt động này cũng có thể là đối
tượng chịu thuế TNCN đối với người thắng bạc hay thắng cá cược và thuế
TNDN đối với doanh nghiệp tham gia đánh bạc hay cá cược. Tuy nhiên việc
quản lý thuế TTĐB đối với các hoạt động này khá phức tạp trong việc xác định
đối tượng nộp thuế, cách tính thuế và quản lý sự tuân thủ của đối tượng nộp
thuế.
- Thuế TTĐB đối với các hàng hoá dịch vụ khác: Các hàng hoá dịch vụ
thuộc nhóm này ở các quốc gia rất khác nhau, song thông thường bao gồm một
số loại như Máy điều hoà không khí (kể cả máy điều hoà tổng và máy điều hoà

xuất khẩu cũng không là đối tượng chịu thuế. Tuy nhiên tất cả các trường hợp
này đều phải có hồ sơ chứng minh là hàng hoá không tiêu dùng tại Việt Nam.
(4)- Hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp sau:
+ Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại. Trong trường
hợp hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại thì bên viện trợ không chi
thêm khoản tiền thuế cho chính bên nhận viện trợ. Mà bên nhận viện trợ cũng
không có tiền để nộp tiền thuế vì khó khăn họ mới được nhận viện trợ. Nếu phải
nộp thuế có thể họ sẽ không nhận khoản viện trợ trên.
+ Quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho các cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. Quà tặng được xác định theo mức
quy định của Chính phủ hoặc của Bộ Tài chính.
+Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng tiêu chuẩn
miễn trừ ngoại giao do Chính phủ Việt Nam quy định phù hợp với các điều ước
quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
+ Hàng hoá mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế
nhập khẩu của cá nhân người Việt Nam và người nước ngoài khi xuất, nhập
cảnh qua cửa khẩu Việt Nam.
(5)- Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam theo
các hình thức:
+ Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước
nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam;
+ Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập
khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt
Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;
+ Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập
khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục
nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;
+ Hàng quá cảnh, mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam
trên cơ sở Hiệp định đã ký kết giữa hai Chính phủ hoặc ngành, địa phương được

doanh xuất khẩu về tên đơn vị mua hàng để xuất khẩu, số lượng và giá trị hàng
hóa cơ sở đã mua để xuất khẩu, đồng thời kiểm tra hồ sơ và xác nhận về số
lượng hàng xuất bán để xuất khẩu không phải chịu thuế TTĐB.
3. Đối tượng nộp thuế Tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB được áp dụng theo nguyên tắc điểm đến, tức là đánh vào
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB được tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ của
một quốc gia . Hàng hoá sản xuất tại một nước nếu xuất khẩu sẽ không phải chịu
thuế TTĐB tại nước xuất khẩu mà sẽ chịu thuế TTĐB tại nước nhập khẩu theo
quy định của nước nhập khẩu hàng hoá.
11
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Cũng theo nguyên tắc điểm đến thuế TTĐB được thiết lập không phân
biệt hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Không thể đánh thuế
TTĐB đối với mặt hàng nhập khẩu nào đó mà không đánh thuế TTĐB đối với
mặt hàng sản xuất trong nước cùng loại. Mặt khác, cũng không thể đánh thuế
đối với mặt hàng sản xuất trong nước mà không đánh vào mặt hàng cùng loại
nhập khẩu. Khi tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới, nguyên tắc không
phân biệt đối xử đòi hỏi phải áp dụng thuế TTĐB đối với hàng nhập khẩu và sản
xuất cùng loại theo cùng phương pháp đánh thuế và theo cùng mức thu về thuế
TTĐB.
Đối tượng nộp thuế TTĐB quy định hiện hành là tổ chức, cá nhân (gọi
chung là cơ sở) có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc
đối tượng chịu thuế TTĐB.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hoá, kinh doanh dịch vụ chịu thuế
TTĐB ( không bao gồm hàng hoá xuất khẩu) bao gồm:
+ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo
Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay gộp chung thành Luật
Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã;
+ Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự

nhân và tổ chức tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ (trừ một số ít trường hợp không
chịu thuế GTGT theo quy định của Nhà nước); phù hợp với vai trò của thuế
GTGT là điều tiết thu nhập của các cá nhân và tổ chức thông qua việc tiêu dùng
hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức đó.
+ Thuế TTĐB có vai trò chủ yếu là điều tiết tiêu dùng, điều tiết sản xuất
đối với một số hàng hoá, dịch vụ đặc biệt.
- Áp dụng thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế TTĐB nhằm đảm bảo
tính liên hoàn của thuế GTGT giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khấu trừ thuế GTGT đầu
vào khi mua hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB, khuyến khích sản xuất kinh
doanh.
II. Căn cứ và phương pháp tính thuế Tiêu thụ đặc biệt
Căn cứ để tính thuế TTĐB phải nộp là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ
chịu thuế TTĐB và thuế suất thuế TTĐB của hàng hóa, dịch vụ đó.
Thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x Thuế suất thuế TTĐB
1. Giá tính thuế TTĐB
Giá tính thuế TTĐB của hàng hoá dịch vụ được xác định như sau:
1.1. Đối với hàng sản xuất, gia công trong nước
*Hàng hoá sản xuất trong nước
Giá tính thuế TTĐB là giá bán của cơ sở sản xuất chưa có thuế GTGT và
chưa có thuế TTĐB, được xác định cụ thể như sau:
Giá bán chưa có thuế GTGT
13
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Giá tính thuế TTĐB =
1 + Thuế suất thuế TTĐB
Giá bán chưa có thuế GTGT được xác định theo quy định của Luật thuế
GTGT.
- Trường hợp cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế TTĐB bán hàng qua các
chi nhánh, cửa hàng, cơ sở phụ thuộc thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá

TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Giá tính thuế TTĐB = = 23.076.923đ
1 + 30%
1.4. Giá tính thuế TTĐB một số trường hợp đặc biệt
* Đối với hàng hoá:
- Đối với rượu, bia chai bán theo giá có cả vỏ chai thì giá tính thuế TTĐB
không trừ giá trị vỏ chai.
- Đối với bia hộp (bia lon), giá tính thuế TTĐB được xác định như sau:
Giá bán chưa có thuế GTGT - giá trị vỏ hộp
Giá tính thuế TTĐB =
1 + Thuế suất thuế TTĐB
Trong đó: Giá trị vỏ hộp được ấn định theo mức chung là 3.800đ/1 lít bia
hộp (tương ứng chi phí vỏ hộp bình quân cho một lít bia hộp).
Ví dụ: Đối với bia hộp: Giá bán của 1 lít bia hộp chưa có thuế GTGT là
16.000 đồng, giá trị vỏ hộp cho 1 lít bia được trừ là 3.800 đồng, thuế suất thuế
TTĐB của bia hộp là 75% thì:
16.000đ - 3.800 đ 12.200 đ
Giá tính thuế TTĐB 1 lít bia hộp = = = 6.971đ
1 + 75% 1,75
Việc trừ giá trị vỏ hộp theo mức 3.800đ/ lít bia hộp để tính giá tính thuế
TTĐB, được áp dụng cho cả trường hợp bia hộp nhập khẩu.
Ví dụ: Đối với bia hộp nhập khẩu: Giá tính thuế TTĐB được trừ giá trị vỏ
hộp theo mức ấn định 3.800 đồng/1 lít bia hộp.
Giá tính thuế TTĐB của 1 lít bia hộp nhập khẩu được tính như sau:
Giá tính thuế
TTĐB
=
Giá tính thuế
nhập khẩu
+

- Đối với kinh doanh gôn là doanh thu thực thu chưa có thuế GTGT về
bán thẻ hội viên, bán vé chơi gôn, bao gồm cả tiền phí chơi gôn do hội viên trả
và tiền ký quỹ (nếu có). Trường hợp khoản ký quỹ được trả lại người ký quỹ thì
cơ sở sẽ được hoàn lại số thuế đã nộp bằng cách khấu trừ vào số phải nộp của kỳ
tiếp theo, nếu không khấu trừ được thì cơ sở sẽ được hoàn thuế theo quy định.
Cơ sở kinh doanh gôn có kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ khác không
thuộc danh mục chịu thuế TTĐB thì các hàng hóa, dịch vụ đó không phải chịu
thuế TTĐB.
Ví dụ: Cơ sở kinh doanh gôn có tổ chức các hoạt động kinh doanh khách
sạn, ăn uống, bán hàng hóa, dịch vụ đưa đón thì các hàng hóa, dịch vụ này
không thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB.
- Đối với dịch vụ ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót là doanh số bán
chưa có thuế GTGT đã trừ trả thưởng tức là bằng số tiền thu được (chưa có thuế
GTGT) do đổi cho khách trước khi chơi tại quầy đổi tiền hoặc bàn chơi, máy
chơi trừ đi số tiền đổi trả lại cho khách.
16
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
- Đối với kinh doanh giải trí có đặt cược là doanh số bán vé số đặt cược
trừ số tiền trả thưởng cho khách thắng cuộc (giá chưa có thuế GTGT), không
bao gồm doanh số bán vé xem các trò giải trí có đặt cược.
- Đối với dịch vụ xổ số là giá vé số chưa có thuế GTGT.
- Giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB dùng để
khuyến mại, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng là giá tính thuế TTĐB của
hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt
động này.
Quy định này xuất phát từ bản chất của các nghiệp vụ kinh tế nói trên,
mặc dù không có nghiệp vụ thanh toán tiền hàng nhưng thực chất đó là những
hoạt động mua, bán, trong đó doanh nghiệp vừa là người bán hàng vừa là người
mua hàng, do vậy các hàng hoá và dịch vụ nói trên phải bị đánh thuế TTĐB.
Tuy nhiên, do không xác định được giá bán nên khi xác định giá tính thuế

0
(thuế
suất: 30%); bia hơi, bia tươi các loại (30%);
- Các thuế suất (10% - 20%) được áp dụng cho các mặt hàng được coi là
cần thiết đối với một số ngành sản xuất, cần thiết và là thói quen tiêu dùng của
người dân nhằm điều tiết thu nhập ở mức thấp hơn.
Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: xăng các loại, nap-ta, chế phẩm
tái hợp và các chế phẩm khác để pha chế xăng (10%); rượu thuốc, rượu nhẹ
dưới 20
0
kể cả rượu hoa quả (20%); ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ (15%) ; điều hoà
nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống (15%); kinh doanh sân gôn (10%);
kinh doanh xổ số (15%).
BIỂU THUẾ SUẤT THUẾ TTĐB
( Hiện hành năm 2007)
Stt Hàng hoá, dịch vụ
Thuế suất
(%)
I Hàng hoá
1. Thuốc lá điếu, xì gà
a) xì gà 65
b) Thuốc lá điếu
- Năm 2006-2007 55
- Năm 2008 65
2. Rượu
a) Rượu từ 40 độ trở lên 65
b) Rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ 30
c) Rượu dưới 20 độ, kể cả rượu chế biến từ hoa quả, rượu thuốc 20
3. Bia
a) Bia chai, bia hộp 75

dụng mức thuế suất trung gian 55% đối với thuốc lá điếu cho 2 năm 2006 –
2007, từ năm 2008 áp dụng thuế suất 65% chung mức thuế suất với xì gà.
- Đối với rượu: thuế suất thuế TTĐB được phân theo độ cồn theo nguyên
tắc thuế suất tỷ lệ thuận với độ cồn, được chia làm 3 mức độ:
+ Từ 40 độ trở lên
+ Từ 20 đến 40 độ
+ Dưới 20 độ
- Đối với bia hơi, bia tươi: Từ năm 2005 trở về trước: Bia tươi là 75%,
bia hơi 30%. Năm 2006-2007 bia tươi, bia hơi áp dụng thuế suất 40%, sang
năm 2008 bia tươi, bia hơi áp dụng thuế suất 30%,
- Đối với ôtô: Thuế suất được áp dụng cho ôtô có số lượng ghế khác nhau,
ôtô từ 5 chỗ ngồi trở xuống thường là ôtô riêng chịu thuế suất 50%; xe 6 chỗ
ngồi chở lên thưởng dùng cho mục đích thương mại, từ 6 – 15 chỗ ngồi áp dụng
thuế suất 30%; từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi áp dụng thuế suất 15%, ôtô từ 24 chỗ
ngồi trở lên không chịu thuế TTĐB.
Quy định trên có sự khác biệt lớn về thuế TTĐB giữa các loại xe và rất
khó xác định đối với các loại xe sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như xe
vừa chở người vừa chở hàng hoặc xe thay đổi công năng trong quá trình sử
dụng.
19
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Từ ngày 01/01/2006, Luật thuế sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế
TTĐB và Luật thuế Giá trị gia tăng đã có hiệu lực. Qua một năm thực hiện luật
bổ sung có tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh và số thu ngân sách đối
với các mặt hàng có số thu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu thuế TTĐB như
sau:
Cơ cấu thu thuế TTĐB năm 2006
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT Mặt hàng Năm
2005

thu thuế TTĐB năm 2005 (4792 tỷ đồng).
Đối với công tác quản lý thuế, việc áp dụng một mức thuế thống nhất
(năm 2006 là 55%), không phân biệt sử dụng nguyên liệu chủ yếu từ trong nước
hay nhập khẩu, không phân biệt thuốc lá có đầu lọc hay không đầu lọc, một mặt
đã khắc phục tình trạng phân biệt đối xử; mặt khác xoá bỏ được việc lợi dụng,
hạn chế một phần thiệt hại cho NSNN, từ đó góp phần làm cho chính sách thuế
và công tác quản lý thuế được rõ ràng, minh bạch hơn.
Ngoài ra việc áp dụng thống nhất một mức thuế suất và nâng dần theo lộ
trình 2 bước đã góp phần hạn chế tiêu dùng thuốc lá mặt hàng không có lợi cho
sức khoẻ, thể hiện đúng cam kết của Chính phủ Việt Nam với Tổ chức y tế thế
giới trong việc thực hiện Công ước khung về phòng chống và kiểm soát tác hại
thuốc lá.
Đối với ngành hàng bia, rượu.
* Tác động đến sản xuất kinh doanh
Kết quả khảo sát thị trường cho thấy mặc dù thuế suất TTĐB đối với bia
tươi được giảm từ 75% xuống 30% (bằng với bia hơi), đối với rượu mạnh trên
40 độ giảm từ 75% xuống 65%, song giá bán bia tươi và rượu vầ cơ bản là
không giảm.
Bia tươi và rượu mạnh từ 40 độ trở lên được điêù chỉnh giảm thuế suất
thuế TTĐB, nên nhìn chung sản lượng sản xuất và tiêu thụ đều tăng, không có
tác động nào bất lợi đến sản xuất, kinh doanh của toàn ngành.
* Tác động về thu ngân sách và các tác động khác
Thực tế cho thấy không có yếu tố nào phát sinh làm ảnh hưởng đến nộp
NSNN của ngành hàng bia rượu, việc điều chỉnh giảm thuế suất thuế TTĐB đối
với bia rượu và rượu mạnh đã thúc đẩy sản lượng tiêu thụ tăng lên, hơn nữa sản
lượng 2 mặt hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sản lượng toàn ngành nên về cơ
bản tình hình sản xuất kinh doanh của ngành bia rượu và nước giải khát trong
năm 2006 bảo đảm thực hiện tốt kế hoạch được giao và tăng trưởng khá so với
các năm trước.
21

Ô tô từ 16 đến
dưới 24 chỗ ngồi
1,5 7,5 12,5 15 (25)*
* Thuế suất thuế TTĐB đối với xe nhập khẩu trước năm 2006
Biểu trên cho thấy, từ năm 1999 đến nay thuế suất thuế TTĐB đối với ô tô
luôn có sự thay đổi, theo hướng tăng lên, đặc biệt trong năm 2004, 2005, 2006.
Đây là yêu cầu của hội nhập - xoá bỏ ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất
ô tô trong nước.
Theo dõi qua các năm cho thấy, sự tác động của chính sách thuế đến sản
xuất ô tô trong từng gia đoạn có xu hướng khác nhau:
- Trong giai đoạn 2001 - 2005: mặc dù thuế suất tăng nhưng sản lượng ô
tô sản xuất trong nước tiêu thụ tăng khá nhanh: từ khoảng 19.300 chiếc năm
2001 tăng lên 140.922 chiếc vào năm 2005. Việc áp dụng lộ trình ưu đãi thuế
TTĐB đối với ô tô sản xuất trong nước so với ô tô nhập khẩu trong giai đoạn
trước năm 2006 đã góp phần thúc đẩy quá trình nội địa hoá, tạo điều kiện cho
22
TỔNG CỤC THUẾ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
doanh nghiệp có thời gian để xắp xếp tổ chức sản xuất có hiệu quả, để chuẩn bị
cho hội nhập quốc tế. Trong hai năm 2003 và 2004, mỗi năm có trên 40.000
chiếc xe ô tô được sản xuất và tiêu thụ, trong đó khoảng gần 90% thuộc diện
chịu thuế TTĐB.
- Năm 2006, thực hiện thuế suất thuế TTĐB mới (50%, 30%, 15%), sản
lượng tiêu thụ ô tô sản xuất trong nước trong những tháng đầu năm giảm so với
cùng kỳ năm 2005. Sự giảm sút tiêu thụ ô tô trong những tháng đầu năm 2006
có thể một phần do tác động của việc điều chỉnh thuế suất thuế TTĐB, tuy nhiên
qua khảo sát thị trường cho thấy chính sách nhập khẩu xe cũ cũng ảnh hưởng
mạnh đến kết quả bán hàng của 11 liên doanh ô tô. Mặc dù bắt đầu từ ngày
01/5/2006 xe ô tô cũ mới chính thức được nhập khẩu, nhưng thị trường tiêu thụ
của các liên doanh dường như “đóng băng” ngay từ tháng 01/2006 (thời điểm
Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính Phủ có liên quan đến việc nhập khẩu

mới, nhập về 1.603 chiếc (cả năm 2005 là 1.105 chiếc). Tuy nhiên các loại xe
trên 12 chỗ lại giảm: Loại mới, nhập trong 11 tháng 2006 là 313 chiếc (năm
2005 là 732 chiếc), loại cũ trong 11 tháng 2006 là 88 chiếc (năm 2005 là 250
chiếc). Qua số liệu nhập khẩu ô tô cho thấy có sự thay đổi về cơ cấu nhập khẩu,
xu hướng tăng nhập loại xe dưới 12 chỗ ngồi, song chưa tăng nhiều, do đó
không có sự thay đổi nhiều về số thu ngân sách.
Trên đây là kết quả một năm thực hiện Luật thuế sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế Giá trị gia tăng. Từ đó, đã đặt ra một số
vấn đề đối với các ngành hàng trong quá trình hội nhập.
3. Phương pháp tính thuế Tiêu thụ đặc biệt.
Hiện nay, theo thông lệ chung các nước đang áp dụng các phương pháp
tính thuế TTĐB phổ biến như sau:
- Phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tuyệt đối. Theo phương
pháp này số thuế TTĐB được quy định bằng mức thu cụ thể trên một đơn vị tính
theo quy định. Ví dụ, Anh đánh thuế TTĐB 80 pences cho một lít xăng,
Malaysia đánh thuế 58 ringit/ 1 kg thuốc lá điếu; 48 ringit/dexilit bia, Hàn Quốc
đánh thuế TTĐB đối với casino 35.000 Won/ người, 559 Won/ 1 lít xăng,
255Won/ 1 lít dầu diezel. Cơ sở cho việc tính thuế theo phương pháp này là
nhằm mục tiêu hạn chế tiêu dùng hàng hoá dịch vụ không có lợi cho sức khoẻ,
môi trường hoặc ảnh hưởng đến phong tục tập quán Phương pháp này tương
đối đơn giản và thuận tiện cho công tác quản lý và đảm bảo số thu về thuế
TTĐB luôn được ổn định song tác dụng phân phối và điều tiết thu nhập bị hạn
chế.
Để đảm bảo cả hai mục tiêu hướng dẫn tiêu dùng và điều tiết thu nhập
một số nước có sự điều chỉnh phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tuyệt
đối kết hợp chất lượng hàng hoá dịch vụ theo nguyên tắc hàng hoá có chất lượng
cao giá bán cao thì mức thu tuyệt đối cũng cao hơn. Ví dụ, Philippin đánh thuế
TTĐB từ 5- 300 peso/ 1 lít bia tuỳ thuộc vào chất lượng bia, Singapore đánh
thuế từ 1,40 đến 90 Đôla Singapore cho 1kg đối với sản phẩm đồ uống có cồn.
- Phương pháp tính thuế TTĐB theo mức thu tương đối: theo phương

tiêu thụ trong kỳ
-
Số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nguyên
liệu mua vào tương ứng với số hàng
hoá xuất kho tiêu thụ trong kỳ.
Ví dụ: Doanh nghiệp A trong kỳ tính thuế có số liệu như sau:
Doanh nghiệp sản xuất mặt hàng rượu đóng chai, số thuế TTĐB của
nguyên liệu đầu vào là 50.000.000 đồng. Với số nguyên liệu trên doanh nghiệp
sản xuất được 10.000 chai rượu, trong kỳ tiêu thụ được 7.000 chai rượu. Doanh
nghiệp tập hợp số thuế TTĐB của hàng hoá xuất kho (căn cứ trên hoá đơn) trong
kỳ là 45.000.000 đồng.
- Số thuế TTĐB trong kỳ được khấu trừ
= (7000/10.000) x 50.000.000= 35.000.0000 đồng.
- Số thuế TTĐB doanh nghiệp phải nộp trong kỳ:
= 45.000.000đ - 35.000.000 đ= 10.000.000 đồng.
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status